I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRN TH THANH BèNH
XÂY DựNG ý THứC PHáP LUậT CủA THẩM PHáN
TRONG BốI CảNH CảI CáCH TƯ PHáP ở NƯớC TA HIệN NAY
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01
LUN VN THC S LUT HC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA
THẨM PHÁN 9
1.1. Nhận thức cơ bản về Thẩm phán 9
1.1.1. Khái niệm Thẩm phán 9
1.1.2. Đặc điểm của Thẩm phán 9
1.1.3. Vị trí, vai trò của Thẩm phán 12
1.1.4. Điều kiện, tiêu chuẩn của Thẩm phán 16
1.1.5. Phân loại Thẩm phán 26
1.2. Ý thức pháp luật và ý thức pháp luật của Thẩm phán 28
1.2.1. Khái niệm cơ bản về ý thức pháp luật 28
1.2.2. Cơ cấu của ý thức pháp luật 32
1.2.3. Ý thức pháp luật của Thẩm phán 36
1.2.4. Các yếu tố tác động đến ý thức pháp luật của Thẩm phán 39
Chương 2: THỰC TRẠNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA THẨM
PHÁN Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 48
2.1. Thực trạng về số lượng, chất lượng của Thẩm phán và tình
hình xét xử trong thời gian qua 48
2.2. Công tác quy hoạch, tuyển dụng và bổ nhiệm Thẩm phán 54
2.3. Công tác đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán 69
2.4. Cơ chế kiểm tra giám sát Thẩm phán 80
2.5. Chế độ chính sách đối với Thẩm phán hiện nay 83
2.6. Ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách
tư pháp giai đoạn hiện nay 87
TAND: Toà án nhân dân
TANDTC: Toà án nhân dân tối cao
TTLT-TANDTC-BQP-
BNV-UBTWMTTQVN: Thông tư liên tịch – Tòa án nhân dân Tối cao
– Bộ nội vụ - Ủy ban Trung ương mặt trận tổ
quốc Việt Nam
UBTVQH: Ủy ban thường vụ Quốc hội
WTO: Tổ chức thương mại quốc tế
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ý thức pháp luật và xây dựng ý thức pháp luật, văn hoá pháp lý, hình
thành lối sống, làm việc theo pháp luật là một yêu cầu quan trọng đặt ra đối
với mọi người dân nói chung và Thẩm phán nói riêng trong bối cảnh cải
cách công tác tư pháp ở nước ta hiện nay. Ngoài các tiêu chí như hệ thống
pháp luật phải đầy đủ, pháp luật phải nhân đạo, vì con người… thì yêu cầu
xây dựng ý thức pháp luật đối với mọi tầng lớp nhân dân nói chung và
Thẩm phán nói riêng là một nội dung quan trọng. Điều này không chỉ góp
phần khắc phục những tiêu cực của xã hội do ý thức pháp luật kém gây ra,
mà còn góp phần quan trọng trong việc xây dựng một xã hội trật tự, ổn
định và phát triển.
Đất nước ta đã trải nhiều thời kì bị xâm lược, từ ngàn năm Bắc thuộc
tới các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trong quá trình cai trị,
các nước đã đưa pháp luật phản động vào nước ta nhằm phục vụ mục đích cai
trị và nô dịch; do vậy, hình thành nên ý thức chống đối hoặc thờ ơ với pháp
luật trong nhân dân nói chung và một số bộ phận làm công tác pháp luật nói
riêng, ý thức hệ ấy còn tồn tại trong một bộ phận không nhỏ nhân dân hiện
cho khát vọng của nhân loại về một sự công bằng cho đới sống xã hội. Vinh
quang của nghề Thẩm phán trước hết phải nói đến là nghề nghiệp mang tính
xã hội cao, bởi lẽ công việc của Thẩm phán luôn liên quan đến nhiều cá nhân,
tổ chức trong xã hội. Nghề nghiệp xét xử của Thẩm phán liên quan đến số
phận, danh dự, uy tín. tài sản, thậm chí nó quyết định cả tính mạng của con
người. Toà án, cụ thể hơn là Thẩm phán là người đại diện cho quyền lực nhà
3
nước để đưa ra các phán quyết và khi các phán quyết đó có hiệu lực pháp luật
thì tất cả mọi cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các cá nhân liên quan đều
phải tuân thủ chấp hành.
Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và lãnh
đạo ngành Toà án, Thẩm phán nước ta không ngừng được nâng cao cả về số
lượng và chất lượng, kết quả xét xử của họ đã góp phần quan trọng vào việc
bảo vệ pháp luật xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tuy nhiên, so với yêu cầu của
công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, đặc biệt là đứng trước các yêu cầu,
thách thức trong bối cảnh cải cách công tác tư pháp hiện nay thì Thẩm phán
của chúng ta còn nhiều hạn chế, bất cập, tình trạng “thiếu” về số lượng và
“yếu” về chất lượng vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi, nhiều lúc. Một bộ phận
không nhỏ Thẩm phán suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức,
yếu kém về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ đã làm sai lệch vụ án,
làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Vì vậy, xây dựng
ý thức pháp luật của Thẩm phán trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh chính
trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu cải
cách tư pháp ở nước ta hiện nay là rất quan trọng, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và
ngành Toà án phải tăng cường chỉ đạo và thực hiện quyết liệt hơn nữa nhiệm
vụ quan trọng này để thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà nước Việt Nam pháp
quyền xã hội chủ nghĩa.
Từ thực tiễn đó, tác giả mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn
thạc sĩ của mình là “Xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối
về xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán để đáp ứng yêu cầu của công
cuộc cải cách tư pháp.
5
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu, tìm ra những luận cứ khoa
học và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện những quy định của pháp luật
về ý thức pháp luật Thẩm phán và công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm
phán trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về ý thức pháp luật của Thẩm phán
và xây dựng ý thức pháp pháp luật của Thẩm phán đáp ứng yêu bối cảnh
cải cách tư pháp.
Đánh giá đúng đắn, khách quan, toàn diện một số quy định của Pháp lệnh
Thẩm phán và Hội thẩm toà án nhân dân năm 2002 và các quy định của pháp
luật thực định về tiêu chuẩn, điều kiện tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán.
Đánh giá thực trạng công tác xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán
ở nước ta hiện nay để làm sáng tỏ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về ý thức
pháp luật và xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán, những yêu cầu, đòi
hỏi đối với Thẩm phán; chỉ ra được những bất cập, hạn chế của công tác xây
dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán; làm rõ hơn những yếu tố tích cực, tiêu
cực ảnh hưởng đến chất lượng của Thẩm phán cũng như việc tuyển chọn, đào
tạo và bổ nhiệm Thẩm phán ở nước ta hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu
“Xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư
pháp ở nước ta hiện nay” là một đề tài có phạm vi nghiên cứu rất rộng, nội
dung phong phú, đa dạng, phức tạp và tương đối “nhạy cảm”. Vì vậy, trong
phạm vi nghiên cứu của một luận văn thạc sĩ luật học, dựa trên nền tảng các
chức năng, nhiệm vụ của công tác xây dựng ý thức pháp luật cán bộ, công
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
Các phương pháp cụ thể được sử dụng đó là phương pháp phân tích,
phương pháp tổng hợp, so sánh, phương pháp xã hội học, phương pháp lý
luận kết hợp với thực tiễn.
6. Ý nghĩa và những điểm mới của đề tài
Đề tài “Xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải
cách tư pháp ở nước ta hiện nay” được nghiên cứu để đạt được kết quả sau:
Đây là luận văn được nghiên cứu ở bậc cao học có tính hệ thống, toàn
diện về xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư
pháp ở nước ta hiện nay.
Đề tài có tính hệ thống hoá một cách toàn diện những quy định của
pháp luật nước ta về thẩm phán từ năm 1945 đến nay.
Xác định được hiệu quả sự điều chỉnh của các quy định pháp luật về tiêu
chuẩn, điều kiện tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán, qua đó chỉ ra các điểm hạn
chế của pháp luật thực định về nội dung này, giúp các nhà lập pháp hoàn thiện
hơn những quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời giúp cho ngành Toà án
thấy được vị trí, vai trò quan trọng của công tác xây dựng chiến lược đào tạo
Thẩm phán cũng như đội ngũ “nguồn” để tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán.
Mặt khác, thông quan việc so sánh, tìm hiểu các quy định của pháp luật
một số nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới như Hàn Quốc, Pháp,
Malaixia về điều kiện, tiêu chuẩn tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán cũng
như kinh nghiệm xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán, “nguồn” để
tuyển chọn bổ nhiệm Thẩm phán của họ. Từ đó, luận văn đề xuất một số giải
8
pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng trong công tác xây dựng ý thức
pháp luật của Thẩm phán trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay. Đặc biệt
Thẩm phán là những người thay mặt cho Nhà nước sử dụng quyền lực
nhà nước để đưa ra các phán quyết nhằm giải quyết sự tranh chấp giữa các bên
hoặc phán quyết việc áp dụng các biện pháp chế tài để xử lý các hành vi vi phạm
pháp luật trong các vụ án thuộc thẩm quyền, đảm bảo sự tôn trọng và thực thi
pháp luật trong đời sống xã hội, đảm bảo bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào
cũng bị xử lý: “không để lọt tội phạm” và “không xử oan người vô tội”.
Hiện nay, theo quy định của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt
Nam thì nhiệm kỳ của một Thẩm phán thường được quy định trong một
khoảng thời gian nhất định. Ở Việt Nam nhiệm kỳ của Thẩm phán là 5 năm,
Hàn Quốc nhiệm kỳ của Thẩm phán là 10 năm. Tuy nhiên, cũng có nhiều
nước nhiệm kỳ của Thẩm phán là không thời hạn họ chỉ bị miễn nhiệm khi vi
phạm các quy định của pháp luật ví dụ ở Úc Thẩm phán toà án liên bang được
bổ nhiệm cho tới khi họ 70 tuổi (đến khi nghỉ hưu).
1.1.2. Đặc điểm của Thẩm phán
Hoạt động xét xử là một hoạt động nghề nghiệp đặc thù so với các nghề
10
nghiệp khác ở chỗ hoạt động xét xử của Thẩm phán đòi hỏi một trình độ
chuyên môn cao trong các lĩnh vực pháp luật, chính trị và xã hội. Hầu hết họ
phải có kiến thức uyên thâm trên mọi lĩnh vực bởi lẽ họ là người đại diện cho
nền công lý, cho lẽ phải cho công bằng của toàn xã hội. Do vậy, Thẩm phán
có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Tính đặc thù trong áp dụng pháp luật
Tính đặc thù trong áp dụng pháp luật thể hiện ở chỗ, Thẩm phán với vai
trò là người đưa ra phán quyết dựa trên những chứng cứ khách quan, thực tế,
không định kiến với mục đích duy nhất là bảo vệ công lý. Tất cả mọi tư vấn
tranh luận tại phiên toà phải đảm bảo sự bình đẳng cho các bên trong vụ án.
Mọi hành vi ép buộc làm ảnh hưởng tới sự khách quan đối với phán quyết của
Thẩm phán đều trái với mục đích áp dụng pháp luật. Đặc thù này khẳng định
một tâm hồn trong sáng và một bản lĩnh vững vàng thì nghề Thẩm phán và
người Thẩm phán mới tạo dựng được sự tin tưởng và tôn kính. Bởi lẽ cần
thiết có một chuẩn mực lý tưởng được xã hội thừa nhận, nắm giữ cán cân
công lý để điều chỉnh xã hội đi đúng hướng của nó. Người Thẩm phán phải
bênh vực cho người bị hại, không thiên vị hay dao động ý chí trước bất kỳ sự
việc nào. Tất cả những yêu cầu trên sẽ góp phần tạo dựng nên hình ảnh một
nghề biểu tượng cho sự khát khao công lý.
Thứ tư: Hoạt động xét xử của Thẩm phán tuân theo một trình tự tố tụng
chặt chẽ do pháp luật quy định
Phán quyết của Thẩm phán có liên quan trực tiếp tới quyền lợi và nghĩa
vụ của cá nhân, tổ chức có liên quan. Để bảo đảm phán quyết đó thấu tình đạt
lý thì hoạt động xét xử phải tuân theo một trình tự tố tụng chặt chẽ là điều dễ
hiểu. Việc quy định như vậy tránh sự tuỳ tiện lạm quyền, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vi phạm các quy định của pháp luật tố
tụng, bản án dù có hiệu lực pháp luật cũng sẽ được Toà án cấp trên xem xét
lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
12
1.1.3. Vị trí, vai trò của Thẩm phán
“Thẩm phán, người thầy cuộc sống” đó là câu nói nổi tiếng của
Visanhski, một trong những người xây ngành Tư pháp Nga sau cách mạng
Tháng Mười. Gần 100 năm nay, điều Ông nói vẫn đúng, lời nói đó vượt qua
mọi ranh giới quốc gia và khoảng cách về thời gian.
Theo quan điểm của Visanhski, giữa người với người có bao nhiêu mối
quan hệ thì có bấy nhiêu điều luật, do vậy hiểu luật hoàn toàn khác với thuộc
luật. Vì thế, một Thẩm phán với tư duy tốt, với sự cần mẫn tìm hiểu, nghiên
cứu nghiền ngẫm luật pháp, sự việc và con người, luôn luôn suy luận về con
người và các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với
tổ chức, tập thể và giữa con người trong cộng đồng xã hội; đắm mình vào việc
tụng và hơn hết là Thẩm phán, chủ toạ phiên toà phải làm gì, sẽ tổ chức tranh
tụng tại toà như thế nào; việc xem xét chứng cứ, bằng chứng, luận cứ để lý
giải chứng minh cho các tình tiết của vụ án để làm sáng tỏ vụ án mà các bên
tham gia tranh tụng đưa ra sẽ được Thẩm phán xử lý như thế nào là vấn đề hết
sức quan trọng để trên cơ sở đó đưa ra phán quyết cuối cùng của Toà án để
giải quyết vụ án.
Trong một vụ án, việc xét xử thành công hay thất bại phụ thuộc vào rất
nhiều giai đoạn của quá tình tố tụng, nhưng quan trọng nhất là hai giai đoạn:
Một là, việc dựng lại toàn bộ sự việc trên cơ sở các chứng cứ trong hồ sơ
được đưa ra xem xét, tranh luận công khai tại phiên toà được người tham gia
tố tụng thừa nhận, được nhân dân tán thành, ủng hộ như thế là thành công.
Hai là, tìm đúng điều luật để áp dụng nhằm giải quyết vụ án, xác định được sự
thật, đúng, sai, những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, động cơ của các hành
vi trong vụ án là gì, yếu tố lỗi chủ quan của các bên trong vụ án như thế nào,
từ đó Thẩm phán, hội đồng xét xử đưa ra phán quyết để mọi người “tâm phục,
khẩu phục” đó là thành công. Do vậy, việc xét xử trước “Công đường”, tổ
14
chức tranh tụng và sử dụng kết quả tranh tụng như thế nào phụ thuộc rất nhiều
vào trình độ, ý thức pháp luật, áp dụng pháp luật, khả năng, vai trò của người
Thẩm phán, bởi lẽ họ phải biết điều khiển dẫn dắt việc tranh tụng để tranh
tụng diễn ra một cách có trật tự, đi đúng trọng tâm những vấn đề mấu chốt,
những điểm còn mâu thuẫn cần làm rõ của vụ án. Thông qua kết quả tranh
tụng, Thẩm phán đánh giá khách quan toàn diện và bản chất của vụ án, các
chứng cứ, các lý lẽ, lập luận của các bên, trên cơ sở đó căn cứ vào các quy
định của pháp luật để đưa ra các phán quyết đúng đắn.
Bởi thế vai trò của người Thẩm phán không chỉ dừng lại ở việc đưa vụ
án ra xét xử đúng thời gian luật định, đảm bảo cho các bên tham gia tố tụng
được đưa ra chứng cứ, tài liệu và những luận cứ khoa học, pháp lý để bảo vệ
tuân theo pháp luật” [4] của Thẩm phán càng phải được phát huy hơn bao giờ
hết, khi đó Thẩm phán như là một trọng tài không thiên vị, một người phán xử
trung lập, Thẩm phán nghe và tạo điều kiện cho các bên cơ hội thích hợp để
trình bày chứng cứ, luận điểm để chứng minh làm sáng tỏ các tình tiết của vụ
án tại phiên toà, trên cơ sở đó Thẩm phán đưa ra các phán quyết cuối cùng
một cách công tâm nhất.
Kinh nghiệm các nước cho thấy để Thẩm phán thực hiện, phát huy tính
“độc lập” không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan, tổ chức nào thì bao giờ cũng
được pháp luật quy định rất rõ chức năng, trách nhiệm và quyền hạn của
Thẩm phán, cơ chế, điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện tính độc lập chỉ
tuân theo pháp luật của Thẩm phán, ví dụ:
Ở Hàn Quốc, để đảm bảo cho các Thẩm phán không lệ thuộc vào bất cứ
cơ quan nào khác của Nhà nước, các Thẩm phán được pháp luật quy định:
quyền bất khả bãi miễn Thẩm phán, quyền tài phán, không Thẩm phán nào có
thể bị sa thải khỏi cơ quan trừ khi bị buộc tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự. Các Thẩm phán không bị đình chỉ công tác, hạ bậc lương hoặc bị kỷ
16
luật nếu chưa có Quyết định kỷ luật của Hội đồng kỷ luật tư pháp được thành
lập tại Toà án tối cao.
Ở Malayxia, các Thẩm phán đảm nhiệm công việc cho tới 65 tuổi, nếu
như không bị sa thải do những hành vi sai trái. Lương của Thẩm phán được
quy định bằng văn bản riêng do Nhà vua ban hành sau khi tham khảo ý kiến
của Chánh án Toà án tối cao. Chỉ có Thẩm phán mới có quyền tài phán. Với
tính chất độc lập của mình, cơ qua tư pháp không phải chịu một sự kiểm sát
nào của cơ quan hành pháp, trừ cơ sở vật chất, nhân viên do Bộ Tư pháp quản
lý. Song cơ quan hành pháp không thể can thiệp vào chuyên môn của Toà án.
Trong quá trình xét xử các Thẩm phán không nhận bất kỳ chỉ thị, mệnh lệnh
cơ quan, tổ chức nào.
đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn và
bổ nhiệm làm Thẩm phán [28, tr.2].
Để cụ thể hoá các tiêu chuẩn của người được bổ nhiệm Thẩm phán giúp
cho công tác xây dựng Thẩm phán đủ về số lượng và đáp ứng được yêu cầu trong
giai đoạn phát triển mới, từng bước chuẩn hoá trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đối
với Thẩm phán, TANDTC, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-
TANDTC-BQP-BNV-UBTWMTTQVN ngày 01/4/2003 để hướng dẫn thi hành
một số quy định của PLTP&HTTAND trong đó quy định rất rõ ràng điều kiện,
tiêu chuẩn cụ thể đối với người được bổ nhiệm làm Thẩm phán:
Thứ nhất, “Thẩm phán phải là công dân Việt Nam trung thành với Tổ
quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, , có tinh thần kiên
quyết bảo vệ pháp chế ” [28, tr.2]. Chúng ta biết rằng: “Tổ quốc” là vấn đề
thiêng liêng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và mỗi nhà nước, nó là tên gọi
khác chứa đựng tâm khảm, tinh thần của con người của dân tộc về quốc gia
về nhà nước của mình. Chính vì thế, lòng trung thành với Tổ quốc luôn là vấn
18
đề quan trọng của mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, nó đòi hỏi mỗi
công dân phải biết tôn trọng, yêu quý quốc tịch mà họ đang mang; tự nguyện,
dám hi sinh tính mạng và tài sản của mình để bảo vệ Tổ quốc. Lòng trung
thành với Tổ quốc đòi hỏi người Thẩm phán trước hết họ phải là công dân
không có bất kỳ hành vi nào gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc, nền quốc phòng toàn dân, chế độ XHCN mà Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta đang xây dựng, đồng thời với chức trách, quyền hạn của
mình họ phải là những người đi tiên phong trong việc phòng, chống các hành
vi xâm hại đến Tổ quốc.
Mặt khác chúng ta cũng biết, Hiến pháp là văn bản pháp luật gốc, quan
trọng nhất để bảo đảm về mặt pháp lý sự tồn tại vững chắc của nhà nước cùng
Cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường, sự đòi hỏi phải hội nhập sâu hơn nữa vào đời sống kinh tế, chính trị
thế giới. Trong những năm qua, do ảnh hưởng của những mặt trái trong nền
kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường như: sự chạy đua theo lợi ích cá nhân,
đặt lợi ích cá nhân lên trên hết nó đang làm “sói mòn” phẩm chất đạo đức
của một bộ phận không nhỏ những cán bộ, Thẩm phán không đủ bản lĩnh,
không giữ vững được phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng. Chính vì thế,
trong chiến lược cải cách công tác tư pháp hiện nay quan điểm của Đảng, Nhà
nước ta chỉ rõ phải nâng cao tiêu chuẩn phẩm chất chính trị đối với những
người làm công tác tư pháp nói chung và Thẩm phán nói riêng.
Phẩm chất chính trị của người Thẩm phán là nền tảng của tinh thần,
thái độ, trách nhiệm đối với công việc, nó giúp cho Thẩm phán trở thành
người chí công, liêm khiết, trung thực trong khi thực hành công vụ. Chính vì
thế trước yêu cầu của cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng xét xử của toà án
thì việc nâng cao tiêu chuẩn phẩm chất chính trị của Thẩm phán là cần thiết.
Một vấn đề xã hội đang đòi hỏi đối với Thẩm phán hiện nay là Thẩm
20
phán phải là người có cuộc sống lành mạnh, trong sáng, biết tôn trọng nhân
dân, tận tụy phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân
dân; kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện quan liêu, hạch dịch, cửa quyền.
Thẩm phán không những là người đại diện cho những chuẩn mực về đạo đức
trong cuộc sống mà họ còn là người chuẩn mực đại diện cho sự tôn trọng và
tuân thủ pháp luật, lấy các chuẩn mực trong đạo đức và chuẩn mực pháp luật để
thay trời hành đạo. Do đó, họ phải là người chưa bao giờ bị kết án.
Tại hội nghị học tập của cán bộ ngành tư pháp năm 1950 Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã đề ra những chuẩn mực về năng lực chuyên môn và đạo đức
nghề nghiệp của ngành tư pháp là:
Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ dĩ