Luận văn thạc sĩ phát triển du lịch làng nghề tỉnh vĩnh phúc - Pdf 30



I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN
*** TRN TH HNG HNH
phát triển du lịch làng nghề
tỉnh vĩnh phúc luận văn thạc sĩ du lịch H Ni - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***

5. Phương pháp nghiên cứu 8
6. Cấu trúc của đề tài 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU
LỊCH LÀNG NGHỀ 10
1.1. Các khái niệm liên quan 10
1.1.1. Làng nghề truyền thống 10
1.1.2. Du lịch làng nghề truyền thống 11
1.2. Các điều kiện phát triển du lịch làng nghề 12
1.2.1 Điều kiện cung 12
1.2.2. Điều kiện cầu 15
1.2.3. Chính sách phát triển du lịch 16
1.3. Các đặc điểm của làng nghề truyền thống phục vụ du lịch 18
1.4. Ý nghĩa của việc phát triển du lịch làng nghề 20
1.5. Một số bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch làng nghề 23
1.5.1. Du lịch làng nghề của Thái Lan 23
1.5.2 Du lịch làng nghề tại Hà Nội 25
1.5.3 Du lich làng nghề tại Thừa Thiên – Huế 27
1.5.4 Du lịch làng nghề tại Quảng Nam 29
1.5.5 Bài học cho phát triển du lịch làng nghề Vĩnh Phúc 30
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2: THỰC TRẠNG DU LỊCH LÀNG NGHỀ TỈNH VĨNH
PHÚC 33
2.1. Giới thiệu khái quát tỉnh Vĩnh Phúc 33
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 33
2.1.2. Điều kiện kinh tế- xã hội 35
2.2. Các điều kiện phát triển du lịch làng nghề tỉnh Vĩnh Phúc 36
2.2.1. Điều kiện cung 36
2.2.2. Điều kiện cầu 44
2.2.3. Chính sách phát triển du lịch của tỉnhVĩnh Phúc 48
2.2.4. Đánh giá chung 49


CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CSSX Cơ sở sản xuất
BVMT Bảo vệ môi trường
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
DLLN Du lịch làng nghề
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
GD – ĐT Giáo dục - đào tạo
PTTTĐC Phương tiện thông tin đại chúng
KT – XH Kinh tế - xã hội
LATS Luận án tiến sĩ
LN Làng nghề
LNTT Làng nghề truyền thống
LT – TP Lương thực – thực phẩm
NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
NXB Nhà xuất bản
SX Sản xuất
TP Thành phố
TX Thị xã
UBND Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Các làng nghề truyền thống tỉnh Vĩnh Phúc 36
Bảng 2.2: Số lượng cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Vĩnh Phúc (2006 - 2013) 42
Bảng 2.3: Lao động trong ngành du lịch tỉnh Vĩnh Phúc (2007 - 2013) 43
Bảng 2.4: Điểm hấp dẫn du khách khi đến với làng nghề 48
Bảng 2.5: Lượng khách du lịch đến các làng nghề giai đoạn 2009-2013 54
Bảng 2.6: Hình thức đi du lịch của khách 55
Bảng 2.7: Số lần khách đến làng nghề 55
Bảng 2.8 : Doanh thu từ sản phẩm làng nghề giai đoạn 2008 – 2013 56


Các làng nghề truyền thống với các sản phẩm độc đáo thiết thực luôn đem lại
lợi ích kinh tế cho người lao động. Sản phẩm làng nghề không chỉ phục vụ
đắc lực cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân mà giờ đây chúng
đã trở thành những sản phẩm có giá trị xuất khẩu, mang lại thu nhập cao hơn
cho người lao động, mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Hiện nay,
công việc khôi phục và bảo vệ các làng nghề là rất quan trọng. Đó không phải
là công việc riêng của từng cá nhân của từng làng nghề mà là công việc chung
của các cấp, các ngành có liên quan vì thực trạng làng nghề Việt Nam nói
chung đang gặp nhiều khó khăn, cần có sự quan tâm giúp đỡ để giữ gìn, phát
huy một nét đẹp văn hoá trong kho tàng văn hoá truyền thống của dân tộc.
Làng nghề thủ công truyền thống với các bí quyết nghề nghiệp riêng là
sản phẩm độc đáo của nền văn hóa Việt Nam. Đó là một cộng đồng có sự liên
kết chặt chẽ bởi những mối liên hệ khăng khít về lãnh thổ, kinh tế, văn hóa
tâm linh. Đây là nơi lưu giữ kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô
cùng quý giá, phong phú, nơi biểu hiện cụ thể, sinh động bản sắc văn hóa dân
tộc.
2

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của
nền kinh tế thị trường thì các làng nghề truyền thống cũng có những cơ hội
phát triển. Tuy nhiên, đi liền với sự phát triển của hoạt động sản xuất, nhiều
giá trị văn hóa bị mai một, bí quyết nghề nghiệp bị thất truyền cùng với sự ra
đi của các nghệ nhân lớn tuổi.
Xu hướng thương mại hóa do chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận làm cho
bản sắc văn hóa của làng nghề bị phai mờ. Không phải ai cũng nhận thức rõ
được rằng, đánh mất bản sắc văn hóa là điều nguy hiểm đối với sự tồn tại bền
vững của mỗi một làng nghề. Nếu chúng ta cứ chạy theo lợi nhuận kinh tế mà
không lưu tâm bảo tồn giá trị văn hóa thì nguy cơ mai một các làng nghề sẽ
không có cách nào chống đỡ nổi.

một số nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay
bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông phó cả…
cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định
“sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được
bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng đã có
tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một
thị trường là vùng xung quanh và với thị trường đô thị, thủ đô và tiến tới mở
rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả thị trường nước ngoài. Những làng
nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu (có một quá khứ hàng trăm năm) “dân biết
mặt, nước biết tên, tên làng đã đi vào lịch sử, vào ca dao tục ngữ trở thành di
dản văn hóa dân gian”. [45]
Cùng với quan điểm của Trần Quốc Vượng, Bùi Văn Vượng cũng cho
rằng: Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công. Ở
đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ
thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông (nông dân)
4

nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản
xuất hàng nghề truyền thống ngay tại làng quê của mình. [44]
Trong những quan điểm trên, các tác giả đã đưa ra những dấu hiệu rất cụ
thể để nhận biết về làng nghề nhưng dường như những dấu hiệu đó chỉ đúng
với những làng nghề truyền thống, đã có lịch sử phát triển lâu đời mà chưa
đúng với những làng nghề nói chung, đặc biệt là những làng nghề mới ra đời
trong thời gian gần đây.
Theo Dương Bá Phượng, “Làng nghề là làng ở nông thôn có một hay
một số nghề thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập”.
Quan điểm này đã nêu được hai yếu tố là làng (ở nông thôn) và nghề (thủ
công tách khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập) nên có khả năng bao quát
hơn về các làng nghề ở nước ta nói chung tuy nhiên nó không hoàn toàn phù
hợp với hiện trạng các làng nghề ở Việt Nam vẫn tồn tại đan xen cả thủ công

cũng có những làng tồn tại đan xen nhiều nghề. Có những làng có nghề truyền
thống, có lịch sử hàng trăm năm, gắn với những mặt hàng tinh xảo nhưng cũng có
những làng nghề mới ra đời được vài chục năm gần đây trong thời kỳ đổi mới,
chuyển sang kinh tế thị trường. Sự tồn tại đan xen các làng nghề này đã tạo nên
một diện mạo phong phú, nhiều vẻ cho nông thôn Việt Nam.
Du lịch làng nghề là một biểu hiện đặc thù của phương Đông và là một thế
mạnh của Việt Nam. Điều đó phần nào phản ánh qua việc khái quát tình hình khai
thác loại hình du lịch này ở một số nước châu Á, và đặc biệt là ở nước ta. Nhưng
du lịch làng nghề Việt Nam vẫn còn trong tình trạng khai thác tự nhiên và đầu tư
thăm dò. Chưa có những nghiên cứu đầy đủ cũng như chưa có những hoạt động
thực tiễn đem lại cho chúng ta một mô hình tốt trong vấn đề này. Tuy vậy, du lịch
làng nghề vẫn là một trong những hướng đi có nhiều triển vọng nhất của du lịch
Việt Nam.
Trong xu thế hội nhập và mở cửa, làng nghề truyền thống đang dần lấy
lại vị trí quan trọng của mình trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi
dân tộc mỗi quốc gia. Những làng nghề này như một hình ảnh đầy bản sắc,
6

khẳng định nét riêng biệt, độc đáo không thể thay thế. Một cách giới thiệu
sinh động về đất, nước và con người của mỗi vùng, miền, địa phương. Phát
triển du lịch làng nghề chính là một hướng đi đúng đắn và phù hợp, được
nhiều quốc gia ưu tiên trong chính sách quảng bá và phát triển du lịch. Những
lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch làng nghề không chỉ thể hiện ở những
con số tăng trưởng lợi nhuận kinh tế, ở việc giải quyết nguồn lao động địa
phương mà hơn thế nữa, còn là một cách thức gìn giữ và bảo tồn những giá trị
văn hoá của dân tộc. Đó là những lợi ích lâu dài không thể tính được trong
ngày một ngày hai.
Du lịch làng nghề truyền thống ngày càng hấp dẫn du khách và đang là
một hướng phát triển du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới. Bên cạnh những
lợi ích về kinh tế, xã hội, hình thức du lịch này còn góp phần bảo tồn và phát

huy tiềm năng và hiệu quả, đóng góp ngày một lớn bền vững hơn cho mục
tiêu phát triển du lịch cũng như phát triển kinh tế, xã hội, bảo tồn các giá trị
văn hóa… được coi là nhiệm vụ hết sức cấp thiết, nhất là trong giai đoạn Việt
Nam đang từng bước hội nhập toàn diện cùng với châu lục và thế giới.
Từ những đề tài mang tính chất chuyên biệt hóa nêu trên, tác giả luận
văn mong muốn tìm hiểu một hướng đi chung cho hoạt động du lịch làng
nghề ở tỉnh Vĩnh Phúc sao cho có hệ thống và ngày càng đa dạng hơn nữa
trong du lịch Vĩnh Phúc nói chung và du lịch làng nghề nói riêng. Vì thế học
viên đã quyết định chọn đề tài "Phát triển du lịch làng nghề tỉnh Vĩnh Phúc"
làm luận văn tốt nghiệp. Từ đề tài này có thể có cái nhìn khái quát về lịch sử
các làng nghề ở Vĩnh Phúc, hiện trạng của các làng nghề, vấn đề môi trường,
vấn đề phát triển kinh tế cũng như văn hóa các làng nghề, khai thác cho phát
triển du lịch làng nghề
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Mục đích của luận văn là góp phần phát triển du lịch làng nghề ở tỉnh
Vĩnh Phúc cũng như góp phần bảo tồn di sản văn hóa trong kinh doanh du lịch.
8

* Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ tiến hành giải quyết các nhiệm
vụ chính:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch làng nghề để vận dụng chúng vào
địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
- Thu thập tư liệu, điều tra, khảo sát và phân tích các điều kiện phát triển
cũng như thực trạng hoạt động du lịch tại một số làng nghề ở tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển du lịch làng nghề ở
tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Thực tiễn hoạt động du lịch làng nghề tỉnh Vĩnh Phúc, cụ thể về

được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch làng nghề
Chương 2: Thực trạng du lịch làng nghề tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch làng nghề tỉnh
Vĩnh Phúc

10

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
DU LỊCH LÀNG NGHỀ
1.1. Các khái niệm liên quan
1.1.1. Làng nghề truyền thống
Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần lớn người dân đều làm
nông nghiệp, càng về sau có những bộ phận dân cư sống bằng nghề khác, họ
liên kết chặt chẽ với nhau, khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một số tổ
chức theo kiểu nghề nghiệp, tạo thành các phường hội như phường gốm,
phường đúc đồng, phường dệt vải… Từ đó, các nghề được lan truyền và phát
triển thành các làng nghề. Như vậy, làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề
thủ công truyền thống và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn
hóa, văn minh dân tộc. Quá trình phát triển của làng nghề là quá trình phát
triển của tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn. Lúc đầu sự phát triển đó từ một
vài gia đình, rồi đến cả họ và sau đó lan ra cả làng. Trải qua một thời gian dài
lịch sử, lúc thịnh, lúc suy, có những nghề được lưu giữ, có những nghề bị mai
một hoặc mất hẳn và có những nghề mới ra đời.
Theo tác giả Mai Thế Hởn, làng nghề được quan niệm là một cụm dân
cư sinh sống trong thôn (làng) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông

Du lịch làng nghề thuộc loại hình du lịch văn hóa đang thu hút sự quan tâm
của nhiều du khách trong và ngoài nước. Bởi làng nghề là nơi chứa đựng kho
tàng kinh nghiệm kỹ thuật, bí quyết nghề nghiệp từ việc sử dụng nguyên liệu,
kỹ thuật chế tác đến chủ đề sáng tạo trong việc tạo ra một sản phẩm thủ công
truyền thống. Đó chính là phần văn hóa phi vật thể. Ngoài ra, làng nghề còn
có các giá trị văn hóa vật thể như: đình, chùa, các di tích có liên quan trực tiếp
đến làng nghề, các sản phẩm thủ công.
12

Theo Phạm Quốc Sử, du lịch làng nghề là một loại hình du lịch sinh thái
nhân văn được tiến hành tại một làng nghề tiêu biểu, mà ở đó còn lưu giữ
tương đối nguyên vẹn những di sản văn hóa làng xã truyền thống (di tích lịch
sử văn hóa, phong tục, lễ hội ), đặc biệt là truyền thống công nghệ cổ, thông
qua những nghệ nhân tài giỏi. Đến với mỗi làng nghề, du khách sẽ được khám
phá và thẩm nhận những giá trị văn hóa vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa độc
đáo, mang tính đặc thù địa phương. Ngoài sự chứng kiến tận mắt những thao
tác công nghệ do các thợ thủ công thực hiện, du khách có thể tìm hiểu sâu hơn
về truyền thống công nghệ ở các nghệ nhân, có thể mua đồ lưu niệm là những
sản phẩm công nghệ với giá cả phải chăng, có thể tìm kiếm các cơ hội đầu tư,
hợp tác kinh doanh ( nếu là du khách thương gia), đồng thời đó cũng là dịp để
du khách lấy lại cân bằng về tinh thần sau những bức xúc, căng thẳng do nếp
sống công nghiệp và cuộc sống đô thị gây ra. Thông qua chuyến viếng thăm
làng nghề, du khách sẽ thu lượm được nhiều nhất những giá trị văn hóa Việt
Nam truyền thống ( bởi tính điển hình của làng nghề), và có thể hiểu sâu sắc
hơn về đất nước và con người Việt Nam [32, tr19,20]
Từ đó, ta có thể hiểu du lịch làng nghề như sau: du lịch làng nghề là loại
hình du lịch văn hóa mà du khách muốn thẩm nhận các giá trị văn hóa vật thể
và phi vật thể có liên quan mật thiết đến một làng nghề của dân tộc.
1.2. Các điều kiện phát triển du lịch làng nghề
Sự phát triển du lịch làng nghề chịu ảnh hưởng bởi nhiều điều kiện.

trường còn chịu tác động mạnh của yếu tố thông tin nói chung, bưu chính viễn
thông nói riêng. Nó giúp nắm bắt kịp thời, nhanh chóng, chính xác những
thông tin về thị trường, giá cả, mẫu mã, quy cách sản phẩm … để từ đó có
những ứng xử thích hợp đáp ứng nhu cầu thị trường nói chung và thị trường
du lịch nói riêng.
Trong nền kinh tế thị trường, không chỉ có kinh nghiệm cổ truyền mà
phải có khoa học công nghệ hiện đại. Kết hợp các yếu tố truyền thống với
khoa học công nghệ hiện đại để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá
thành hạ nhưng vẫn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, được người tiêu dùng
trong xã hội hiện đại chấp nhận và tăng tính hấp dẫn cho du khách.
14

1.2.1.3. Nguồn nhân lực
Nghệ nhân và đội ngũ thợ làng nghề là yếu tố rất quan trọng trong việc
phát triển du lịch làng nghề. Tài năng của các nghệ nhân, thợ cả đã tạo nên
những sản phẩm làng nghề tinh xảo và độc đáo. Chính người nghệ nhân,
người thợ cả đã giữ cho làng nghề tồn tại, đã đào tạo những người thợ mà
trước hết là con cháu của họ, rồi đến những người trong làng và từ đời này
qua đời khác kế tiếp nhau. Để đến ngày nay có những nghề và những làng
nghề nổi tiếng với những sản phẩm có một không hai, tạo nên tính hấp dẫn
cho du khách. Khả năng cạnh tranh, sức sống của sản phẩm làng nghề chủ
yếu phụ thuộc vào tài hoa, kinh nghiệm tay nghề của nghệ nhân, thợ cả. Vì
vậy, phát triển du lịch làng nghề tùy thuộc rất nhiều vào việc xây dựng đội
ngũ các nghệ nhân của các làng nghề và truyền nghề cho những người lao
động trẻ tuổi.
Đội ngũ lao động tham gia trực tiếp vào các hoạt động du lịch có vai trò
quan trọng thúc đẩy du lịch làng nghề phát triển. Bởi họ chính là những người
cung cấp các loại hình và sản phẩm cho du khách như hướng dẫn, phục vụ ăn
uống, vận chuyển, Những trải nghiệm của du khách tại làng nghề phụ thuộc
vào chất lượng dịch vụ do người dân địa phương cung cấp. Vì vậy, kỹ năng

1.2.2. Điều kiện cầu
 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng vai trò quan trọng trong quá trình
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch. Sự tận dụng hiệu quả các tài nguyên du
lịch và việc thỏa mãn các nhu cầu của du khách phụ thuộc một phần lớn vào
cở vật chất kỹ thuật du lịch.
Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội là những phương tiện vật chất
không phải là do các tổ chức du lịch xây dựng lên mà là của toàn xã hội. Đó
là hệ thống đường xá, nhà ga, sân bay, bến cảng, dường sắt, công viên của
16

toàn dân, mạng lưới thương nghiệp của khu dân cư, hệ thống thông tin viễn
thông, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện, các rạp chiếu phim, nhà hát,
viện bảo tàng
Đối với ngành du lịch thì yếu tố cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội là yếu tố cơ
sở nhằm khai thác tiềm năng du lịch và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch.
Mặt khác phát triển du lịch cũng là một yếu tố tích cực thúc đẩy, nâng cao mở
rộng cơ sở hạ tầng kỹ thuật du lịch của một vùng hay của cả đất nước.
 Hệ thống giao thông
Hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống cấp,
thoát nước; hệ thống cung cấp điện có tầm quan trọng đặc biệt vì nó nằm sát
ngay nơi du lịch, nó quyết định nhịp độ phát triển du lịch và trong chừng mực
nào đó còn quyết định chất lượng phục vụ du lịch
1.2.3. Chính sách phát triển du lịch
Để du lịch làng nghề thực sự phát triển Chính phủ cần có hệ thống
chính sách phát triển du lịch phù hợp trong chiến lược quy hoạch, các chương
trình, các chương trình, đề án phát triển du lịch. Chính sách phải đảm bảo
khuyến khích, huy động tập trung nguồn lực, khai thác tối ưu tiềm năng, thế
mạnh của đất nước; bảo tồn và phát huy được những giá trị truyền thống;
nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức mạnh cạnh tranh, tạo động lực phát triển

 Chính sách cấp bách
-
Chính sách đầu tư tập trung cho các khu du lịch trọng điểm quốc gia có
sức cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế: ưu đã bằng các công cụ
tài chính, thu hút FDI, hỗ trợ trực tiếp từ nhà nước về cơ sở hạ tầng,
phát triển sản phẩm, phân cấp quản lý đối với du lịch quốc gia.

-
Chính sách đầu tư phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng vùng, quốc gia
có sức mạnh khu vực và quốc tế; tăng cường nghiên cứu thị trường, xây
dựng chiến lược sản phẩm; khuyến khích sản phẩm mới có tính chiến

Trích đoạn Các đặc điểm của làng nghề truyền thống phục vụ du lịch nghĩa của việc phát triển du lịch làng nghề Du lịch làng nghề của Thái Lan Giải pháp về bảo vệ tài nguyên môi trường Giải pháp về xúc tiến, quảng bá
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status