Nghiên cứu đặc điểm rối loạn nhịp trên thất bằng holter điện tim 24 giờ ở bệnh nhân van
hai lá do thấp
Tác giả: ThS, BSCK I Nguyễn Thị Thu Hà – BV Quân Y 103; PGS.TS. Nguyễn Oanh Oanh –
PGĐ BV Quân Y 103
TÓM TẮT
Nghiên cứu tiến hành trên 60 bệnh nhân (BN) bệnh van hai lá do thấp. Bệnh nhân được làm điện
tim thường quy và ghi Holter điện tim 24 giờ trong 24 giờ đầu kể từ khi vào viện. Kết quả: 76,7%
bệnh nhân rung nhĩ - cuồng nhĩ; 25% bệnh nhân có tần số tim nhanh ≥ 100 ck/phút; 5% bệnh nhân
có khoảng ngừng xoang > 2,5 giây; 10% bệnh nhân có NTT trên thất; Chưa thấy sự khác biệt về
rối loạn nhịp trên thất theo nhóm bệnh lý. Có mối liên quan giữa rung nhĩ – cuồng nhĩ với mức độ
nặng của hẹp, hở van hai lá, đường kính nhĩ trái, mức độ suy tim theo NYHA, phân số tống máu
EF%, ALĐMP tâm thu và huyết khối - máu quẩn tự nhiên trong nhĩ trái và tiểu nhĩ trái, với p <
0,05 và p < 0,001. Tỷ lệ bệnh nhân NTT trên thất, số lượng NTT trên thất trung bình/24 giờ tăng
theo mức độ nặng của hẹp, hở VHL và sự xuất hiện huyết khối - máu quẩn tự nhiên trong buồng
tim.
* Từ khóa: Bệnh van hai lá do thấp; Rối loạn nhịp trên thất; Holter điện tim 24 giờ.
STUDY OF THE SUPRAVENTRICULAR ARRHYTHMIAS BY HOLTER ECG IN
PATIENTS WITHRHEUMATIC MITRAL VALVE
SUMMARY
We investigated the supraventricular arrhythmias in 60 patients with rheumatic mitral
valve by analyzing 24h ECG recordings. The results showed that 76,7% had atrial fibrillation –
atrial flutter; 25% had tachycardia; 5% had sinus pauses > 2,5 seconds; 10% had
supraventricular premature beats; There isn’t related between supraventricular arrhythmias and
disease group. Atrial fibrillation – atrial flutter related to mitral valve disease, left atrial diameter,
heart failure (NYHA), EF%, pulmonary artery systolic pressure and thrombose – vicious blood
with p < 0,05 and p < 0,001. Both patients with supraventricular premature beats and number of
supraventricular premature beats per 24h increase according to level of mitral valve disease and
apperance of thrombose – vicious blood in heart’s chamber.
* Key words: Rheumatic mitral valve; Supraventricular arrhythmias; Holter ECG.
* Bệnh viện 103 – Học viện Quân y
ĐẶT VẤN ĐỀ
- BN có tổn thương van hai lá kèm tổn thương van ĐMC vừa và nặng.
- BN có tổn thương van hai lá nhưng có bệnh kèm theo cũng gây rối loạn nhịp như: cường chức
năng tuyến giáp, viêm tuyến giáp
- BN rối loạn điện giải, đang dùng thuốc ảnh hưởng nhiều đến rối loạn nhịp như: Atropin, chẹn
thụ thể bêta 1
- BN không đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
2. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu theo phương pháp tiến cứu, mô tả cắt ngang. Trình tự nghiên cứu bao gồm
những bước sau:
- Hỏi bệnh và khám lâm sàng theo mẫu bệnh án nghiên cứu.
- Tiến hành làm các xét nghiệm thường quy: xét nghiệm máu, nước tiểu, X quang tim phổi, điện
tim 12 đạo trình.
- Siêu âm tim: thực hiện siêu âm kiểu TM, 2D, Doppler màu theo hướng dẫn của Hội Tim mạch
học Việt Nam, đo các thông số: LA, Dd, Ds, IVSd, IVSs, LPWs, EF%, áp lực động mạch phổi tâm
thu, diện tích van hai lá, mức độ hở van hai lá, máu đông – máu quẩn trong nhĩ trái và tiểu nhĩ trái.
- Ghi Holter điện tim 24 giờ.
* Các tiêu chuẩn chẩn đoán sử dụng trong nghiên cứu:
- Chẩn đoán mức độ hẹp, hở van hai lá trên siêu âm tim.
- Mức độ tăng áp lực động mạch phổi theo tiêu chuẩn của Eugene Braunwald (1997).
- Chẩn đoán suy tim theo tiêu chuẩn của Framingham 1993
- Chẩn đoán độ suy tim dựa vào bảng phân độ suy tim “Hội tim mạch New York” (NYHA)
- Một số tiêu chuẩn chẩn đoán Holter điện tim theo Minnesota (1982)
* Xử lý số liệu:
Sử dụng các thuật toán thống kê trong y học, phần mềm SPSS 16.0.
Giá trị p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu.
Bảng 1. Đặc điểm phân bố theo nhóm nghiên cứu
Nhóm
SL (n=60)
35
58,3
Cộng
60
100
Sự phân bố của đối tượng nghiên cứu theo mức độ HHL như sau: HHL nhẹ chiếm 11,7%, HHL
vừa chiếm 6,7%, HHL khít là 23,3% và HHL rất khít cao nhất với 58,3%. Kết quả này cũng
tương tự tác giả Zafar Niaz (2005) khi nghiên cứu rung nhĩ trong hẹp van hai lá và mối liên quan
với ĐKNT, diện tích van và huyết khối nhĩ trái thấy: HHL nhẹ, vừa là 12,5%, HHL khít là
21,4% và HHL rất khít chiếm 66,1% [14].
Bảng 3. Mức độ hở van hai lá của nhóm nghiên cứu
Mức độ HoHL
SL (n=60)
Tỷ lệ (%)
Không
9
15
Hở nhẹ
32
53,3
Hở vừa
14
23,3
Hở nặng
5
8,3
Cộng
60
100
Qua khảo sát bằng siêu âm tim thấy có 9 bệnh nhân không có hở van hai lá (15%), bệnh nhân hở
91,83±17,78 Tần số tim nhanh ≥ 100 ck/phút
15
25
Ngừng xoang > 2,5 giây
3
5
Ngoại tâm thu
trên thất
Tỷ lệ bệnh nhân
6
10
SLNTT trên
thất/24h
93,5±113,31 Rung nhĩ
40
66,7
Rung, cuồng nhĩ
6
10
Tần số tim trung bình/24h là 91,83±17,78, tần số tim nhanh gặp ở 15 bệnh nhân chiếm 25%,
không bệnh nhân nào có nhịp chậm. Có 6 bệnh nhân có NTT trên thất với số lượng NTT trên
thất trung bình/24h là 93,5±113,31. Rung nhĩ chiếm đa số với tỷ lệ 66,7%, rung, cuồng nhĩ gặp ở
6 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 10%.
2. Mối liên quan giữa rối loạn nhịp trên thất với mức độ hẹp, hở van hai lá, đường kính nhĩ
rất khít cao hơn nhóm HHL nhẹ và vừa nhưng chưa có ý nghĩa. Tỷ lệ gặp rung nhĩ - cuồng nhĩ ở
nhóm HHL khít và rất khít cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm HHL nhẹ và vừa, với p <
0,001. Kết quả tương tự Nguyễn Thị Minh Tuyết (2001): Rung nhĩ ở nhóm HHL khít chiếm tỷ lệ
cao nhất (80,8%), nhóm HHL vừa và nhẹ tỷ lệ rung nhĩ thấp hơn (50%) [5]. Trịnh Thị Lý
(2010): Rung nhĩ ở nhóm HHL khít chiếm tỷ lệ cao (89,65%), Nhóm HHL chưa khít chiếm tỷ lệ
rung nhĩ thấp hơn (59,52%) [4].
Bảng 7. Mối liên quan giữa RL nhịp trên thất với mức độ hở van hai lá
Các thông số
Không hở + HoHL nhẹ
SL (n = 41)
HoHL vừa + nặng
SL (n = 19)
p
Tần số tim (X±SD)
91,07±17,37
93,47±19
> 0,05
Tỷ lệ BN
5 (12,2%)
1 (5.3%)
-
NTT trên
thất
SLNTT trên
thất/24h
(X±SD)
47,8 ± 19,67
322
-
Rung nhĩ - cuồng nhĩ
Rung nhĩ - cuồng nhĩ
2 (20%)
44 (88%)
< 0,001
Nhóm ĐKNT ≥ 45mm có tỷ lệ rung nhĩ - cuồng nhĩ chiếm 88% cao hơn nhóm ĐKNT < 45mm
là 20%, sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0,001. Kết quả nghiên cứu tương
tự Mrozowska E (1999): kích thước nhĩ trái là yếu tố quan trọng nhất của rung nhĩ. Rung nhĩ có
liên quan chặt chẽ với hẹp van hai lá và bệnh van hai lá kết hợp [10]. Wachtell K (2010): Trong
phân tích đa biến, tăng đường kính nhĩ trái làm tăng nguy cơ khởi phát rung nhĩ mới [13].
Bảng 9. Mối liên quan giữa RL nhịp trên thất với mức độ suy tim theo NYHA
Các chỉ số
Suy tim
NYHA I
SL (n = 4)
Suy tim NYHA
II
SL (n = 10)
Suy tim NYHA
III
SL (n = 46)
p
Tần số tim (X±SD)
80,25±21,77
82,2±11,76
94,93±17,68
< 0,05
NTT
trên
thất
Tỷ lệ BN
Tần số tim (X±SD)
98,5 ± 19,36
91,09 ± 17,63
> 0,05
NTT trên thất
Tỷ lệ BN
0
6 (11,1%)
-
SLNTT trên thất/24h
(X±SD)
0
93,5 ± 113,31
-
Rung nhĩ - cuồng nhĩ
6 (100%)
40 (74,1%)
< 0,001
Tần số tim trung bình ở nhóm bệnh nhân có EF < 40% cao hơn nhóm bệnh nhân EF ≥ 40%, sự
khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Tỷ lệ rung nhĩ - cuồng nhĩ ở nhóm bệnh nhân EF
< 40% (100%) cao hơn nhóm bệnh nhân EF ≥ 40% (74,1%), với p < 0,001 có ý nghĩa thống kê.
Kết quả tương tự tác giả Hanna IR (2006): ở những bệnh nhân có rối loạn chức năng thất trái, tăng
tỷ lệ dự báo nguy cơ cao xuất hiện rung nhĩ độc lập với các yếu tố nguy cơ truyền thống khác cho
các chứng rối loạn nhịp tim [7].
Bảng 11. Mối liên quan giữa rối loạn nhịp trên thất với ALĐMP tâm thu
Các thông số
ALĐMP
bình thường
SL (n=13)-%
ALĐMP
17 (77,3%)
23(92%)
< 0,05
Tỷ lệ gặp rung nhĩ - cuồng nhĩ tăng theo mức độ tăng ALĐMP tâm thu, sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê với p < 0,001. Kết quả trên cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Lê
(2003): tỷ lệ rung nhĩ ở nhóm tăng ALĐMP nhẹ là 11.1% thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm tăng
ALĐMP vừa là 38,6%, với p < 0,05 [3]. Rottlaender D (2012): nghiên cứu về tác động của rung
nhĩ ở BN tăng ALĐMP đã đưa ra kết luận rằng tăng ALĐMP có liên quan với tăng tỷ lệ rung nhĩ.
Sự xuất hiện của rung nhĩ trong trường hợp tăng ALĐMP làm tiến triển và tăng nặng bệnh trên
lâm sàng [11].
Bảng12. Mối liên quan giữa rối loạn nhịp trên thất với huyết khối, máu quẩn tự nhiên trong
nhĩ trái và tiểu nhi trái.
Các thông số
Có HK-MQ
SL (n=26) - (%)
Không HK-MQ
SL (n=34) - (%)
p
Tần số tim (X±SD)
90,73±11,91
92,68±21,35
> 0,05
NTT trên thất
Tỷ lệ BN
1 (3,8%)
5 (14,7%)
-
SLNTT trên
thất/24h
kính nhĩ trái, mức độ suy tim theo NYHA, phân số tống máu EF%, ALĐMP tâm thu và huyết
khối - máu quẩn tự nhiên trong nhĩ trái và tiểu nhĩ trái, với p < 0,05 và p < 0,001.
- Tỷ lệ bệnh nhân NTT trên thất, số lượng NTT trên thất trung bình/24 giờ tăng theo mức độ
nặng của hẹp, hở VHL và sự xuất hiện huyết khối - máu quẩn tự nhiên trong buồng tim. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Phạm Gia Khải, Nguyễn Lân Việt, Phạm Khuê (1996). Hẹp hai lá. Bệnh học nội khoa tập 2.
Nhà xuất bản y học, tr 7 – 10.
2- Nguyễn Phú Kháng (2002), Suy tim. Bệnh học nội khoa tập 1. Nhà xuất bản Quân đội nhân
dân. tr. 58-72.
3- Nguyễn Thị Hồng Lê (2003). Nghiên cứu chỉ số huyết động bằng siêu âm Doppler trước và
sau điều trị phẫu thuật nong kín bệnh hẹp lỗ van hai lá. Luận án tiến sỹ y học, HVQY.
4- Trịnh Thị Lý (2010), Nghiên cứu biến chứng và sự biến đổi về số lượng quần thể tế bào
Lympho T máu ngoại vi ở bệnh nhân hẹp van hai lá do thấp. Luận án tiến sỹ y học, HVQY, tr
54.
5- Nguyễn Thị Minh Tuyết (2001). Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của những biến chứng ở
bệnh nhân bệnh van hai lá. Luận văn thạc sỹ y học, HVQY.
6- Antunes MJ, MagalhaesMP. et al (1987), Valvuloplasty for Rheumatic mitral valve disease. A
surgical challenge, J Thorac Cardiovasc Surg. 1987 Jul;94(1), pp.44-56.
7- Hanna IR et al (2006). The relationship between stature and the prevalence of atrial
fibrillation in patients with left ventricular dysfunction. J Am Coll Cardiol. 2006 Apr
18;47(8):1683-8. Epub 2006 Mar 29.
8- Kligfield P. et al (1985), Complex arrythmias in mitral regurgitation with and without mitral
valve prolapse: contras to arrythmias in mitral valve prolapse without mitral regurgitation, Am J
Cardiol, 1985 Jun 1;55(13Pt 1), pp. 1545-9.
9- Mahmood ul Hassan. et al (2010), Frequency of left atrial and appendage clot in patients with
severe mitral stenosis. J Ayub Med Coll Abbottabad. 2010 Apr-Jun;22(2):40-2.
10- Mrozowska E et al (1999). Atrial fibrillation in mitral valve disease – risk factors. Pol Arch
Wewn. 1999 Jan; 101(1), pp. 45-53.