Y học thực hành (859) - số 2/2013
129
(P= 0.89) và nhóm học sinh (P= 0.47) đều không
có liên quan tới thực hành [4].
Không có mối liên hệ giữa vệ sinh hộ gia đình với
các yếu tố.
Không có sự liên quan giữa TH chung sau can
thiệp với các yếu tố nh: Giới, nghề nghiệp (làm
ruộng, nghề khác), trình độ học vấn ( tiểu học, > tiểu
học), đã từng mắc bệnh SXHD hay cha từng mắc
bệnh.Tuổi, kinh tế có liên quan với TH chung sau can
thiệp.
KếT LUậN
1. KT-TĐ-TH đúng về phòng chống SXHD. KT
đúng về phòng chống sốt xuất huyết dengue của
nhóm nghiên cứu trớc can thiệp là 04.4%, sau khi
can thiệp là 20.40%; của nhóm chứng trớc can thiệp
02.50%, sau khi can thiệp là 09.50%.TĐ đúng về
phòng chống phòng chống sốt xuất huyết dengue của
nhóm nghiên cứu trớc can thiệp là 08.00%, sau khi
can thiệp là 22.20%; của nhóm chứng trớc can thiệp
02.90%, sau khi can thiệp là 07.30%.TH đúng về
phòng chống sốt xuất huyết dengue của nhóm nghiên
cứu trớc can thiệp 04.40%, sau khi can thiệp là
13.80%; của nhóm chứng trớc can thiệp 03.30%,
sau khi can thiệp là 07.30%.
Hiệu quả can thiệp từ 25% đến 93%: Hiệu quả
(2010), Hiệu quả của một chơng trình giáo dục sức
khỏe về phòng chống sốt xuất huyết cho học sinh trung
học cơ sở tỉnh Bình Dơng 2009, Y học TP Hồ Chí Minh,
14 (phụ bản 1), tr.169-176.
4. Saravit Khoonjun (2007), The evalution of Youth
empowerment against dengue haemorrhagic fever
project, Chulalngkorn University, Bangkok, Thailand.
5. R.M Monika Paul (2006), A study to assess the
KAP of women regarding prevention of dengue fever in
Singasandra PHC area, Bangalore south with a view to
develop an information booklet, Rajiv Gandi University of
Health science, Bangalore, India.
LIÊN QUAN NồNG Độ BRAIN NATRIURETIC PEPTIDE VớI MộT Số ĐặC ĐIểM HìNH THáI
Và HUYếT ĐộNG TRÊN SIÊU ÂM DOPPLER TIM ở BệNH NHÂN ĐợT CấP SUY TIM MạN TíNH
Trần Quốc Việt - Học viện Quân y
Lê Đức Quyền - Bệnh viện 175- Bộ Quốc phòng
lÊ VIệT THắNG - Bệnh viện 103
TóM TắT
Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ peptide lợi
niệu (Brain Natriuretic Peptide-BNP) huyết thanh với
một số đặc điểm hình thái và huyết động trên siêu âm
Doppler tim của 114 bệnh nhân đợc chẩn đoán đợt
cấp suy tim mạn tính, kết quả cho thấy: nhóm bệnh
nhân có rối loạn vận động thành cơ tim có nồng độ
BNP huyết thanh cao hơn nhóm không có rối loạn có
ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Nồng độ BNP huyết
thanh có mối tơng quan thuận mức độ vừa với đờng
kính thất trái cuối tâm trơng, r=0,35; tơng quan
qua nớc tiểu, nó đợc phóng thích ra bởi các tâm
thất khi các buồng tim này giãn ra. Việc phóng thích
BNP tỉ lệ thuận với sự gia tăng thể tích và áp lực quá
tải của tâm thất. BNP tăng khi có suy tim phải hoặc
suy tim trái, suy tim tâm thu hoặc suy tim tâm trơng
do bất kỳ nguyên nhân nào. Nó là một yếu tố báo
hiệu độc lập cho sự tăng áp suất của thất trái ở cuối
thời kỳ tâm trơng, có độ nhạy là 98% trong chẩn
đoán suy tim và đặc biệt hơn nữa có giá trị chẩn đoán
loại trừ suy tim cao. Trên thế giới có nhiều công trình
nghiên cứu về biến đổi nồng độ BNP huyết thanh, giá
trị của BNP trong chẩn đoán, tiên lợng điều trị bệnh
nhân suy tim. Các nghiên cứu đều khẳng định ở bệnh
nhân suy tim mạn và đợt cấp của suy tim mạn tính
nồng độ BNP tăng, có thể là yếu tố tiên lợng độc lập
cho tiến triển và tỷ lệ tử vong của bệnh nhân suy tim.
Mức độ tăng BNP huyết thanh liên quan đến một số
đặc điểm hình thái và chức năng tim. Việt Nam, có
nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của BNP ở
bệnh nhân suy tim mạn tính, tuy nhiên còn nhiều
điểm cha đợc sáng tỏ mối liên quan BNP huyết
thanh với một số chỉ số huyết động và hình thái tim
trên siêu âm Doppler ở nhóm bệnh nhân đợt cấp suy
tim mạn tính. Chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu này
với mục tiêu: Khảo sát liên quan nồng độ BNP huyết
thanh với một số đặc điểm hình thái và huyết động
trên siêu âm Doppler tim ở bệnh nhân đợc chẩn
đoán đợt cấp suy tim mạn tính.
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
Đối tợng nghiên cứu:
+ Các bệnh nhân khó thở do nguyên nhân suy tim
đợc khám lâm sàng tỉ mỉ, làm xét nghiệm BNP trong
máu, làm điện tâm đồ, x-quang tim phổi, siêu âm tim,
các xét nghiệm sinh hoá và huyết học, và tìm các yếu
tố nguy cơ; yếu tố làm suy tim nặng lên.
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim mạn theo
Framingham (1993).
* Tiêu chuẩn chính:
Khó thở kịch phát về đêm
Tĩnh mạch cổ nổi
Ran nổ ở 2 nền phổi
Tim to trên x-quang
Phù phổi cấp
Nhịp ngựa phi
Tăng áp tĩnh nạch trung ơng (> 16cmH
2
O)
Phản hồi gan tĩnh mạch cảnh dơng tính
* Tiêu chuẩn phụ:
Phù ngoại vi
Ho về đêm
Khó thở khi hoạt động thể lực
Gan to
Tràn dịch màng phổi
Dung tích sống giảm 1/3 so với ngời bình thờng
Nhịp tim nhanh (>120 lần/phút)
Chẩn đoán suy tim mạn tính phải có 3 tiêu chuẩn
trở lên: ít nhất 1 tiêu chuẩn chính và 2 tiêu chuẩn phụ,
hoặc 2 tiêu chuẩn chính.
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim mạn đợt cấp:
15,17
69,15
14,88
<0,05
Y học thực hành (859) - số 2/2013
131
FS %
29,85
10,86
25,50
11,57
17,92
8,21
<0,05
EF %
52,70
16,67
45,42
19,62
38,38
18,30
<0,05
LAd (mm)
44,00
10.80
48,74
Rối loạn vận
động thành
Không rối loạn
(n = 46)
1665,66 854,56
<0,05
Có (n = 18)
2594,02 1884,70
Tràn dịch
màng ngoài
tim
Không
(n = 96)
1982,471602,96
>0,05
Nhận xét:
+ Nồng độ BNP nhóm bệnh nhân có rối loạn vận
động thành trên siêu âm tim tăng cao hơn có ý nghĩa
thống kê so với nhóm bệnh nhân không có rối loạn
với p < 0,05.
+ Cha thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống về tăng
nồng độ BNP huyết thanh ở nhóm bệnh nhân có tràn
dịch màng tim; đờng kính nhĩ trái 50 mm, so với
nhóm không có biểu hiện này với p > 0,05.
y = -27.893x + 3408.4
r = - 0.32, p < 0.05
0
tăng nồng độ BNP huyết thanh với giảm phân suất co
rút cơ tim ở bệnh nhân suy tim, với r= - 0,34, p < 0,05.
y = 39.443x - 183.01
r = 0.35, p< 0.05
0
1000
2000
3000
4000
5000
6000
7000
0 20 40 60 80 100
Biểu đồ 3: Tơng quan giữa nồng độ BNP và đờng kính thất
trái cuối thì tâm trơng
Nhận xét: Có tơng quan thuận mức độ vừa giữa
tăng nồng độ BNP huyết thanh với tăng đờng kính
thất trái cuối thì tâm trơng ở bệnh nhân suy tim, với
r=0,35, p < 0,05.
BàN LUậN
Siêu âm đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán,
theo dõi bệnh nhân suy tim. Bên cạnh cho phép chẩn
đóan các nguyên nhân gây suy tim nh: bệnh van
tim, bệnh tim bẩm sinhsiêu âm còn cho phép đánh
giá hình thái, kích thớc các buồng tim từ đó xác định
đợc chức năng thất trái, khối lợng cơ thất trái, tình
trạng vận động vùng. Nghiên cứu chúng tôi ghi nhận
các chỉ số trung bình của đờng kính thất trái cuối
25,5011,57; 17,928,21, điều này cho thấy phân
suất co rút thất trái giảm rõ ở phân độ suy tim nặng
với p < 0,05. Nh vậy suy tim càng nặng FS càng
giảm. Phân suất tống máu thất trái (EF%) là chỉ số
siêu âm đợc các nhà lâm sàng quan tâm nhất trong
việc đánh giá chức năng tâm thu thất trái. Trong 114
bệnh nhân suy tim chia theo phân độ NYHA, chỉ số
trung bình phân suất tống máu (EF) theo phân độ
NYHA II , NYHA III và NYHA IV lần lợt là:
52,7016,67%; 45,4219,62% và 38,3818,30%. Kết
quả cho thấy suy tim càng nặng tỉ lệ thuận với số
bệnh nhân suy chức năng tâm thu.
Mối liên quan giữa nồng độ BNP với một số chỉ số
chỉ siêu âm tim: chúng tôi thấy ở bệnh nhân có rối
loạn vận động thành tim có nồng độ BNP huyết thanh
tăng cao hơn nhóm không rối loạn vận động thành
tim, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05. Hình
ảnh rối loạn vận động thành tim gặp ở bệnh nhân suy
tim do bệnh cơ tim thiếu máu, bệnh cơ tim thể dãn.
Điều này lý giải những bệnh nhân suy tim do bệnh lý
cơ tim có rối loạn vận động thành tim làm tăng gánh
và dãn buồng tim có nồng độ BNP trong huyết thanh
tăng cao hơn nhóm không có rối loạn thành tim.
Chúng tôi cha thấy sự khác biệt về tăng nồng độ
BNP huyết thanh giữa nhóm bệnh nhân có tràn dịch
màng tim với nhóm không có tràn dịch màng ngoài
tim; tơng tự nồng độ BNP không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê giữa nhóm có đờng kính nhĩ trái 50
mm với nhóm có đờng kính < 50mm.
Mối liên quan giữa biến đổi nồng độ BNP với phân
BNP trong huyết thanh và phân suất tống máu có ý
nghĩa rất lớn trong thực hành lâm sàng. Việc kết hợp
cả hai giá trị này sẽ giúp làm tăng thêm độ chính xác
trong việc đánh giá mức độ suy tim.
Mối liên quan giữa nồng độ BNP và phân suất co
rút cơ tim: Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy có
mối tơng quan nghịch giữa nồng độ BNP và phân
suất co rút cơ tim với r = - 0,35, p < 0,05. Bằng phép
so sánh nồng độ BNP trung bình giữa hai phân nhóm
cho thấy phân nhóm có chỉ số co rút cơ tim < 26% có
nồng độ BNP cao hơn nhóm có chỉ số co rút cơ tim
26% với mức có ý nghĩa thống kê p < 0,05. Điều đó
cho thấy có mối liên hệ giữa tăng nồng độ BNP và
giảm chỉ số co rút cơ tim. Kết quả của chúng tôi phù
hợp với nghiên cứu Morrison LK và cộng sự khảo sát
sự tơng quan giữa nồng độ BNP với suy chức năng
tâm thu và chức năng tâm trơng trên 65 bệnh nhân
cho thấy có mối tơng quan nghịch giữa tăng nồng độ
BNP và chỉ số co rút cơ tim. Nghiên cứu mối tơng
quan của BNP và phân suất co rút cơ tim cho thấy
BNP có vai trò rất lớn trong việc đánh giá tình trạng
quá tải của tim.
Mối liên quan giữa nồng độ BNP và đờng kính
thất trái cuối tâm trơng: Có nhiều thông số siêu âm
để đánh giá chức năng tâm thu thất trái nh đờng
kính thất trái cuối tâm trơng (LVDd), đờng kính thất
trái cuối tâm thu (LVDs), đờng kính thất trái tâm
trơng (LVDd), đờng kính thất trái tâm thu (LVDd).
Một số công trình nghiên cứu cho thấy có mối tơng
quan giữa nồng độ BNP huyết thanh với đờng kính
tâm trơng (với r = 0,61; p <0,0001). Sự thay đổi nồng
độ BNP liên quan đến một số chỉ số hình thái và
huyết động trên siêu âm Doppler tim. Mức độ thay đổi
BNP huyết thanh ở bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn
tính do nhiều yếu tố tác động nên. Nghiên cứu các
yếu tố liên quan làm tăng nồng độ BNP huyết thanh
nhằm mục đích có thể điều chỉnh các yếu tố ảnh
hởng, giảm tỷ lệ tử vong, kéo dài cuộc sống và nâng
cao chất lợng cuộc sống của bệnh nhân suy tim
mạn tính.
KếT LUậN
Qua nghiên cứu mối liên quan nồng độ BNP với
một số đặc điểm hình thái và huyết động trên siêu âm
Doppler tim của 114 bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn
tính, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
+ Nhóm bệnh nhân có rối loạn vận động thành cơ
tim có nồng độ BNP huyết thanh cao hơn nhóm
không có rối loạn có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
+ Nồng độ BNP huyết thanh có mối tơng quan
thuận mức độ vừa với đờng kính thất trái cuối tâm
trơng, r = 0,35 và p < 0,05, tơng quan nghịch mức
độ vừa với phân suất tống máu, r = - 0,32 và p < 0,05;
tơng quan nghịch mức độ vừa với phân suất co rút
cơ tim, r = - 0,35 và p < 0,05.
TàI LIệU THAM KHảO
1. TRầN THùY NGÂN, Khảo sát nồng độ Brain
Natriuretic Peptide ở trên nhóm bệnh nhân có yếu tố
nguy cơ cao suy tim, Luận văn thạc sĩ y học. 2004.
2. CAO MINH THÔNG, Khảo sát peptide bài natri ở
lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị trên bệnh
nhân ung th tuyến tiền liệt (UTTTL) giai đoạn muộn
tại bệnh viện K giai đoạn 2005-2011.
Kết quả: PSA trung bình 153,7ng/ml, tỷ lệ thuận
với thể tích khối u, PSA cao hơn ở bệnh nhân có di
căn xơng và tăng dần theo mức độ di căn. Tỷ lệ
sống thêm 3 năm toàn bộ là 69,4%, giảm dần theo
mức độ di căn và tỷ lệ nghịch với nồng độ PSA tại thời
điểm chẩn đoán.
Kết luận: PSA có giá trị trong chẩn đoán, theo dõi
kết quả điều trị và tiên lợng bệnh.
Từ khóa: nồng độ PSA, ung th tuyến tiền liệt
Summary
Purpose: to determine the relation between PSA
level and some factors, the treatment result of
advanced stage prostate cancer patients at K
Hospital from 2005 to 2011.
Result: bone metastase 50%, Medium PSA level
153.7ng/ml, higher in bone metastase patients,
increasing to metastase situation. 3 years OS was
69.4%, decreasing to metastase situation and inverse
proportional to pretreatment PSA level.
Conclusion: level of PSA contributes to diagnose,
follow - up and as pronogstic factor.
Key words: PSA level, prostate cancer
ĐặT VấN Đề
Ung th tuyến tiền liệt (UTTTL) là bệnh đặc thù
riêng và phổ biến ở nam giới trên 65 tuổi, đứng đầu
trong các bệnh hệ tiết niệu. Ung th tiền liệt tuyến là
một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở