BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***
LÊ ĐĂNG HẢI
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ XUYÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2015
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***
LÊ ĐĂNG HẢI
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ XUYÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 60.31.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGÔ THỊ THUẬN
HÀ NỘI – 2015
LỜI CAM ĐOAN
2
Tôi cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cảm ơn và các thông tintrích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả
6
DANH MỤC HÌNH
7
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BQ Bình quân
CC Cơ cấu
CP Chính phủ
8
KD Kinh doanh
LNTT Làng nghề truyền thống
NĐ Nghị định
NQ Nghị quyết
SL Số lượng
SP Sản phẩm
SWOT Strength – Weak – Opertunity – Threat
Mạnh – Yếu – Cơ hội – Thách thức
SX Sản xuất
SXKD Sản xuất kinh doanh
SXTT Sản xuất tiêu thụ
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
TP Thành phố
UBND Ủy ban nhân dân
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một đất nước có nhiều nghề thủ công truyền thống, với đặc
trưng của nền sản xuất nông nghiệp mùa vụ và chế độ làng xã, nghề thủ công xuất
hiện khá sớm và gắn liền với lịch sử của dân tộc. Các làng nghề đã hình thành, tồn
tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, của đời sống cộng đồng và dần
10
sống trong các làng nghề truyền thống nói riêng ở địa phương nói chung. Vấn đề về
quy hoạch làng nghề gắn với bảo vệ môi trường và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
trong các làng nghề truyền thống, đào tạo nguồn nhân lực và trong trong tương lai
tiếp tục phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch, tiến hành xây dựng
thương hiệu cần được định hướng như thế nào để có thể phát triển bền vững.
Từ những bất cập đó huyện Phú Xuyên phải làm thế nào để phát triển bền
vững các làng nghề trên địa bàn huyện đang có. Nhằm giải quyết những bất cập nêu
trên, đồng thời đưa ra các giải pháp giải quyết những bất cập đó chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài:"Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn
huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển, các yếu tố ảnh hưởng mà đề xuất
định hướng, giải pháp đẩy mạnh phát triển bền vững LNTT trên địa bàn huyện Phú
Xuyên.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững làng nghề truyền thống.
- Đánh giá thực trạng phát triển LNTT, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển
bền vững làng nghề truyền thống tại huyện Phú Xuyên những năm qua.
- Đề xuất những giải pháp đẩy mạnh phát triển bền vững làng nghề truyền thống tại
huyện Phú Xuyên những năm tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các loại sản phẩm tại các làng nghề truyền thống
- Các hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại các làng nghề truyền thống
- Các văn bản pháp quy liên quan đến phát triển làng nghề truyền thống
- Các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường liên quan tại các làng nghề truyền thống.
11
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phát triển nông thôn thì: “Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời,
tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến
ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền.”
Đặc trưng cơ bản nhất của mỗi nghề truyền thống là: phải có kỹ thuật và
công nghệ truyền thống, đồng thời có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề. Sản
phẩm làm ra phải có tính hàng hoá, đồng thời có tính nghệ thuật và mang đậm bản
sắc văn hoá dân tộc.
Những nghề truyền thống thường được truyền trong một gia đình, một dòng
họ, một làng, một vùng. Trong những làng nghề truyền thống, đa số người dân đều
hành nghề truyền thống đó. Ngoài ra, họ còn có thể phát triển những nghề khác,
những nghề này chiếm tỷ lệ nhỏ hơn so với nghề truyền thống.
Ngày nay, việc sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống được hỗ trợ bởi
quy trình công nghệ mới với nhiều loại nguyên vật liệu mới. Do vậy khái niệm nghề
truyền thống cũng được nghiên cứu và mở rộng hơn.
Hiện nay ở nước ta tồn tại nhiều nghề truyền thống khác nhau, việc phân loại
các nhóm nghề tương đối khó khăn, nó chỉ mang ý nghĩa tương đối, bởi vì một số
người có thể vừa thuộc nhóm này song cũng có thể vừa thuộc nhóm khác. Mặt
khác, một số nghề đối với địa phương được coi là nghề truyền thống, nhưng trên
phạm vi vĩ mô có thể chưa được gọi là nghề truyền thống. Có nhiều cách phân loại
nghề, tuy nhiên có thể xem xét một số cách như sau:
- Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm sứ, chạm khảm
gỗ, chạm khắc đá, thêu, vàng bạc…
- Các ngành nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống như: nề, mộc, hàn, đúc đồng,
gang, nhôm, sản xuất vật liệu xây dựng, công cụ…
- Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng tiêu dùng như: dệt vải, dệt chiếu, khâu
nón…
13
- Các ngành nghề chế biến lương thực thực phẩm như: xay xát, làm bún bánh, nấu
rượu, nấu đường mật, chế biến thủy sản…
Để được công nhận là một nghề truyền thống thì theo Thông tư116/2006/TT
Theo Thông tư 116/2006/TT- BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn,
phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt
động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”.
Như vậy khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung chính sau:
“Làng nghề là một thiết chế KT-XH ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố
làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lí nhất định trong đó bao gồm nhiều
hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết chặt chẽ
về kinh tế - xã hội và văn hóa”.
()*+!,!-): Việc phân loại loại nghề cũng
khá phức tạp người ta thường dựa vào quy mô, lĩnh vực và lịch sử hình thành,
ngành nghề sản xuất, loại hình kinh doanh, tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh
của các làng nghề.
Để được công nhận là một làng nghề thì theo Thông tư 116/2006/TT-BNN
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải đạt 03 tiêu chí sau:
(1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành
nghề nông thôn
(2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời
điểm đề nghị công nhận
(3) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.
* '%&
Khái niệm làng nghề truyền thống (LNTT) được khái quát dựa trên hai khái
niệm nghề truyền thống và làng nghề nêu trên. Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề truyền thống là làng nghề
có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời”.
Tác giả luận án Bạch Thị Lan Anh cho rằng: “LNTT là làng nghề được tồn
tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ
15
công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có
nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ
truyền của nghề.
$@!A!2345*< Mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong
các làng nghề hiện nay chủ yếu là hộ gia đình. Do vậy, đây được xem là mo hình
sản xuất nhỏ, thường chỉ sử dụng lao động gia đình, do đó ai cũng có thể tham gia.
Chính mô hình nhỏ này là một bất lợi cho việc tiếp nhận công nghệ, năng lực quản
lý, năng lực tài chính, năng lực sản xuất còn kém vì vậy việc tiếp nhận các đơn đặt
hang lớn thường khó khăn. Tuy nhiên nó lại là mô hình tổ chức sản xuất phù hợp
nhất với cơ sở vật chất ở làng nghề truyền thống hiện nay do có nhiều ưu điểm như
tranh thủ thời gian lao động, linh hoạt trong sản xuất thích ứng với cuộc sống lao
động sản xuất ở vùng nông thôn.
Bên cạnh các hộ sản xuất còn có các mô hình mới như hợp tác xã, các doanh
nghiệp, các công ty cổ phần… những mô hình này hoạt động theo Luật hợp tác xã
và Luật doanh nghiệp. Các mô hình sản xuất này khá phù hợp với xu hướng thị
trường hiện nay và ngày một đã khẳng định được vai trò của mình trong xu thế hội
nhập của các làng nghề truyền thống.
B%C!D)%&
a) $*"!)!*E)*0
Người nông dân sản xuất nông nghiệp thường theo mùa vụ, nên thời gian sản
xuất thường kéo dài hơn thời gian thật sự lao động. Do đó, trong sản xuất nông
nghiệp có những lúc nhàn rỗi, dư thừa lao động. Khi sản xuất các sản phẩm của
làng nghề sẽ tạo cho người lao động có việc làm trong thời điểm này. Từ đó lao
động được sử dụng triệt để hơn trong gia đình. Có những làng nghề thu hút trên
60% lực lượng lao động ở nông thôn tham gia vào hoạt động sản xuất tiểu thủ công
nghiệp. Nhờ đó, tỷ lệ thời gian làm việc được sử dụng của lao động trong độ tuổi ở
khu vực nông thôn đạt khoảng 80%. Đặc biệt một số làng nghề truyền thống còn sử
dụng được lao động già cả, khuyết tật, trẻ em mà các khu vực kinh tế khác không
nhận.
17
b) $-;!*0:
Ngoài thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, các hộ gia đình tham gia sản xuất
thu nhập quốc dân, tăng thu ngân sách cho địa phương bằng việc đóng thuế, giải
quyết việc làm, du lịch làng nghề
g) I8;;J73*K;7326!(!
Vì làng nghề cổ truyền tạo nên những sản phẩm truyền thống với trình độ kỹ,
mỹ thuật cao, kết tinh tài hoa của các nghệ nhân qua nhiều thế hệ, nhiều sản phẩm
không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn phản ánh một cách sinh động lối sống và
ước vọng của người lao động, thấm đẫm tâm hồn người Việt và được truyền từ đời
này sang đời khác.
2.1.2 Lý luận về phát triển bền vững làng nghề truyền thống
!"
* %17L
Năm 1984, Bà Gro Harlem Brundtland khi đó làm thủ tướng Na Uy đã được
đại hội đồng Liên hợp quốc ủy nhiệm làm Chủ tịch ủy ban môi trường và phát triển
thế giới (WCED) nay còn gọi là ủy ban Brundtland. Năm 1987, trong bản báo cáo
“Tương lai của chúng ta” do ủy ban Brundtland đã công bố thuật ngữ “Phát triển
bền vững” dịch sang tiếng anh là Sustainable Development, nó được định nghĩa đó
là “sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không tổn hại đến khả
năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” và được thế giới công nhận là khái
niệm chính thức.
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de
Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền
vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định “phát
triển bền vững” là quá trình có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt
19
của sự phát triển gồm: Phát triển kinh tế (nhất là tang trưởng kinh tế), phát triển xã
hội (nhất là thực hiện tiến bộ , công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo và giải quyết
việc làm) và bảo về môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải
thiện chất lượng môi trường, phòng chống cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý
và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên).
Ở Việt Nam, ngày 17 tháng 8 năm 2004 Việt Nam đã có Quyết định số
phát triển của thế hệ hiện tại. Mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu
đó của các thế hệ tương lai.
Thực chất sự phát triển bền vững LNTT về kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế,
tăng năng suất lao động trong tương lai. Về xã hội là nâng cao chất lượng cuộc
sống, mức sống, trình độ dân trí và các giá trị đạo đức của làng nghề. Về môi
trường là giảm thiểu ô nhiễm, nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường. Như vậy,
phát triển bền vững LNTT là một nội dung trong chiến lược phát triển bền vững mà
đảng và Nhà nước ta đã đưa ra. Hoạt động làng nghề chính là một thực thể gắn liền
với phát triển bền vững.
LNTT là một hoạt động kinh tế tổng hợp có định hướng về tài nguyên rõ rệt
và có nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao.
Chính vì vậy, sự phát triển làng nghề bền vững đòi hỏi có sự nỗ lực của toàn xã hội.
21
%C;%17L)%&%*;%1M
4N
O I8;;JP!0=!1G!!H!5M";Q*E9
#R.
Phát triển bền vững làng nghề truyền thống có vai trò tích cực góp phần tăng
tỷ trọng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, chuyển lao động từ sản xuất
nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao
hơn. Hơn nữa, kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập và giá trị sản lượng
cao hơn so với sản xuất nông nghiệp; do từng bước tiếp cận với kinh tế thị trường,
năng lực kinh doanh được nâng lên, người lao động nhanh chóng chuyển sang đầu
tư cho các ngành nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là những ngành mà sản phẩm có
khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước và thế giới.
Làng nghề truyền thống phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở
nông thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động, khác với
sản xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi
một sự thường xuyên cung ứng dịch vụ vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Do đó dịch vụ
nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng phong phú, đem lại thu
đến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi lao động, trẻ em vừa học và tham gia sản
xuất dưới hình thức học nghề hay giúp việc, lực lượng này chiếm một tỉ lệ đáng kể
trong tổng số lao động làng nghề.
Sự phát triển của làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc hạn chế di dân
tự do ở nông thôn. Giảm bớt tác động tiêu cực tới đời sống KT-XH, gây áp lực đối
với dịch vụ, cơ sở hạ tầng xã hội ở thành thị và là một khó khăn lớn trong vấn đề
quản lí đô thị. Việc phát triển các làng nghề được thúc đẩy ở khu vực nông thôn,
ngoại thị là chuyển biến quan trọng tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập và cải thiện
đời sống nông dân. Phát triển làng nghề theo phương châm “Ly nông, bất li hương”
không chỉ có khả năng giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động
mà còn có vai trò tích cực trong việc hạn chế dòng di dân tự do ra đô thị.
23
O .8MP!0=F%:0G8
Các làng nghề truyền thống đã phá vỡ thế độc canh trong các làng thuần
nông, mở ra hướng phát triển mới với nhiều nghề ở nông thôn. Đồng thời cùng với
sản xuất nông nghiệp, làng nghề đã đem lại hiệu quả cao trong việc sử dụng hợp lý
các nguồn lực ở nông thôn như đất đai, vốn, lao động, nguyên vật liệu, công nghệ,
thị trường. Vì vậy, một nền kinh tế hàng hóa với sự đa dạng của các loại sản phẩm
được hình thành và phát triển, trong mối quan hệ với các ngành nghề khác, làng
nghề đóng góp vai trò động lực.
Ở những vùng có nhiều ngành nghề phát triển thường hình thành trung tâm
giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hoá. Những trung tâm này ngày càng
được mở rộng và phát triển, tạo nên một sự đổi mới trong nông thôn. Hơn nữa,
nguồn tích lũy của người dân trong làng nghề cao hơn, có điều kiện để đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, nhà ở, và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt. Dần
dần ở đây hình thành một cụm dân cư với lối sống đô thị ngày một rõ nét, nông
thôn đổi thay và từng bước được đô thị hóa qua việc hình thành các thị trấn, thị tứ.
Vì vậy dễ nhận thấy rằng ở một làng nghề phát triển thì ở đó hình thành một phố
chợ sầm uất của các nhà buôn bán, dịch vụ. Xu hướng đô thị hóa nông thôn là xu
hướng tất yếu, nó thể hiện trình độ phát triển về KT-XH ở nông thôn, là yêu cầu
nghề, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế của quốc gia, địa phương và biểu
hiện như sau:
Yếu tố đầu tiên của phát triển bền vững LNTT là tăng năng suất lao động.
Năng suất lao động lại phụ thuộc vào các nhân tố sau: Thứ nhất là việc đào tạo, dạy
nghề, truyền nghề trong Làng nghề để các thế hệ lao động tiếp theo có khả năng
duy trì, bảo tồn các kỹ xảo truyền thống của cha ông. Thứ hai là khả năng áp dụng
công nghệ mới vào quá trình sản xuất. Nghiên cứu, sử dụng công nghệ hiện đại thay
thế công nghệ cũ để tiết kiệm tiêu hao năng lượng, giảm bớt sức lao động, giảm
thiểu ô nhiễm. Nâng cao hiệu suất sử dụng tư liệu sản xuất. Thứ ba là các chủ thể
25