1
Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
1. Sự cần thiết của đề tài
Tín dụng ngân hàng là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các ngân
hàng thương mại đặc biệt là các NHTM của nước ta từ trước đến nay. Tuy nhiên,
hoạt động tín dụng luôn gắn liền với rủi ro. Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với ngân
hàng thường rất nặng nề: làm tăng thêm chi phí của ngân hàng, thu nhập lại giảm
hoặc mất đi cùng với thất thoát vốn vay, làm tình hình tài chính xấu đi và ảnh
hưởng đến uy tín và vị thế của ngân hàng. Rủi ro tín dụng không chỉ ảnh hưởng xấu
đến kết quả kinh doanh của một ngân hàng mà còn có thể mang tính hệ thống và
ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường tiền tệ ngân hàng cũng như toàn bộ nền kinh tế.
Chính vì vậy việc kiểm soát rủi ro trong hoạt động tín dụng là một nhiệm vụ hết sức
quan trọng trong hoạt động của các NHTM.
Những năm gần đây, doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam nói chung và tại
Đà Nẵng nói riêng phát triển năng động, mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng,
đóng góp lớn cho nền kinh tế. Nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ
nguồn vốn để mở rộng sản xuất và thực hiện tốt các chiến lược kinh doanh nên nhu
cầu về vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa là rất lớn. Vì vậy, cho vay doanh nghiệp
nhỏ và vừa thường chiếm tỷ lệ lớn trong cho vay tại hầu hết các ngân hàng. Việc
kiểm soát rủi ro cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ giúp cho ngân hàng
đảm bảo phạm vi rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay chấp nhận được, hỗ trợ
việc phân bổ vốn hiệu quả hơn trong hoạt động cho vay, giảm thiểu các thiệt hại
phát sinh từ rủi ro tín dụng và tăng thêm lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng. Một
ngân hàng hoạt động kinh doanh hiệu quả, có năng lực tài chính mạnh và kiểm soát
rủi ro trong giới hạn cho phép sẽ tạo được niềm tin ở khách hàng, nâng cao được vị
thế và uy tín đối với các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng trong và ngoài nước. Đây
là điều vô cùng quan trong giúp ngân hàng đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát
triển một cách bền vững.
2
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO CHO
VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1 Ngân hàng thương mại với hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1 Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 khoản 1 và khoản 12
Điều 4 đã xác định "tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất
cả các hoạt động ngân hàng, tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng
phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.
Trong đó, ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng có thể được
thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng: nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp
tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản, và các hoạt động kinh doanh
khác.
1.1.1.2 Tín dụng ngân hàng
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị có
thể biểu hiện bằng tiền hoặc bằng hiện vật từ chủ thể này sang chủ thể khác với điều
kiện phải hoàn trả theo những thỏa thuận trước giữa hai bên. Nội dung chính của sự
thỏa thuận đó là: thời hạn phải trả, số tiền lãi phải trả, cách thức phải trả.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổ
chức tín dụng với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh
nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước. Trong mối quan hệ này, ngân
hàng vừa đóng vai trò trung gian, vừa là người cho vay, vừa là người đi vay.
1.1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và
vừa
1.1.2.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa
a. Khái niệm
Theo Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy
định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn
vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến 300
người
II. Công
nghiệp và xây
dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến 300
người
III. Thương
mại và dịch vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồng
cho các mặt hàng của DNNVV khó tiêu thụ trên thị trường.
- Năng lực quản lý còn thấp: Đây là loại hình kinh tế mà trình độ, kỹ năng của
nhà lãnh đạo doanh nghiệp cũng như của người lao động còn hạn chế. Số lượng
DNNVV có chủ doanh nghiệp, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực
quản lý tốt chưa nhiều. Mặt khác, DNNVV ít có khả năng thu hút được những nhà
quản lý và lao động có trình độ, tay nghề cao do khó có thể trả lương cao và có các
chính sách đãi ngộ hấp dẫn để thu hút và giữ chân những nhà quản lý cũng như
những người lao động giỏi.
1.1.2.2 Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
-Cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là việc ngân hàng thương mại chấp
nhận cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay một khoản tiền trong một thời hạn nhất định
và doanh nghiệp phải trả đúng thời hạn số tiền gốc và lãi cho ngân hàng đúng như
cam kết trong hợp đồng.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa vay NHTM để đáp ứng nhu cầu vốn:
Nhu cầu vốn ngắn hạn
+Các nhu cầu này xuất phát từ sự chênh lệch của lưu chuyển tiền tệ của các
DNNVV, tức là lưu chuyển tiền vào và ra thường không ăn khớp về mặt thời gian
và quy mô, đòi hỏi phải có nguồn ngân quỹ để đáp ứng nguồn chênh lệch đó
+Mua nguyên vật liệu, hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu tăng nhanh doanh số
bán có tính thời vụ, từ đó đáp ứng nhu cầu tăng trưởng doanh số bán có tính dài
hạn, đáp ứng nhu cầu cho các giao dịch thương mại đơn lẻ
+Trả lương cho công nhân viên
+Nhu cầu thay thế nợ để thực hiện việc trả nợ. Việc trả nợ có thể lấy từ các
nguồn như thu nợ người mua, thanh lý tài sản, tăng vốn chủ sở hữu, tăng mua chịu.
Nếu các nguồn này không thỏa mãn được sẽ xuất hiện nhu cầu vay từ phía ngân
hàng
+Thanh toán các chi phí dịch vụ khác
Nhu cầu vốn trung dài hạn
6
Chuyên đề tốt nghiệp
7
Chuyên đề tốt nghiệp
-Rủi ro cho vay DNNVV có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu
hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân doanh nghiệp nhỏ và vừa (hoạt động
dưới mọi hình thức ở hầu hết tất cả các lĩnh vực, thành phần kinh tế). Do đó khi
phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho vay phải chú ý đến mọi dấu hiệu, xuất phát từ
nguyên nhân bản chất và hậu quả do rủi ro cho vay đem lại để có biện pháp phòng
ngừa phù hợp.
1.2.3 Nguyên nhân gây ra rủi ro cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng
thương mại
1.2.3.1 Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài
Đây là những nguyên nhân gây nên rủi ro ở hoạt động kinh doanh của ngân
hàng cho vay không xuất phát từ cán bộ cho vay hay ý thức trả nợ của khách hàng
mà do môi trường bên ngoài tác động vào. Nguyên nhân này xuất hiện đột ngột, khó
đoán, khó kiểm soát, nó thường gây ra những thiệt hại lớn cho khách hàng và ngân
hàng cho vay. Bao gồm các nguyên nhân cụ thể sau:
Do sự thay đổi chính sách của chính phủ
Nước ta đang trong nền kinh tế thị trường, do đó phải tuân thủ và chấp nhận
sự biến động theo quy luật của nền kinh tế thị trường. Mỗi khi nền kinh tế biến
động lên, xuống thì lập tức chính phủ phải đưa ra các chính sách kinh tế mới phù hợp
với điều kiện hiện hành nhằm hạn chế ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế đất nước. Các
chính sách của chính phủ thường xuyên quan tâm và có sự thay đổi kịp thời như: chính
sách tài chính, chính sách tiền tệ
Nguyên nhân từ phía môi trường pháp lý
Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại liên quan đến nhiều lĩnh
vực của nền kinh tế, mang tính xã hội cao, khi hệ thống pháp luật ổn định và lành
mạnh thì môi trường kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ có nhiều thuận lợi.
Ngược lại nếu môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều khe hở thì rất dễ bị lợi
dụng gây ra tình trạng tham ô, chiếm đoạt tài sản… Kinh tế xã hội kém ổn định dẫn
đến kinh doanh gập nhiều khó khăn, ngân hàng cho vay gặp rủi ro.
phải không những có trình độ mà còn phải có đạo đức tốt. Trước sự cám dỗ của vật
chất, nhiều cán bộ cho vay đã sa ngã, có thể hành động vô nguyên tắc, vô tổ chức,
9
Chuyên đề tốt nghiệp
làm trái quy định, móc ngoặc với khách hàng, gây tổn thất to lớn với ngân hàng cho
vay.
- Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không
đầy đủ dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp lý
- Định giá tài sản không chính xác hay không giám sát chặt chẽ tài sản đảm
bảo; không thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết; hoặc không đảm bảo các
nguyên tắc của tài sản đảm bảo là: dễ định giá; dễ chuyển nhượng quyền sở hữu; dễ
tiêu thụ.
1.2.3.3 Nguyên nhân từ phía khách hàng
-Trong nền kinh tế hiện nay, khách hàng đi vay thường gặp rủi ro sau:
+Thiệt hại từ phía thị trường đầu vào: Giá cả của các yếu tố đầu vào tăng
cùng với các chi phí phục vụ cho sản xuất tăng làm giảm đi nguồn dự thu dự tính
của khách hàng, như vậy việc trả nợ cho các ngân hàng cho vay sẽ gặp nhiều khó
khăn.
+Do thị trường đầu ra: Thị trường đầu ra nếu có biến động phức tạp, giá cả
giảm thấp cũng làm nguồn thu của khách hàng không đảm bảo. Ngoài ra, sự thay
đổi thị hiếu tiêu dùng, cung vượt quá cầu, hoạt động maketing yếu kém… cũng gây
nên tình trạng ứ đọng sản phẩm làm ảnh hưởng tới nguồn trả nợ cho các ngân hàng
cho vay.
+Rủi ro về khả năng tài chính của khách hàng: Nguồn vốn tự có hay thu
nhập của khách hàng thấp, khách hàng sẽ không có khả năng tự vực dậy khi gặp
khó khăn vì vậy cũng sẽ mất khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng cho vay.
+Chủ doanh nghiệp vay vốn thiếu năng lực điều hành quản lý vốn không hợp
lý dẫn đến thiếu thanh khoản, hay sử dụng vốn vay sai mục đích, kém hiệu quả.
-Ngoài những nguyên nhân trên còn phải kể đến ý thức trả nợ của bên đi vay
nhiều khi chưa tốt, nhiều đối tượng khách hàng sau khi nhận được tiền vay rồi bỏ
cho vay
Rủi ro
cho vay
Rủi ro
giao dịch
Rủi ro
giao dịch
Rủi ro
danh mục
Rủi ro
danh mục
Rủi ro
nội tại
Rủi ro
nội tại
Rủi ro
tập trung
Rủi ro
tập trung
Rủi ro
bảo đảm
Rủi ro
bảo đảm
Rủi ro
nghiệp vụ
Rủi ro
nghiệp vụ
Rủi ro
lựa chọn
Rủi ro
-Hậu quả của sự phá sản ngân hàng không chỉ riêng bản thân ngân hàng phải
gánh chịu mà nó còn liên quan đến các tổ chức tín dụng khác có quan hệ với ngân
hàng. Điều này sẽ tạo ra một phản ứng dây chuyền gây ra sự phá sản hàng loạt của
các ngân hàng khác ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế.
12
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3 Kiểm soát rủi ro cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.3.1 Khái niệm, mục tiêu của kiểm soát rủi ro cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.3.1.1 Khái niệm kiểm soát rủi ro cho
Kiểm soát rủi ro vốn dĩ là một công đoạn của quá trình quản trị rủi ro tại
NHTM. Vì vậy, trước tiên, đề tài xin đề cập đến khái niệm quản trị rủi ro tại NHTM:
Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có
hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát, và tối thiểu hóa những tác động bất
lợi của rủi ro. Quá trình quản trị rủi ro bao gồm các công đoạn: nhận dạng rủi ro,
đánh giá rủi ro, kiểm soát rủi ro, tài trợ rủi ro.
Trong đó, kiểm soát rủi ro là việc ngân hàng thương mại thực hiện các biện
pháp như né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu, chuyển giao, nhằm phòng ngừa rủi ro
trước và sau khi cho vay, khắc phục tổn thất do rủi ro gây ra khi nó xuất hiện.
1.3.1.2 Mục tiêu kiểm soát rủi ro cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa
-Kiểm soát rủi ro cho vay giúp ngân hàng nhận biết một cách kịp thời bất cứ
rủi ro nào của các khoản cho vay để có thể có các hành động ngăn chặn từ đó bảo
vệ lợi ích của ngân hàng. Trước khi chấp thuận cho vay, ngân hàng đã đánh giá,
sàng lọc và chấp nhận mức rủi ro nhất định của khoản cho vay. Tuy nhiên, người
vay có động cơ mạo hiểm hơn sau khi đã vay được tiền. Sự khác nhau giữa vốn chủ
sở hữu và vốn vay đã thúc đẩy động cơ này. Do đó, khách hàng thực hiện những
phương án kinh doanh rủi ro hơn ban đầu.
-Rủi ro xảy ra là một điều không thể tránh khỏi, ngân hàng thực hiện kiểm
soát rủi ro cũng sẽ giúp cho ngân hàng nhận biết được rủi ro nào xảy ra và chuẩn bị
những phương pháp để khắc phục thiệt hại do rủi ro này gây ra.
1.3.2 Nội dung, phương pháp kiểm soát rủi ro cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa
mà doanh nghiệp hoạt động, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Ngoài ra, khả năng trả nợ của khách hàng phụ thuộc vào các yếu tố như kỹ
năng, kinh nghiệm lãnh đạo, tư cách đạo đức, uy tín đội ngũ lãnh đạo, đội ngũ lãnh
đạo kế nhiệm, vị trí của doanh nghiệp và mối quan hệ của doanh nghiệp với các
doanh nghiệp khác. Do vậy, cần giám sát chặt chẽ cả những yếu tố này thông qua
nhiều nội dung.
Về tình hình tài chính của khách hàng, cần lưu ý đến các nội dung sau:
Doanh thu dự kiến
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Tình hình lợi nhuận của doanh nghiệp
Tình trạng vốn lưu động của doanh nghiệp
Tình hình các khoản phải thu thương mại
Vòng quay hàng tồn kho là nhanh hay chậm
Tình hình các khoản phải trả
Vốn tự có của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai có gì biến động
không?
Dòng tiền ròng sau khi chia cổ tức trong quá khứ
Khả năng thanh toán nợ trong tương lại của doanh nghiệp
- Tài sản đảm bảo
Tài sản bảo đảm là công cụ hạn chế rủi ro quan trọng đối với ngân hàng. Tài
sản bảo đảm vừa làm tăng tính trách nhiệm của người vay vừa là biện pháp cuối
cùng làm giảm bớt tổn thất cho ngân hàng khi khách hàng gặp rủi ro. Với vai trò
quan trọng như vậy, ngân hàng cần kiểm soát tài sản đảm bảo. Một lý do khác cần
phải kiểm soát tài sản đảm bảo là vì mặc dù tài sản đảm bảo thường được đánh giá
trước khi cho vay những trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, giá trị tài sản
có nhiều thay đổi như bị hao mòn dần, bị thay đổi tính chất lý hóa, bị giảm giá trị do
trị trường
Việc kiểm soát giúp ngân hàng cập nhật hiện trạng tài sản bảo đảm, ngăn chặn
hành vi sử dụng lãng phí tài sản bảo đảm, để tài sản bảo đảm hư hỏng, thất thoát,
Có 4 biện pháp kiểm soát rủi ro: né tránh hay từ bỏ rủi ro, giảm thiểu rủi ro,
ngăn ngừa, chuyển giao
- Từ bỏ hay né tránh rủi ro
Kiểm soát rủi ro bằng việc né tránh rủi ro là cách đơn giản nhất, là né tránh
những khoản cho vay có rủi ro cao làm phát sinh tổn thất có thể có bởi không thừa
nhận nó ngay từ đầu hoặc loại bỏ nguyên nhân dẫn tới rủi ro đã được xác định.
Ưu điểm: là giải pháp khá đơn giản, triệt để và chi phí thấp, không phải chịu
những tổn thất tiềm ẩn mà rủi ro có thể gây ra
Nhược điểm:
16
Chuyên đề tốt nghiệp
Những khoản cho vay có lợi ích cao thì rủi ro cũng cao vì vậy nếu né tránh rủi
ro cũng có thể mất đi lợi ích có được từ những khoản cho vay này.
Rủi ro tồn tại trong mọi hoạt động của con người và tổ chức, vì vậy tránh rủi
ro này thì không hẳn sẽ tránh được rủi ro khác.
Trong nhiều trường hợp không thể đặt ra giải pháp né tránh, hoặc nguyên nhân
của rủi ro gắn chặt với bản chất hoạt động do vậy không thể chỉ loại bỏ nguyên
nhân mà không loại bỏ hoạt động.
- Giảm thiểu rủi ro
Các biện pháp giảm thiểu rủi ro tác động vào các rủi ro bằng cách làm giảm
bớt giá trị tổn thất khi rủi ro xảy ra (giảm nhẹ sự nghiêm trọng của rủi ro). Mặc dù
biện pháp này được đặt ra trước khi một rủi ro xuất hiện nhưng những chức năng và
mục đích của những biện pháp này là làm giảm tác động của rủi ro một cách hiệu
quả nhất những sau khi rủi ro đã xảy ra.
- Ngăn ngừa rủi ro
Ngăn ngừa tổn thất là thực hiện các biện pháp ngăn ngừa các yếu tố có khả
năng gây ra rủi ro.
Ngăn ngừa tổn thất không ảnh hưởng đến quá trình NHTM thực hiện các
khoản cho vay có rủi ro, nó chỉ tác động đến rủi ro và chỉ hạn chế được một phần
rủi ro khi rủi ro xảy ra.
chức tín dụng đã đặt ra.
Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ là một phần không tách rời của các hoạt
động hàng ngày của tổ chức tín dụng. Cơ chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ được thiết
kế, cài đặt, tổ chức thực hiện ngay trong mọi quy trình nghiệp vụ, tại tất cả các đơn
vị, bộ phận của tổ chức tín dụng dưới nhiều hình thức như:
Cơ chế phân cấp ủy quyền rõ ràng, minh bạch; đảm bảo tách bạch nhiệm vụ,
quyền hạn của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức tín dụng.
Cơ chế kiểm tra chéo giữa các cá nhân, các bộ phận cùng tham gia một quy
trình nghiệp vụ.
Quy định về hạn mức rủi ro cụ thể đối với từng cá nhân, bộ phận trong việc
thực hiện các giao dịch.
Quy trình và cơ chế thẩm định, kiểm tra, chấp thuận và duyệt cho phép thực
hiện các giao dịch; đảm bảo một quy trình nghiệp vụ phải có ít nhất 2 cán bộ tham
18
Chuyên đề tốt nghiệp
gia, không có cá nhân nào có thể một mình tiến hành thực hiện và quyết định một
quy trình nghiệp vụ, một giao dịch cụ thể, ngoại trừ những giao dịch trong hạn mức
được tổ chức tín dụng cho phép phù hợp với quy định của pháp luật.
c. Dự phòng rủi ro
- Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất
có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo
cam kết. Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt
động của tổ chức tín dụng. Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng cụ thể và dự phòng
chung.
- Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các
khoản nợ quy định tại Điều 6, Điều 7 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN hoặc Điều 4
thông tư 15/2010/TT-NHNN để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra. Tỷ lệ
dự phòng đối với các nhóm nợ:
Bảng 2: Tỷ lệ dự phòng đối với các nhóm nợ
Nhóm nợ Quyết định 493/2005/QĐ Thông tư 15/2010/TT
- Người mua nợ có thể là một trong các chủ thể sau: các ngân hàng nước
ngoài, công ty bảo hiểm, quỹ trợ cấp hưu trí, các công ty, các quỹ đầu tư
-Thị trường bán nợ sở dĩ phát triển vì cả người mua nợ và người bán nợ đều
tìm thấy động lực lợi ích từ giao dịch này. Đối với người bán nợ, việc bán nợ xuất
phát từ những lý do sau:
+Cơ cấu lại danh mục đầu tư, giữ những tài sản có thể tái định giá khi lãi
suất tăng
+Yêu cầu về dự trữ bắt buộc: việc bán nợ có thể tạo thêm dòng tiền những
không phải tăng dự trữ bắt buộc như trong huy động tiền gửi
+Thu nhập: thu phí và có dòng thu nhập ngay, giảm tỉ lệ tài sản trên nguồn
vốn, giảm rủi ro thanh khoản
-Về phía người mua, lý do dẫn đến việc mua nợ có thể là:
+Đa dạng hóa danh mục cho vay
+Tìm kiếm chỗ đứng trên thị trường mới (đặc biệt là các doanh nghiệp nước
ngoài)
+Đầu tư mạo hiểm vào các khoản nợ có vấn đề, kỳ vọng thu được khoản lợi
nhuận cao
- Hoạt động bán nợ thể hiện qua các phương thức sau:
+Phương thức bán nợ tham gia: Người mua phải gánh chịu rủi ro từ cả ngân
hàng cho vay và người vay, không tác động được vào các điều khoản của hợp đồng
+Phương thức chuyển nhượng nợ: Người mua có quyền sở hữu đối với
khoản cho vay
+Phương thức bán nợ từng phần: Chia khoản nợ dài hạn thành các khoản nợ
ngắn hạn
20
Chuyên đề tốt nghiệp
f. Sử dụng các công cụ phái sinh
Hợp đồng hoán đổi tín dụng
Một trong những hình thức điển hình nhất của các công cụ tín dụng phái sinh
là hợp đồng hoán đổi tín dụng. Là việc hai tổ chức tín dụng thỏa thuận trao đổi cho
Chuyên đề tốt nghiệp
+Tổ chức được ủy thác: tổ chức này đảm nhiệm các chức năng: giám sát, bảo
đảm, cung cấp các dịch vụ (bảo lãnh, đảm bảo thế chấp ), tập trung và phân phối
khoản thu.
- Lợi ích của chứng khoán hóa đối với ngân hàng:
Chuyển đổi lĩnh vực đầu tư sang các thị trường mới tăng trưởng nhanh hơn
và khả năng sinh lời cao hơn
Bù đắp thua lỗ trên thị trường truyền thống bằng những khoản thu nhập từ
các thị trường đang phát triển khác
Tăng khả năng thanh khoản của tài sản, chuyển đổi các tài sản thanh khoản
thấp sang các tài sản thanh khoản cao hơn
Cung cấp một công cụ tài trợ mới
Tăng thu nhập từ phí
Đối với người mua chứng khoán, các lợi ích mà họ nhận được cũng tương tự
như việc mua nợ (đã trình bày ở mục 1.3.2.2.e). Ngoài ra, chứng khoán hóa còn
giúp tăng cường tính thanh khoản của khoản đầu tư.
22
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG
CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG (MILITARY BANK -
CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG)
2.1 Giới thiệu về ngân hàng TMCP Quân đội - chi nhánh Đà Nẵng
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng MB Đà Nẵng
Ngân hàng thương mại Quân đội (MB) Việt Nam được thành lập từ tháng 9
năm 1994 theo số đăng ký 0054/NHGP và được cấp phép hoạt động ngày
14/9/2004, có trụ sở chính đặt tại số 03 Liễu Giai – quận Ba Đình, Hà Nội. Sau 16
năm hoạt động, ngân hàng MB Việt Nam hoạt động hiệu quả và được đánh giá là
một trong những NHTM hoạt động có hiệu quả nhất tại Việt Nam. Sự tăng trưởng
về nguồn vốn và quy mô hoạt động của ngân hàng phát triển liên tục trong suốt quá
chung và của ngành ngân hàng nói riêng. Tuy còn nhiều khó khăn về tài chính
nhưng chi nhánh vẫn giữ vị thế của mình trên địa bàn và ngày càng phát triển, thu
hút nhiều khách hàng đến với chi nhánh. Đến nay, MB Đà Nẵng là một trong số
những ngân hàng uy tín hàng đầu tại Đà Nẵng.
MB Đà Nẵng chủ yếu phục vụ khách hàng trên địa bàn Đà Nẵng. Bên cạnh đó,
chi nhánh đã phục vụ cho các doanh nghiệp quốc phòng, các khách hàng có hoạt
động hiệu quả tại khu vực miền Trung.
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của ngân hàng MB Đà Nẵng
- Huy động vốn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ với nhiều hình thức như tiền
gửi tiết kiệm, tiền gửi hưởng lãi bậc thang, tiết kiệm dự thưởng, tiền gửi thanh toán,
phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi.
- Đầu tư vốn tín dụng bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ: cho vay ngắn hạn,
trung hạn, dài hạn và chiết khấu các loại giấy tờ, chứng từ có giá, cho vay tài trợ
theo dự án, cho vay đồng tài trợ với các Ngân hàng thương mại khác, cho vay tài trợ
xuất nhập khẩu, cho vay dài hạn các dự án lớn, cho vay khép kín chu kỳ sản xuất –
lưu thông, cho vay các chương trình chỉ định, ủy thác của Chính phủ.
24
Chuyên đề tốt nghiệp
- Thanh toán quốc tế bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ: thanh toán chuyển tiền
điện tử trong cả nước, thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT, Telex.
- Bảo lãnh bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ: bảo lãnh, tái bảo lãnh tín dụng,
bảo lãnh đấu thầu, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng
- Kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng đối ngoại: tiếp nhận và
triển khai các dự án ủy thác vốn, dự án tài trợ kỹ thuật, dự án làm dịch vụ giải ngân.
2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý của ngân hàng MB Đà Nẵng
Sơ đồ 2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của ngân hàng MB Đà Nẵng
Chú thích: Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban:
Bộ máy quản lý của ngân hàng TMCP quân đội – chi nhánh Đà Nẵng được
nghiệp
Phòng
hành
chính
tổng
hợp
Phòng
CNTT KV
M.Trung
và Tây
Nguyên
Chi
nhánh
Vĩnh
Trung,
các PGD
25
Chuyên đề tốt nghiệp
Xây dựng chiến lược phát triển của chi nhánh trong từng giai đoạn phù hợp
với định hướng phát triển của toàn ngành ngân hàng, trình lên lãnh đạo Hội sở phê
duyệt và triển khai các chiến lược đã được phê duyệt, Giám đốc chi nhánh chịu
trách nhiệm trước pháp luật, Tổng Giám đốc, và Hội đồng quản trị về mọi mặt hoạt
động của đơn vị.
Phòng thanh toán quốc tế:
Thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế, cung cấp các dịch vụ thanh toán
quốc tế cho khách hàng. Đảm bảo cho hoạt động của chi nhánh đúng quy chế tài
chính ngân hàng.
Phòng kế toán và quan hệ khách hàng:
Thực hiện nghiệp vụ kế toán ngân hàng, cung cấp dịch vụ thanh toán, tài
khoản cho khách hàng. Huy động tiết kiệm, huy động và quản lý hoạt động nguồn