Luận văn thạc sĩ phát triển du lịch mùa nước nổi ở tỉnh an giang - Pdf 30


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ MỸ DUYÊN PHÁT TRIỂN DU LỊCH MÙA NƢỚC NỔI
Ở TỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Du lịch học


Hà Nội – 2014 LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chƣơng trình cao học và hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi
lời biết ơn sâu sắc đến TS. Trần Thúy Anh đã dành nhiều thời gian và tâm huyết
hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Du lịch và quý thầy cô thỉnh
giảng tại khoa Du lịch, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học
Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập.
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn quí anh, chị và ban lãnh đạo Sở Văn hóa –
Thể thao – Du lịch tỉnh An Giang, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh An
Giang, Trung tâm du lịch nông dân tỉnh An Giang, công ty du lịch Sài Gòn tourist,
Vietravel, Việt Xanh, Lữ hành An Giang,… đã tạo điều kiện cung cấp số liệu cho
tôi để hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trƣờng Đại học Văn
hóa thành phố Hồ Chí Minh cùng quí thầy cô trong khoa Sau đại học đã tạo điều
kiện để tôi hoàn thành tốt khóa học.

Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Mỹ Duyên

5
MỤC LỤC

DANH MỤC BIỂU BẢNG 8
PHẦN MỞ ĐẦU 9
1. Lý do chọn đề tài 9
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
2.1. Mục đích nghiên cứu 10
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 10
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 11
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu 11
3.2. Phạm vi nghiên cứu 11

CHƢƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH MÙA
NƢỚC NỔI Ở TỈNH AN GIANG 35

6
2.1. Tiềm năng phát triển du lịch mùa nƣớc nổi 35
2.1.1. Các yếu tố tự nhiên 35
2.1.1.1. Địa hình 35
2.1.1.2. Khí hậu 36
2.1.1.3. Thuỷ văn 37
2.1.1.4. Động, thực vật 38
2.1.2. Các yếu tố văn hoá 41
2.1.2.1. Lễ hội 41
2.1.2.2. Làng nghề 45
2.1.2.3. Tập quán sinh hoạt của cộng đồng địa phương 48
2.1.2.4. Ẩm thực mùa nước nổi 49
2.1.3. Các yếu tố về kinh tế – xã hội 52
2.1.3.1. Điều kiện cơ sở hạ tầng 52
2.1.3.2. Điều kiện cơ sở vật chất – kỹ thuật 53
2.1.3.3. Điều kiện lao động 53
2.1.3.4. Điều kiện hỗ trợ của chính quyền địa phương 55
2.2. Hiện trạng hoạt động du lịch mùa nƣớc nổi ở tỉnh An Giang 56
2.2.1. Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh An Giang 56
2.2.2. Hiện trạng hoạt động du lịch mùa nước nổi ở An Giang 60
2.2.2.1. Các địa bàn phát triển du lịch mùa nước nổi 60
2.2.2.2. Các chủ thể tham gia hoạt động du lịch mùa nước nổi 66
2.2.2.3. Tác động của hoạt động du lịch mùa nước nổi 84
2.3. Đánh giá tiềm năng và hiện trạng hoạt động du lịch mùa nƣớc nổi ở An
Giang 87
2.4. Sự khác biệt của du lịch mùa nƣớc nổi An Giang so với các địa phƣơng
khác trong vùng ĐBSCL 89


9
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hằng năm, cứ vào tháng năm âm lịch trở đi, vùng Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) lại đón những đợt gió mùa kèm theo mƣa lớn kéo dài làm cho mực nƣớc
sông Mêkong bắt đầu dâng lên. Nhiều khu vực trong vùng bị ngập nƣớc trên diện
rộng, ngƣời dân quen gọi là “mùa nƣớc nổi”. Có thể khẳng định mùa nƣớc nổi là
một đặc ân của thiên nhiên, là một nét văn hoá rất riêng của sông nƣớc miền Tây
Nam Bộ mà không phải vùng miền nào cũng có đƣợc.
Mùa nƣớc nổi không chỉ có nƣớc tràn đồng mà còn mang lại nhiều nguồn lợi
cho ngƣời dân và đang trở thành một tài nguyên du lịch đặc sắc. Với sự phong phú,
đa dạng của mình, mùa nƣớc nổi đang trở thành một điểm đến hấp dẫn và thú vị.
Thật vậy, mùa nƣớc nổi đang đƣợc xem là một sản phẩm du lịch độc đáo với những
tour tuyến du lịch vô cùng phong phú và hấp dẫn du khách. Du lịch mùa nƣớc nổi ở
ĐBSCL đã trở thành một loại hình có sức hút cao, đặc biệt khi nhu cầu du lịch sinh
thái và du lịch trải nghiệm đang trở thành xu hƣớng của ngành du lịch trên toàn thế
giới.
Du khách đến ĐBSCL vào mùa nƣớc nổi để đƣợc đi xuồng hái bông điên
điển, bông súng, rau nhút, rau muống, sen, bẻ ấu, hái cà na… tắm đồng; đua ghe;
chài lƣới bắt cá Đây là cơ hội để du khách khám phá thiên nhiên hoang sơ, thuần
khiết đến khó tả, để trải nghiệm cuộc sống bình dị của ngƣời dân, tham dự các lễ
hội sôi động, thƣởng thức văn hoá ẩm thực mùa nƣớc nổi vô cùng độc đáo để cảm
nhận đƣợc sự hào phóng, trù phú của vùng đất này. Loại hình du lịch mới mẻ này tỏ
ra có rất nhiều triển vọng nhƣng việc khai thác tiềm năng du lịch mùa nƣớc nổi
cũng đang đứng trƣớc rất nhiều khó khăn và thử thách.
An Giang là một trong những vùng du lịch trọng điểm của ĐBSCL và có một
vị trí chiến lƣợc quan trọng trong việc phát triển du lịch của vùng. Đây cũng đƣợc

ở An Giang. Qua đó, làm rõ những mặt thuận lợi và khó khăn của du lịch mùa nƣớc
nổi.
- Đề xuất định hƣớng và giải pháp phát triển của du lịch mùa nƣớc nổi ở An
Giang trong thời gian sắp tới.

11
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu loại hình du lịch mùa nƣớc nổi ở An Giang.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung, thu thập, nghiên cứu, phân tích số liệu liên quan đến mùa
nƣớc nổi ở tỉnh An Giang từ năm 2009 đến nay ở những địa bàn khai thác mạnh
loại hình du lịch mùa nƣớc nổi nhƣ huyện Châu Phú, huyện Tịnh Biên, huyện An
Phú và huyện Châu Thành.
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Mùa nƣớc nổi đã trở thành hình ảnh quen thuộc của ngƣời dân vùng ĐBSCL
nói chung và An Giang nói riêng. Những đề tài về mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL chủ yếu
tập trung vào các lĩnh vực điều kiện tự nhiên, tài nguyên và đa dạng sinh học, cơ
cấu kinh tế vùng ngập lũ, nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng; giáo dục và dạy nghề:
“Kinh tế – xã hội và môi trường vùng ngập lũ ĐBSCL”, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội, năm 2002; “Vùng ngập lũ ĐBSCL hiện trạng và giải pháp”, NXB Đại học
quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001 của PGS.TS Đào Công Tiến;“Báo
cáo tác động của đê bao đến kinh tế – xã hội – môi trường”, năm 2004 của Dƣơng
Văn Nhã.
Nhằm phát huy lợi thế mùa nƣớc nổi ở An Giang trong hoạt động sản xuất
nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phƣơng trong
mùa nƣớc nổi có các công trình của khoa Nông nghiệp và Tài nguyên nhiên nhiên,
trƣờng Đại học An Giang. Trong đó, nổi bật là các đề tài đánh giá hiệu quả kinh tế
của các mô hình sản xuất, đề xuất những phƣơng án sản xuất và mô hình canh tác
có hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao cho nông dân nhƣ“Các mô hình trồng trọt và

Đối với sự phát triển du lịch cũng vậy, chỉ cần thay đổi về môi trƣờng sinh thái, yếu
tố văn hoá của cộng đồng dân cƣ… thì sẽ ảnh hƣởng lớn đến độ hấp dẫn của tài
nguyên du lịch. Do đó, trong nghiên cứu cần phải thấy đƣợc mối quan hệ này để
đƣa ra các giải pháp đúng đắn trong việc khai thác du lịch mùa nƣớc nổi. Việc
nghiên cứu, xác định, đánh giá các nhân tố phát triển du lịch mùa nƣớc nổi phải
đƣợc nhìn nhận trong mối quan hệ không gian hay lãnh thổ nhất định để đạt đƣợc

13
những giá trị đồng bộ về mặt kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Điểm, tuyến du lịch
đƣợc xem nhƣ là một hệ thống mở có mối quan hệ với các tuyến, điểm du lịch tại
các lãnh thổ khác và các loại hình du lịch khác. Quan niệm này đƣợc vận dụng vào
đề tài thông qua việc phân tích tiềm năng, đánh giá hiện trạng phát triển du lịch mùa
nƣớc nổi ở An Giang.
5.1.2. Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững đã trở thành một nội dung tất yếu, một tiêu chuẩn quan
trọng trong chiến lƣợc phát triển của hầu hết mọi lĩnh vực trong đời sống, là xu thế
phát triển của thời đại.
Trong lĩnh vực du lịch, phát triển bền vững là bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng,
tăng cƣờng bảo tồn và đóng góp lợi ích cho cộng đồng; đảm bảo sự phát triển kinh
tế bền vững. Du lịch mùa nƣớc nổi An Giang với bản chất và mục tiêu hoạt động là
đảm bảo cho việc phát triển bền vững, mang lại lợi ích kinh tế, thông qua việc giúp
đỡ cộng đồng địa phƣơng quản lý các tài nguyên, bảo vệ môi trƣờng thiên nhiên và
văn hoá bản địa. Cho nên, các chiến lƣợc quy hoạch du lịch mùa nƣớc nổi muốn đạt
đến sự phát triển bền vững phải bảo vệ môi trƣờng, bảo tồn giá trị văn hoá và khai
thác du lịch theo hƣớng bền vững.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
Phƣơng pháp thu thập tài liệu là phƣơng pháp truyền thống đƣợc sử dụng
trong các nghiên cứu nói chung và nghiên cứu kinh tế – xã hội nói riêng. Các nguồn
tài liệu cần thu thập tƣơng đối đa dạng bao gồm tài liệu đã đƣợc xuất bản, tài liệu

cứu cần phải tiến hành xử lý theo mục tiêu của việc nghiên cứu. Trong quá trình xử
lý tài liệu, sử dụng các phƣơng pháp nhƣ phân tích, tổng hợp, so sánh… Việc sử
dụng phƣơng pháp phân tích và tổng hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc xử lý số
liệu một cách hiệu quả. Số liệu thu thập đƣợc từ nhiều nguồn chắc chắn có sự chênh
lệch, với phƣơng pháp này số liệu sẽ chính xác hơn. Phƣơng pháp so sánh sẽ phát
hiện đƣợc những điểm giống nhau, khác nhau giữa các loại hình du lịch đang phát
triển tại An Giang với du lịch mùa nƣớc nổi và các điểm riêng biệt của du lịch mùa
nƣớc nổi ở An Giang.

15
5.2.4. Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình khảo sát nghiên cứu thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành
tham khảo ý kiến của các chuyên gia du lịch, các nhà quản lý điều hành các công ty
du lịch và các nhà lãnh đạo cấp địa phƣơng trên địa bàn tỉnh An Giang.
5.2.5. Phương pháp tham vấn người địa phương và du khách
Đây là phƣơng pháp thu thập thông tin thông qua việc trao đổi với ngƣời dân
địa phƣơng và du khách về tiềm năng, hiện trạng phát triển của loại hình du lịch
mùa nƣớc nổi. Phƣơng pháp này giúp tác giả có thể hiểu vấn đề một cách cụ thể
thông qua các cuộc phỏng vấn. Cần soạn câu hỏi trƣớc khi phỏng vấn. Các câu hỏi
cần ngắn gọn xúc tích, không đánh đố ngƣời đƣợc phỏng vấn.
5.2.6. Phương pháp SWOT
Là phƣơng pháp phân tích những thuận lợi, khó khăn của việc khai thác tiềm
năng du lịch mùa nƣớc nổi và những cơ hội, thách thức khi phát triển loại hình này
ở địa bàn tỉnh An Giang. Từ đó tìm ra giải pháp và định hƣớng phát triển cụ thể.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung
chính của công trình này gồm 3 chƣơng và 7 tiết.
Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận chung về du lịch mùa nƣớc nổi
Trình bày những cơ sở lý luận về mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL, những nét đặc
trƣng của mùa nƣớc nổi ở An Giang, định nghĩa khái niệm du lịch mùa nƣớc nổi,

nhƣng chƣa thể hiện đƣợc những đặc trƣng cơ bản của mùa nƣớc dâng cao ở vùng
ĐBSCL.
Theo PGS.TS Trần Thanh Xuân: “Thuật ngữ lũ chỉ hiện tƣợng nƣớc sông
dâng cao trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó giảm dần. Trong mùa lũ,
những trận mƣa liên tiếp trên lƣu vực sông (vùng hứng nƣớc mƣa và sinh dòng
chảy), làm cho nƣớc sông cũng từng đợt nối tiếp nhau dâng cao, tạo ra những trận
lũ trong sông suối. Khi lũ lớn, nƣớc lũ tràn qua bờ sông (đê) chảy vào những chỗ
trũng và gây ra ngập lụt trên một diện rộng.” [37, tr. 7]
Từ “lũ” đƣợc sử dụng có tính phổ thông để gọi mùa nƣớc nổi ở vùng
ĐBSCL, nhƣng chƣa thể hiện đƣợc bản chất của hiện tƣợng thiên nhiên diễn ra

17
hàng năm ở vùng đất này. Đây là cách gọi đúng nhƣng mang tính bi quan, thiên về
những tác hại do lũ gây ra. Lũ, lụt thƣờng đƣợc xem là một trong những thiên tai
nguy hiểm, gây nhiều thiệt hại nặng nề về tính mạng, tài sản của ngƣời dân.
Ngƣời dân vùng ĐBSCL ít khi gọi thời gian nƣớc lên cao là mùa lũ mà
thƣờng gọi hiện tƣợng thiên nhiên này là mùa nƣớc nổi.
Theo Đại từ điển tiếng Việt:
Mùa nƣớc nổi: “Mùa lũ ở châu thổ sông Cửu Long do nƣớc sông Tiền và
Hậu tràn bờ, làm ngập cả châu thổ với các độ sâu khác nhau và thời gian dài ngắn
khác nhau khiến chỉ cấy đƣợc một vụ lúa nổi nhƣng có tác dụng rửa mặn, xổ phèn,
cả châu thổ có nƣớc ngọt đƣa vào một lƣợng phù sa đáng kể.” [38, tr. 1049]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam:
Mùa nƣớc nổi: “Mùa lũ ở châu thổ sông Cửu Long. Mùa nƣớc nổi đƣa về
một khối lƣợng nƣớc ngọt lớn, cùng với phù sa chi phối toàn bộ hoạt động nông
nghiệp, chế độ canh tác, các hệ thống sản xuất ở châu thổ sông Cửu Long. Cảnh
quan của châu thổ trong mùa nƣớc nổi có những nét đặc trƣng, cũng là mùa khai
thác các loài thủy sản.”[11, tr. 959]
Mùa nƣớc nổi ở vùng ĐBSCL có đặc điểm khác những nơi khác vì mực
nƣớc dâng lên từ từ mỗi ngày trung bình khoảng 20 cm, tốc độ nƣớc chảy không

thành và phát triển của vùng châu thổ sông Cửu Long. Mùa nƣớc nổi luôn gắn liền
với đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân miền Tây. Hiện tƣợng mùa nƣớc
nổi cũng đã trở thành một yếu tố văn hóa, hình thành cách ứng xử với tự nhiên và
tính cách con ngƣời, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa Nam Bộ.
1.1.2. Mùa nước nổi ở ĐBSCL
Vùng ngập nƣớc ở vùng ĐBSCL vào mùa nƣớc nổi đƣợc chia thành 4 tiểu
vùng: vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mƣời, vùng Tây sông Hậu và
vùng giữa sông Tiền và sông Hậu. Diện tích ngập nƣớc khoảng 2 triệu ha, chiếm
khoảng 2,5% diện tích lƣu vực sông Mêkong, bao gồm địa bàn 9 tỉnh: An Giang,
Đồng Tháp, Bến Tre, Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang,
Vĩnh Long.
Mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL thƣờng kéo dài khoảng 6 tháng, bắt đầu từ cuối

19
tháng 6 (chậm hơn mùa mƣa 1 tháng) và kết thúc vào tháng 12 hàng năm (chậm hơn
thời gian kết thúc mùa mƣa 1 tháng và lùi 1 tháng so với thƣợng nguồn). Ngày bắt
đầu mùa nƣớc nổi có thể xem là lúc mực nƣớc chấm dứt những dao động theo thủy
triều. Ngày kết thúc mùa nƣớc nổi là ngày mực nƣớc bắt đầu dao động lại theo thủy
triều.
Điểm khác biệt và đặc trƣng của mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL có cƣờng suất lũ và
biên độ nhỏ. Đây là sự tổng hợp của quá trình lũ góp từ trung và thƣợng lƣu sông
Mekong dồn về khá chậm. So với thƣợng lƣu, lũ ở ĐBSCL rất hiền hòa. Mức độ
biến động lũ giữa các năm không lớn. Nguyên nhân chính làm biến động đỉnh lũ là
khả năng điều tiết cắt đỉnh một cách hữu hiệu của Biển Hồ (Campuchia). Vì thế ít
khi có lũ cực lớn tràn vào vùng ĐBSCL. Do địa hình vùng ĐBSCL bằng phẳng nên
mực nƣớc đỉnh lũ tăng thêm vài chục cm là mức độ ngập nƣớc tăng lên đáng kể.
Mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL tƣơng đối ổn định và đƣợc điều hòa một cách tự
nhiên, không có hiện tƣợng cƣờng suất lũ dâng cao, nhanh nhƣ lũ ở miền Trung và
miền Bắc. Mùa nƣớc nổi ở đây hoạt động theo chu kỳ, mực nƣớc dâng lên từ từ
theo quy luật, tốc độ chậm, tràn trên diện rộng, không đột ngột, nhanh, mạnh giống

còn tạo việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời dân với các hoạt động đánh bắt cá, hái
rau, tham gia các dịch vụ du lịch.
Hơn 100 năm trƣớc, vào mùa nƣớc nổi, nƣớc đƣợc chảy tràn tự do vào
ĐBSCL. Trong khoảng vài chục năm gần đây, nhằm hạn chế những tác hại cũa lũ
và khai thác những lợi ích của nó, những hệ thống đê bao kiểm soát lũ đã ra đời.
Mùa nƣớc nổi đã bị “can thiệp” bởi hệ thống kênh đào, hệ thống đê bao và mạng
lƣới giao thông đƣờng bộ trong vùng. Tuy nhiên, các hệ thống kênh đào và bờ bao
hiện nay chỉ tác dụng làm chệch hƣớng truyền lũ và biến đổi diễn biến của lũ.
Sự khai thác rừng bừa bãi, sự khai thác quỹ đất quá mức cho nông nghiệp,
sự phát triển nhanh chóng về số lƣợng của các đập thủy điện… đã làm cho dòng lũ
bị biến dạng ít nhiều, phá vỡ quy luật của mùa nƣớc nổi. Những biến đổi của tự
nhiên cùng sự tác động của con ngƣời đã làm cho mùa nƣớc nổi không còn đúng
nghĩa là “mùa nƣớc đẹp”.
Hơn 300 năm qua, những lớp cƣ dân vùng ĐBSCL đã khá quen thuộc với

21
quy luật dòng chảy lũ và họ đã thích nghi tốt với mùa nƣớc nổi. Họ đã sống và ứng
phó hài hòa với thiên nhiên để khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên do mùa
nƣớc nổi đem lại và hạn chế đƣợc những khó khăn do lũ gây ra. Bằng sự sáng tạo
của mình, ngƣời dân nơi đây đã khai thác những lợi thế của mùa nƣớc nổi để xây
dựng những mô hình sản xuất, kinh doanh hiệu quả. Mùa nƣớc nổi không chỉ là một
phần cuộc sống của cƣ dân, mà còn làm tăng thêm sự giàu có, trù phú và trở thành
một nét văn hóa đặc trƣng của vùng ĐBSCL.
1.1.3. Mùa nước nổi ở An Giang
1.1.3.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội tỉnh An Giang
Vị trí địa lý
An Giang là một tỉnh nằm trong vùng ĐBSCL, đầu nguồn lƣu vực sông Cửu
Long nằm giữa sông Tiền, sông Hậu và dọc theo hữu ngạn sông Hậu. Tọa độ địa lý
từ 10
0

với các tỉnh ở khu vực ĐBSCL.
An Giang nằm ở vĩ độ thấp, có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa thể hiện tính
cận xích đạo. Khí hậu tƣơng đối ôn hòa, nắng nhiều, mƣa trung bình, thời tiết ít thất
thƣờng, một năm có hai mùa rõ rệt. Mùa mƣa kéo dài từ khoảng tháng 5 đến tháng
10 và mùa khô kéo dài từ khoảng tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Chịu ảnh hƣởng
của gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc, do nằm sâu trong đất liền nên An
Giang ít bị ảnh hƣởng của gió bão.
Hệ thống sông ngòi, kênh rạch ở An Giang chằng chịt với mật độ sông ngòi
thuộc loại cao nhất trong các tỉnh của ĐBSCL (0,72 km/km
2
). Sông ngòi của tỉnh
An Giang chủ yếu là sông ngắn, hẹp chảy luồn lách vào sâu trong hệ thống đồng
bằng. Vì thế đảm bảo đƣợc lƣợng nƣớc tƣới tiêu vào mùa canh tác cũng nhƣ góp
phần mang lƣợng phù sa chia đều rải rác rộng khắp hệ thống đồng bằng.
An Giang còn có nguồn tài nguyên thực vật và động vật phong phú và đa
dạng. Nguồn tài nguyên, sản vật phong phú, dồi dào tạo nguồn cung có quy mô lớn
cho hoạt động thƣơng mại, đặc biệt là xuất khẩu. Với sản lƣợng lúa hàng năm
khoảng 3,6 triệu tấn, xuất khẩu trên 500 nghìn tấn; sản lƣợng thủy sản hơn 315
nghìn tấn, xuất khẩu 150 nghìn tấn. Đây là một trong các địa phƣơng đứng đầu cả
nƣớc về sản xuất, xuất khẩu lúa gạo và thủy sản.
Điều kiện kinh tế – xã hội
Điều kiện kinh tế
Dựa trên lợi thế về điều kiện tự nhiên thuận lợi, An Giang vừa có một nền
kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh vừa có một mùa nƣớc nổi đặc trƣng của vùng
ĐBSCL nên hàng năm đều có sản lƣợng lúa và thủy sản nƣớc ngọt cao nhất nƣớc.
Cùng với sự lớn mạnh của đất nƣớc, nền kinh tế An Giang luôn đạt tốc độ
phát triển cao và bền vững trong suốt hai thập niên vừa qua. Năm 2013, tăng trƣởng
kinh tế đạt 8,3%. GDP bình quân đầu ngƣời đạt gần 32 triệu đồng, tăng gần 2,7

23


24
chịu ảnh hƣởng nhiều nhất. Trong đó, huyện Tân Châu là nơi ngập sâu nhất và là
địa điểm để đánh giá mực nƣớc trong năm.
Trong những năm gần đây, mùa nƣớc nổi ở An Giang luôn xuất hiện với
mực nƣớc lên không quá cao, diễn biến ít phức tạp. Với đặc tính hiền hòa của mùa
nƣớc nổi, ngƣời dân An Giang đã tận dụng những lợi thế của nó để phát triển kinh
tế từ lĩnh vực nông nghiệp đến lĩnh vực du lịch. Công thức nằm lòng của ngƣời dân
đầu nguồn mùa nƣớc nổi là một mùa nƣớc lớn sẽ trúng lớn đến hai mùa (mùa cá và
mùa lúa vụ đông xuân với năng suất khoảng hơn 50 tấn/ha).
Khi mực nƣớc lũ ở Tân Châu đƣợc 2,5 m, tƣơng ứng với thời gian khoảng
tháng 7 đến tháng 8 hàng năm, mùa nƣớc nổi sẽ mang theo rất nhiều trứng và cá con
từ các cánh đồng thƣợng nguồn vào An Giang, làm phong phú thêm nguồn lợi thủy
sản của tỉnh nhà. Bên cạnh đó, diện tích mặt nƣớc đƣợc tận dụng nuôi trồng các loại
cây thủy sinh đặc trƣng của mùa nƣớc nổi.
Mùa nƣớc nổi còn mang lại một lƣợng phù sa rất lớn, cung cấp chất dinh
dƣỡng, làm tăng độ phì nhiêu của đất… Những vùng đất đƣợc phù sa bồi đắp trong
mùa nƣớc nổi là những vùng nông nghiệp chính của An Giang. Những vùng cù lao
ven hai sông Tiền và sông Hậu là những vùng nông nghiệp đã đem lại giá trị kinh tế
lớn. Mùa nƣớc nổi đã đem lại cho An Giang một tiềm năng phát triển nông nghiệp
rất lớn so với các địa phƣơng khác trong khu vực ĐBSCL. Phù sa của mùa nƣớc nổi
cũng đã góp phần đƣa An Giang trở thành tỉnh đứng đầu về sản lƣợng lúa của cả
nƣớc.
Nhằm phát huy tối đa lợi thế của mùa nƣớc nổi, đề án 31 của Ban Cán sự
Đảng – UBND tỉnh An Giang đã ra đời vào năm 2002 với mục tiêu tận dụng lợi thế
mùa nƣớc nổi, phát triển nhanh các mô hình sản xuất, các loại hình dịch vụ có hiệu
quả để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho ngƣời dân An Giang. Tính thiết
thực của đề án đã đem lại nhiều lợi ích cho ngƣời dân, góp phần tăng thu nhập và
xóa đói giảm nghèo. Đề án cũng đã đánh dấu một bƣớc ngoặc lớn về tƣ duy sống
chung với lũ, giải quyết việc làm cho gần 100 ngàn lao động, tạo thêm thu nhập 520

Đến với mùa nƣớc nổi ở An Giang, du khách sẽ có ấn tƣợng sâu sắc về một
vùng nƣớc trắng đồng. Các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của ngƣời dân vào mùa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status