i
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn “Quản lý nhà nước về phát triển làng
nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội” là công
trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn
của PGS.TS Hoàng Văn Thành.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn
này hoàn toàn trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Nguyễn Thị Kim Ngân
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện Luận văn Thạc sỹ tại trường
Đại học Thương Mại, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Khóa sau
đại học Trường Đại học Thương mại; phòng kinh tế huyện Thạch Thất,
UBND huyện Thạch Thất, quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã
tạo điều kiện về thời gian, kinh phí, hướng dẫn nội dung, cung câp tài liệu và
thông tin cần thiết.
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn sau sắc đến tập thể cán bộ, giảng
viên Trường Đại học Thương Mại đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá
trình học tập chương trình Thạc sỹ khóa 20A – chuyên ngành Quản lý kinh tế
tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hoàng Văn Thành, Trưởng phòng
Khảo thí và Kiểm định chất lượng đã tận tình hướng dẫn và có những đóng
DLTC
Dữ liệu thứ cấp
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
KT – XH
Kinh tế xã hội
LNTT
Làng nghề truyền thống
HTX
Hợp tác xã
UBND
Ủy ban nhân dân
GPMB
Giải phóng mặt bằng
NN & PTNT
Thạch Thất trở thành huyện công nghiệp, đô thị.
Trong những năm qua các làng nghề truyền thống tiếp tục giữ vững và
ngày càng phát triển, nhiều làng nghề phát triển mạnh như: Làng nghề nghề
Cơ kim khí Phùng Xá, Mộc Chàng Sơn, Mộc may Hữu Bằng, Mộc xây dựng
Canh Nậu, Mộc làm nhà cổ truyền Hương Ngải……
Tuy nhiên, các làng nghề phát triển còn thiếu tính bền vững, quy mô sản
xuất còn nhỏ lẻ, công nghệ, thiết bị sản xuất còn lạc hậu, chất lượng sản phẩm
chưa cao, hầu hết sản phẩm chưa có thương hiệu, một số nghề truyền thống bị
mai một, sản xuất còn chạy theo thị hiếu thị trường và chạy theo lợi nhuận ít
chú ý đến thương hiệu sản phẩm. Đội ngũ nghệ nhân thợ giỏi truyền thống
2
đang dần mai một, môi trường ở các làng nghề bị ô nhiễm, cơ sở hạ tầng và
dịch vụ phục vụ sản xuất ở các làng nghề chưa đồng bộ.
Mặt khác, cùng với sự tăng trưởng kinh tế là quá trình đô thị hóa diễn ra
với tốc độ ngày càng nhanh, hiện tượng người lao động từ các làng quê dịch
chuyển ra các thành phố lớn là rất lớn. Vì vậy, việc phát triển các nghề và
làng nghề nông thôn cũng như các làng nghề mới có ý nghĩa quan trọng
không chỉ về mặt kinh tế mà còn góp phần ổn định chính trị xã hội.
Với lý do trên, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Quản lý Nhà nước về phát
triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, Thành phố Hà
Nội” làm luận văn thạc sĩ nhằm góp phần giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Công tác QLNN về phát triển làng nghề truyền thống đã có nhiều công
trình nghiên cứu trên các góc độ khác nhau trong phạm vi cả nước. Trong đó
phải kể tới các công trình tiêu biểu như:
- Tác giả Trần Thị Minh Nguyệt (2008) nghiên cứu đề tài “ Quản lý nhà
nước với phát triển nghề và làng nghề Hà Tây giai đoạn hiện nay”, Luận văn
Thạch Thất nhằm góp phần thúc đẩy làng nghề truyền thống phát triển bền
vững, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới hiện nay.
Để giải quyết được mục tiêu nghiên cứu nói trên, đề tài cần phải thực
hiện được 3 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về QLNN về phát triển làng
nghề truyền thống trên địa bàn huyện.
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng QLNN về phát triển triển làng nghề
truyền thống những năm qua; từ đó nhận định những thành công, hạn chế
đồng thời xác định nguyên nhân của những thành công, hạn chế trong công
tác QLNN đối với phát triển làng nghề truyền thống;
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị thiết thực, có tính khả thi nhằm
hoàn thiện QLNN về phát triển làng nghề truyền thống thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là QLNN về phát triển làng nghề truyền
thống trên địa bàn huyện Thạch Thất.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Về không gian: Đề tài giới hạn nghiên cứu trên địa bàn huyện Thạch
Thất.
- Về thời gian: Đề tài giới hạn sử dụng dữ liệu thứ cấp nghiên cứu thực
trạng trong 5 năm gần đây (2010-2015). Đề tài định hướng đề xuất giải
pháp và kiến nghị hoàn thiện QLNN về phát triển làng nghề truyền thống
đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng những phương pháp khác
nhau, bổ sung cho nhau để giải quyết mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt
ra. Cụ thể, đề tài sử dụng hai nhóm phương pháp là phương pháp thu thập dữ
xuất, kinh doanh của làng nghề qua các năm, tỷ trọng sản xuất công nghiệp –
tiểu thủ công nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài đã góp phần hệ thống hóa và sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận
cơ bản về phát triển làng nghề, QLNN về phát triển làng nghề các nhân tố môi
trường ảnh hưởng đến phát triển làng nghề của địa phương; kinh nghiệm
QLNN về phát triển làng nghề của một số địa phương trong cả nước và bài
học kinh nghiệm cho huyện Thạch Thất.
Đề tài có thể là tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác giảng dạy, học
tập của khối đại học kinh tế. Những kết quả nghiên cứu của đề tài còn là tài
liệu tham khảo cho các cơ quan QLNN trong việc nghiên cứu hoạch định
chính sách phát triển kinh tế nói chung và của huyện nói riêng.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài Lời cảm ơn, Lời cam đoan, Mục lục, Danh mục các từ viết tắt, Mở
đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về làng nghề và làng nghề
truyền thống.
6
Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước về phát triển làng nghề truyền
thống trên địa bàn huyện Thạch Thất.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý Nhà nước về
phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất.
7
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
8
làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị
trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại
sản phẩm khác nhau”.
Thực tế cho thấy “Làng nghề” là một tập hợp từ thể hiện một không gian
vùng quê nông thôn, ở đó có những hộ thuộc một số dòng tộc nhất định sinh
sống. Ngoài sản xuất nông nghiệp, họ còn có một số nghề sản xuất phi nông
nghiệp. Trong các làng nghề này tồn tại đan xen nhiều mối quan hệ kinh tế, xã
hội phong phú và phức tạp. Làng nghề là những làng ở nông thôn có những
nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và thu nhập so với
nghề nông.
Như vậy Làng nghề là một thiết chế KT-XH ở nông thôn, được cấu
thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lí nhất
định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là
chính, giữa họ có mối liên kết chặt chẽ về kinh tế - xã hội và văn hóa.
Ngày nay, làng nghề được hiểu theo nghĩa rộng, không bó hẹp trong
phạm vi hành chính của một làng mà gồm một hoặc một số làng cùng một
tiểu vùng, cùng địa lí kinh tế, cùng sản xuất một chủng loại hàng hóa truyền
thống hoặc cùng kinh doanh liên quan đến một nghề phi nông nghiệp và có
quan hệ mật thiết với nhau về KT-XH.
Mặt khác, có những địa phương tất cả các làng trong xã đều là làng nghề,
trong trường hợp này, người ta gọi là “Xã nghề”. Ngành nghề phi nông
nghiệp ở các làng nghề cũng được mở rộng, bao gồm các hoạt động kinh tế
phi nông nghiệp như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các dịch vụ phục vụ
sản xuất và đời sống có quy mô vừa và nhỏ, với các thành phần kinh tế và các
tổ chức kinh doanh như: hộ sản xuất, tổ hợp, hợp tác xã, doanh nghiệp tư
nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần...
1.1.1.2 Khái niệm làng nghề truyền thống
Khái niệm làng nghề truyền thống (LNTT) được khái quát dựa trên hai
tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định của
thông tư này, tức:
10
+ Số hộ và số lao động trong làng nghề truyền thống đạt từ 50% trở lên
so với tổng số lao động của làng.
+ Giá trị sản xuất và thu nhập từ làng nghề truyền thống đạt từ 50% tổng
giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm.
+ Sản phẩm làm ra có tính thẩm mỹ mang đạm nét yếu tố và bản sắc văn
hóa dân tộc Việt Nam.
+ Sản xuất có quy trình công nghệ nhất định được truyền từ đời này
sang đời khác.
+ Thu nhập bình quân trên một người và tổng nguồn vốn để giành được
cao hơn so với hộ chỉ làm nghề nông nghiệp
- Đối với những làng nghề chưa đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường theo
quy định thì vẫn được xét công nhận làng nghề truyền thống khi đã có đề án,
dự án nghiên cứu đánh giá tác động môi trường và đề ra các biện pháp xử lý
khắc phục ô nhiễm môi trường.
1.1.1.3 Đặc điểm của làng nghề truyền thống
Thứ nhất, việc sản xuất kinh doanh của các làng nghề truyền thống gắn
liền với hộ gia đình và nông nghiệp nông thôn.
Như chúng ta đã biết, các làng nghề truyền thống làm nghề thủ công, các
nguyên liệu đầu vào phục vụ quá trình sản xuất đều bắt đầu từ nông nghiệp,
nông thôn. Lao động trong các làng nghề truyền thống là các nông dân,
nguyên liệu họ làm ra sản phẩm chính là các sản phẩm từ nông nghiệp. Họ
tiến hành sản xuất theo các hộ gia đình, mỗi người trong gia đình là một lao
động làm một công đoạn nhất định để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh. Việc quản
lý sản xuất, phân công lao động, sắp xếp thời gian do họ tự thực hiện sao cho
người sử dụng. Do đặc điểm điều kiện sản xuất kinh doanh, sản phẩm làng
nghề truyền thống in đậm dấu ấn người thợ nên khó sản xuất đại trà, mà chỉ
sản xuất đơn chiếc. Đây là một trong những nhược điểm khiến sản phẩm làng
nghề truyền thống khó đáp ứng được nhu cầu đơn hàng lớn và chất lượng sản
phẩm không đồng đều.
12
Khi nền kinh tế phát triển, quan hệ giao lưu thương mại ngày càng mở
rộng thỉ sản phẩm làng nghề truyền thống có sự hỗ trợ của yếu tố công nghệ.
Sản phẩm làm ra đồng đều hơn, số lượng lớn hơn đáp ứng nhu cầu đa dạng,
phong phú của người mua. Tuy nhiên tùy theo từng loại sản phẩm để đổi mới
công nghệ, có những loại sản phẩm vẫn cần phải đảm bảo quy trình sản xuất
theo công nghệ truyền thống. Nhờ đó giữ được yếu tố truyền thống, bản sắc
văn hóa dân tộc, vùng miền không hề mất đi, nó vẫn mang đạm nét văn hóa,
tinh thần dân tộc và sự sáng tạo không ngừng của nghệ nhân làng nghề.
Thứ ba, việc tổ chức sản xuất kinh doanh tại các làng nghề truyền thống
nhỏ lẻ, manh mún.
Ngay từ khi hình thanh, quy mô sản xuất trong các làng nghề truyền
thống chủ yếu là hộ gia đình huyết thống gắn với các phường nghề, hội nghề.
Trong thời kỳ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quy mô sản xuất làng nghề
truyền thống được thể hiện thành các Đội ngành nghề dưới sự quản lý của
Hợp tác xã (đội chuyên làm gốm, làm mộc, làm sơn mài, khảm trai…), đối
với những đội có đông thợ thủ công thì thành lập HTX thủ công nghiệp. Tuy
vậy HTX hay Đội ngành nghề thì quy mô hoạt động vẫn chưa lớn, chất lượng
hiệu quả còn thấp và cho tới nay các mô hình này không còn tồn tại.
Trong thời kỳ hiện nay, dưới tác động của cơ chế thị trường hoạt động
sản xuất kinh doanh của làng nghề truyền thống trở về với mô hình truyền
thống là hộ gia đình, đồng thời xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân, các công
mối mọt không thể đóng gói được), nghề dệt…
Như vậy, công nghệ sản xuất sản phẩm làng nghề truyền thống không
giống với các sản phẩm công nghiệp khác, nó được sản xuất đơn chiếc dưới
bàn tay con người, phụ thuộc lớn vào thời tiết. Nó không được sản xuất đồng
loạt theo dây chuyền công nghẹ, mỗi sản phẩm của làng nghề truyền thống
được coi là một tác phẩm nghệ thuật chứa đựng phong cách rieng, nét sáng
tạo riêng của con người.
1.1.2 Phát triển làng nghề truyền thống.
1.1.2.1 Khái niệm
Phát triển là việc nâng cao phúc lợi nhân dân, nâng cao các tiêu chuẩn
sống, cải thiện giáo dục, sức khỏe và đảm bảo sự bình đẳng cũng như quyền
14
công dân. Phát triển còn được được định nghĩa là sự tăng trưởng bền vững về
các tiêu chuẩn sống bao gồm tiêu dùng, vật chất, giáo dục, sức khỏe và bảo vệ
môi trường.
Như vậy, phát triển làng nghề truyền thống là sự tăng lên về quy mô và
phải đảm bảo hiệu quả sản xuất của các làng nghề truyền thống. Sự tăng lên
về quy mô được hiểu là sự mở rộng về sản xuất của từng làng nghề và số
lượng làng nghề được tăng lên theo thời gian và không gian (làng nghề mới),
trong đó có làng nghề cũ được củng cố, làng nghề mới được hình thành. Từ
đó giá trị sản lượng của làng nghề không ngừng được tăng lên, nó sẽ thể hiện
sự tăng trưởng của làng nghề. Sự phát triển làng nghề truyền thống phải đảm
bảo hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường.
Bên cạnh đó, phát triển làng nghề truyền thống phải có kế hoạch, quy
hoạch, sử dụng các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn,
nguyên liệu cho sản xuất…đảm bảo hợp lý có hiệu quả, nâng cao mức sống
người lao động, không gây ô nhiễm môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa
hợp với thời đại hiện nay và mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng tời có thể
giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường, nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho người dân, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.
1.1.3 Quản lý Nhà nước đối với phát triển làng nghề truyền thống
1.1.3.1 Khái niệm Quản lý Nhà nước đối với phát triển làng nghề truyền thống
Quản lý nhà nước đối với phát triển làng nghề truyền thống là việc áp
dụng hệ thống các công cụ quản lý bao gồm pháp luật, chính sách, quy hoạch,
kế hoạch tác động vào đối tượng quản lý để hướng dẫn các làng nghề truyền
thống của địa phương phát triển đúng theo định hướng đã đặt ra trên cơ sở sử
dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế.
1.1.3.2 Vai trò của Quản lý Nhà nước đối với phát triển làng nghề truyền thống
Quản lý nhà nước đối với phát triển làng nghề truyền thống có vai trò sau:
Thứ nhất, QLNN đối với phát triển làng nghề truyền thống sẽ định
hướng cho các hoạt động sản xuất sản phẩm làng nghề của địa phương phát
triển theo đúng mục tiêu của địa phương đã đề ra trên cơ sở tạo lập môi
trường thuận lợi cho các làng nghề tại địa phương tiếp cận với các yếu tố tài
nguyên, nguồn nhân lực.
Thứ hai, QLNN đối với phát triển làng nghề truyền thống có vai trò điều
tiết các nguồn lực, phân bổ hợp lý nguồn tài nguyên phù hợp với đặc điểm
từng ngành nghề của địa phương. Bằng công cụ quản lý, cơ quan QLNN sẽ
16
giám sát các hoạt động kinh doanh của các làng nghề và có những biện pháp
thích hợp để xử lý nếu có vi phạm xảy ra.
Thứ ba, QLNN đối với phát triển làng nghề truyền thống có vai trò giám
sát, đảm bảo phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của các làng nghề nhằm đảm bảo tính công bằng, đảm bảo
quyền và nghĩa vụ của các cơ sở sản xuất kinh doanh, từ đó bảo tồn giá trị văn
chuẩn hóa làm trong sạch đội ngũ cán bộ QLNN về phát triển làng nghề
truyền thống. Mặt khác, phương pháp này được thực hiện trên cơ sở xây
dựng, ban hành các chủ trương, đường lối, chính sách, định hướng cho các
làng nghề truyền thống thực hiện theo đúng chủ trương và chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của đất nước.
Phương pháp giáo dục, là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận
thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác, tích cực và nhiệt
tình lao động của họ trong việc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Để góp
phần thực hiện tốt các nội dung QLNN về phát triển làng nghề truyền thống,
thông qua các phương tiện có thể tuyên truyền, giáo dục người dân trong các
làng nghề nâng cao ý thức, trách nhiệm, bảo tồn các giá trị văn hóa của dân
tộc, làm giàu cho bản thân và đất nước.
b. Công cụ QLNN đối với phát triển làng nghề truyền thống.
Để thực hiện chức năng quản lý của mình, Nhà nước có thể sử dụng các
công cụ bao gồm: Kế hoạch, chính sách và pháp luật
Công cụ kế hoạch: Nhà nước có những định hướng về phát triển làng
nghề truyền thống theo mục tiêu đã đề ra. Chính quyền địa phương xây dựng
và triển khai kịp thời các chiến lược nhằm phát triển làng nghề truyền thống,
quy hoạch và đưa ra các kế hoạch cụ thể hướng các làng nghề truyền thống
của địa phương phù hợp với điều kiện của mỗi địa phương và quy hoạch tổng
thể các nguồn lực được sử dụng tối ưu. Nhờ đó mà các cơ quan QLNN có cơ
sở để kiểm tra, đánh giá các hoạt động đúng định hướng hay không. Quy
hoạch làng nghề phù hợp với tính phát triển đặc thù của các ngành nghề.
Công cụ pháp luật: Pháp luật là hệ thống các quy tắc chung có tính bắt
buộc thể hiện ý chí của Nhà nước và cộng đồng xã hội, do Nhà nước đặt ra,
thực thi và bảo vệ nhằm phát triển xã hội theo tính đặc trưng đã định. Trong
18
kinh doanh của doanh nghiệp, giấy phép kinh doanh.Bên cạnh việc ban hành
các văn bản quy phạm pháp luật, Nhà nước cũng thực hiện việc chỉ đạo,
hướng dẫn tổ chức thực hiện tới các đối tượng chịu ảnh hưởng.
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật còn có sự tham gia phối
hợp của các ngành, các đơn vị có liên quan. Với chức trách và nhiệm vụ được
giao, các cơ quan có liên quan phải có trách nhiệm xây dựng hệ thống thông
tin đầy đủ, kịp thời.
Nhà nước đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo
điều kiện thúc đẩy phát triển làng nghề truyền thống như:
- Chương trình 05-CTr/TU ngày 10/5/2006 của Thành Ủy Hà Nội về
phát triển kinh tế ngoại thành và lộ trình thực hiện để phát triển kinh tế
ngoại thành.
- Kế hoạch số 86/KH-UBND ngày 04/7/2011 của UBND Thành phố Hà
Nội về việc thực hiện triển khai “Đề án bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề
Hà Nội giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020” giai đoạn 2011-2015.
- Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ Về phát
triển ngành nghề nông thôn tập trung vào một số nội dung cụ thể như bảo tồn
và phát triển làng nghề, tạo mặt bằng sản xuất, ưu đãi về đầu tư tín dụng, xúc
tiến thương mại, hỗ trợ về khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực
- Nghị quyết số 26 NQ/TU ngày 29/6/2007 của Tỉnh ủy Hà Tây về phát
triển kinh tế làng nghề đến năm 2015 và những năm tiếp theo
- Quyết định số 14/QĐ – UBND ngày 02/01/2013 của UBND thành phố
Hà Nội Ban hành về việc phê duyệt quy hoạch phát triển làng nghề thành phố
Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
- Quyết định số 22/2008/QĐ-UBND ngày 02/5/2008 của UBND thành
phố Hà Nội Ban hành “Quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển nghề và
làng nghề Hà Nội”.