1
Thực hiện Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI,
Ban cán sự đảng Chính phủ được giao chủ trì xây dựng Đề án "Đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" trình
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 6 (khóa XI). Ban Chấp hành Trung ương
cho rằng đây là vấn đề lớn, hệ trọng và phức tạp, còn nhiều ý kiến khác nhau, do
đó cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết, tạo sự thống nhất cao để ban hành nghị
quyết vào một thời điểm thích hợp. Tại Kết luận số 51-KL/TW ngày 29 tháng 10
năm 2012, Ban Chấp hành Trung ương giao Ban Cán sự đảng Chính phủ chủ trì,
phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tiếp tục nghiên cứu, hoàn chỉnh Đề án
để trình Ban Chấp hành Trung ương.
Từ tháng 01/2013, Ban soạn thảo Đề án tiếp tục triển khai các hoạt động
nghiên cứu, hoàn thiện dự thảo Đề án trên tinh thần khoa học, cầu thị, tiếp thu
các ý kiến góp ý của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Tuyên giáo
Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Hội đồng Khoa học các cơ quan
đảng Trung ương, Hội đồng quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, tiếp thu ý kiến tại nhiều hội thảo khoa học với sự tham gia
của các cơ quan liên quan
1
, nhiều nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và các nhà
khoa học, trong đó có 2 cuộc hội thảo lớn (ngày 11-12/7 tại Hà Nội và ngày 16/7
tại TP. Hồ Chí Minh). Một số nội dung cơ bản của đề án được đăng tải trên các
phương tiện thông tin đại chúng để xin ý kiến rộng rãi của nhân dân. Dự thảo Đề
án đã được gửi xin ý kiến góp ý của một số bộ, ngành, các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương, Liên Hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hội
Khuyến học Việt Nam, Hội Cựu giáo chức Việt Nam
Chính phủ, Ban Cán sự Đảng Chính phủ đã có nhiều phiên họp thảo luận,
hoàn thiện Đề án. Ngày … tháng năm 2013, Bộ Chính trị đã nghe và cho ý
$ $%#%
Nội dung giáo dục đổi mới theo hướng tinh giản, cơ bản, hiện đại, phù hợp
với thực tiễn Việt Nam, gắn lý thuyết với thực hành ứng dụng; chú trọng đổi mới
giáo dục đạo đức, giáo dục công dân, chủ nghĩa Mác – Lênin, ngoại ngữ và tin học.
Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng khắc phục phương
thức truyền thụ áp đặt một chiều, xây dựng phương pháp dạy và học phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học theo phương châm “giảng ít, học
nhiều”; tăng cường các hoạt động xã hội của người học.
Đổi mới phương thức kiểm tra, thi, đánh giá chất lượng giáo dục đảm bảo
tính trung thực, tin cậy; đánh giá kết quả hình thành năng lực, phẩm chất chứ
không dừng lại ở đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức của người học.
Để thực hiện những đổi mới trên, Đề án xác định những giải pháp then
chốt là “đổi mới tư duy giáo dục”, “đổi mới quản lý giáo dục”, “phát triển đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”; trên cơ sở đổi mới tư duy, lấy “đổi
mới kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục” làm giải pháp đột phá.
#;7<=+:
&' Sự cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
& Thực trạng giáo dục Việt Nam
& Định hướng đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo
&( Tổ chức thực hiện
& Những vấn đề xin ý kiến Trung ương và kiến nghị
2
Kèm theo Đề án có 07 phụ lục: (1) Một số dữ liệu về hiện trạng giáo dục
Việt Nam; (2) Một số dữ liệu về dạy nghề; (3) Một số kết quả nổi bật của ngành
giáo dục và đào tạo thực hiện Nghị quyết XI của Đảng; (4)Đề xuất hoàn thiện cơ
cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam; (5) Đề xuất phương án thống nhất
tích hợp và phân hóa trong chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam; (6) Đổi
mới thi - công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học; (7)
Kết quả dự thi Olympic, thi tay nghề quốc tế và khu vực của học sinh Việt Nam.
>+?@
2
Từ khi giành được độc lập năm 1945 đến nay, nước ta đã ba lần tiến hành cải cách giáo dục vào năm 1950, năm
1956 và năm 1981.
3
năng đào tạo và phúc lợi xã hội, mà còn có các chức năng kinh tế, kết nối xã hội,
cạnh tranh quốc tế Để chủ động và tích cực hội nhập quốc tế về giáo dục có
hiệu quả, cần phát huy những giá trị của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc các giá trị
nhân loại và các xu thế đổi mới giáo dục hiện nay trên thế giới.
4. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định “)
# *(+,,
,/,$0%"12” và “#34/5
'54/5'5(60%$$$
# "1/”.
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một công việc hết sức trọng đại,
cần có sự thống nhất trong nhận thức và hành động; phát huy trí tuệ của toàn
Đảng, toàn dân; huy động nhiều nguồn lực với sự phối hợp của nhiều cơ quan,
ban ngành và các tổ chức xã hội. Để cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
XI, cần xây dựng Đề án "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ".
>+?4
ANLLCIMCKO
CPQ#,%)RST%
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, giáo dục đã góp phần chủ đạo trong việc
cung cấp nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đưa đất
nước vượt qua khủng hoảng kinh tế, thoát kh}i tình trạng nước nghèo. Những
thành tựu, kết quả chính của giáo dục là:
7891(:5%$";<# %#3
# /#%&=0%;//$/
(6>>$?@%(:5
8
. Hoàn thành mục tiêu phổ
cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ vào năm 2000, đang thực hiện phổ cập giáo
dục tiểu học đúng độ tuổi
9
; tỷ lệ dân số biết chữ trong độ tuổi 15-19 đạt 96,5% ở
năm 2002 và 98,1% ở năm 2008
10
. Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục trung
học cơ sở vào năm 2010. Đang tiếp tục củng cố, nâng cao kết quả phổ cập giáo
dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và xoá mù chữ cho người lớn.
Trong giai đoạn 2000 - 2010, tổng số nhân lực qua đào tạo ở tất cả các trình
độ đã tăng gấp 3,4 lần, từ 5,9 triệu người lên 20,1 triệu người; tỷ lệ lao động đã
qua đào tạo tăng từ 16% lên 40%. Đây chính là đội ngũ nhân lực đã đóng vai trò
chủ yếu trong việc thực hiện thành công đường lối đổi mới của Đảng, đưa đất
nước ra kh}i nhóm các nước nghèo.
I8J<K 2%0# ,2 nhất là đối
với người dân tộc thiểu số
11
, trẻ em gái, nữ học sinh, sinh viên
12
, lao động nông
thôn, các đối tượng chính sách và các đối tượng bị thiệt thòi. Hệ thống trường
phổ thông dân tộc nội trú và trường phổ thông dân tộc bán trú phát triển, góp
phần nâng cao trình độ dân trí và tạo nguồn cán bộ là người dân tộc thiểu số của
4
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), D# E2?FGGH, NXBGDVN: có 295 trường trung cấp
chuyên nghiệp. Theo Bộ Lao động – Thương bình và xã hội, tính đến tháng 12/2012 có: 155 trường cao đẳng
nghề, 305 trường trung cấp nghề, 867 trung tâm dạy nghề và hơn 700 cơ sở giáo dục khác tham gia dạy nghề;
5
các tỉnh
13
. Khoảng cách về cơ hội tiếp cận giáo dục phổ thông giữa các nhóm
dân tộc được thu hẹp
14
.
Chính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng, cho vay đi học,… đã giúp
nhiều học sinh, sinh viên thuộc diện chính sách, hộ nghèo, cận nghèo có cơ hội
đến trường, duy trì học tập
15
. Đối với nhóm hộ nghèo nhất, một số chỉ số về giáo
dục được cải thiện, như tỷ lệ dân số 10 tuổi trở lên biết chữ tăng, tỷ lệ dân số 15
tuổi trở lên chưa bao giờ đến trường giảm liên tục ở giai đoạn 2002-2010
16
Tỷ
lệ học sinh nông thôn tốt nghiệp trung học phổ thông, sơ cấp, trung cấp và cao
đẳng ngày càng tăng
17
.
Tỷ lệ trẻ em khuyết tật được đến trường tăng
18
, hầu hết các tỉnh, thành phố
đều có lớp học hòa nhập cho trẻ em khuyết tật, tạo cơ hội học tập ở các lớp hòa
nhập, bán hòa nhập hoặc chuyên biệt.
U8J'5(6# $(6/5!,%%#%&;!
/5% $ %#3?2V -/;$$
"1. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em trong các cơ sở giáo dục mầm non
giảm
19
. Năng lực ngoại ngữ và sử dụng công nghệ thông tin của thanh, thiếu
18
Hiện nay, có khoảng hơn 1.320.000 trẻ em khuyết tật bao gồm: Khiếm thính (khoảng 15%), khiếm thị (khoảng
12%), chậm phát triển trí tuệ (khoảng 27%), bị tật ngôn ngữ (khoảng 19%), tật vận động (khoảng 20%), còn lại
là các loại khuyết tật khác. Năm 2010, có khoảng 30% trẻ em khuyết tật được học tập ở loại hình giáo dục hòa
nhập, bán hòa nhập hoặc chuyên biệt.
19
Báo cáo thống kê của Bộ GD&ĐT: Năm học 2010 – 2011, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở nhà trẻ là
5,8% (giảm 3,2% so với đầu năm học) và mẫu giáo là 6,2% (giảm 3,0% so với đầu năm học). Tỷ lệ suy dinh
dưỡng thể thấp còi ở nhà trẻ là 5,6% và mẫu giáo là 5,7%.
20
Từ năm 2007 đến 2013, hầu hết học sinh tham dự Olypic quốc tế đều đoạt giải, đặc biệt ở hai năm 2011 và
2012 có 100% học sinh đoạt giải. Tại Hội thi Khoa học và Kỹ thuật Quốc tế (Intel ISEF), năm 2012 đoạt giải
nhất, năm 2013 đoạt 2 giải Tư.
6
một số công nghệ hiện đại
21
. Chất lượng đào tạo một số ngành nghề được cải
thiện, bước đầu đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động
22
.
W8J<#"5X# ,(;32Y. Nhiều chính
sách, cơ chế phát triển giáo dục và đào tạo được ban hành. Cơ chế tài chính
trong giáo dục từng bước được đổi mới. Phân cấp quản lý giáo dục và quyền tự
chủ và chịu trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục được tăng cường. Công tác
thanh tra, kiểm tra được chú trọng hơn. Cải cách hành chính được đẩy mạnh.
Công khai, dân chủ đang là một tiền đề quan trọng đổi mới quản lý giáo dục.
Bước đầu hình thành tổ chức chuyên trách về kiểm định chất lượng giáo dục
23
.
Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong quản lý ngành.
lượng dạy nghề, trong đó 33 kiểm định viên được đào tạo theo chương trình của Mỹ
24
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), D# E2?FGGH: Từ 2001 - 2012, quy mô mẫu giáo tăng
1,6 lần, phổ thông tăng 1,2 lần (tiểu học 1,0, trung học cơ sở 1,3, trung học phổ thông 1,8 lần), trung cấp chuyên
nghiệp 2 lần, đại học tăng 2,6 lần; từ 2006 đến 2012, giáo viên dạy nghề tăng 2,6 lần. Tại năm học 2011 - 2012, tỷ
lệ giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn trở lên ở các cấp học là: nhà trẻ 91,13%; mẫu giáo 97,08%; tiểu học
99,63% (trên chuẩn 61,3%); trung học cơ sở 99,22% (trên chuẩn 46,2%); trung học phổ thông 99,6% (trên chuẩn
6,93%). Trong giai đoạn 2001 - 2012, giảng viên có trình độ sau đại học ngày càng được nâng cao, tỷ lệ giảng
viên trung cấp chuyên nghiệp tăng từ 5,7% lên 26,2%, cao đẳng tăng từ 4,9% lên 38,5% và đại học tăng từ
45,4% lên 60,5%. Tại năm 2012, giảng viên cao đẳng nghề có trình độ từ đại học trở lên là 69,4%.
25
Kết quả của Đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008-2012 đáp ứng
được 65,5% số phòng học kiên cố, 40,8% số phòng nhà công vụ
7
đạt chuẩn quốc gia ngày càng nhiều
26
. Kinh phí đầu tư cho dạy nghề tăng
mạnh
27
. Thiết bị giáo dục được bổ sung và hiện đại hơn. Hầu hết các trường phổ
thông đều có thư viện và phòng bảo quản thiết bị
28
. Nhiều cơ sở đào tạo có thư
viện, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành được trang bị theo hướng hiện đại.
`8G.,# $6%#"12(6+;?2
""=8
Nhận thức của Đảng, Nhà nước và toàn dân về giáo dục ngày càng sâu
sắc và toàn diện hơn.
Trong điều kiện nguồn lực còn hạn hẹp, hàng năm Nhà nước vẫn dành
20% tổng chi ngân sách cho giáo dục
28
Bằng nguồn vốn của Dự án Phát triển giáo dục trung học cơ sở II, các địa phương đã xây 819 phòng học, 180
phòng thư viện, 112 phòng thí nghiệm, 960 phòng ở nội trú, 867 nhà công vụ cho giáo viên. Năm 2010 cả nước
có 24.746/27.541 (đạt 98,8%) trường có thư viện hoặc tủ sách giáo khoa dùng chung.
29
Đầu tư của Nhà nước cho giáo dục tăng nhanh, từ 15,3% tổng chi ngân sách nhà nước năm 2001 lên 20% năm
2008. Từ năm 2010 đến nay, Nhà nước vẫn ưu tiên duy trì mức chi 20% tổng chi ngân sách cho giáo dục. Suất
đầu tư trên đầu người tăng đáng kể, từ 210.000 đồng (14 USD)/người/năm năm 2000 lên 1.939.310 đồng (92
USD)/người/năm năm 2012.
30
Theo báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện xã hội hóa giáo dục của Bộ GDĐT.
31
Thống kê của Bộ GD&ĐT: Trong giai đoạn 2001 - 2012, tỷ lệ cơ sở đào tạo ngoài công lập trung cấp chuyên
nghiệp tăng từ 5,6% lên 32,9%, cao đẳng tăng từ 7,9% lên 13,0%, đại học tăng từ 12,2% lên 26,5%. Ở năm học
2011 - 2012, tỷ lệ học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập là: tiểu học 0,6%, trung học
cơ sở 0,6%, trung học phổ thông 9,1%; trung cấp chuyên nghiệp 26,7%; cao đẳng 18,8% và đại học 13,1%.
Thống kê của Bộ Lao động – Thương bình và Xã hội, trong giai đoạn 2007 – 2012, tỷ lệ cơ sở dạy nghề ngoài
công lập tăng: trung tâm dạy nghề từ 36,4% lên 37,6%, trường trung cấp nghề từ 14,4% lên 33,1%, trường cao
đẳng nghề từ 11,3% lên 25,2%.
8
của thế giới; vay ưu đãi và viện trợ không hoàn lại phục vụ đổi mới giáo dục và
tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục, chủ yếu cho các vùng khó khăn
CCPQ#U0S)-S%RV7
78J'5(6# $a'%T$;!%#3?
2V '(
Chất lượng giáo dục nhìn chung thấp, nhất là ở bậc đại học, sau đại học và
giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề; chưa thực sự đáp ứng yêu cầu sử dụng nhân
lực và nhu cầu của người học; chưa theo kịp sự chuyển biến của đất nước trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
Giáo dục và đào tạo còn nặng bệnh thành tích, nhiều cơ sở đánh giá kết quả
Nội, 26,2% cử nhân được khảo sát chưa hoặc không tìm được việc làm (http: lib.hcmussh.edu.vn/? wca =
newmng&wci=v_dat&wce =dtl&itm=1363232735). Theo báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, tính
đến 20/2/2013 toàn tỉnh có 24.956 học sinh, sinh viên đã tốt nghiệp nhưng chưa có việc làm, trong đó trình độ
trên đại học là 45, đại học là 5674, cao đẳng là 6845, trung cấp chuyên nghiệp là 6003, còn lại là cao đẳng nghề
và trung cấp nghề ( />truong-that-nghiep-706580.htm)
9
khuôn viên các nhà trường. Phương pháp và hình thức kiểm tra, thi, đánh giá kết
quả giáo dục còn lạc hậu, phiến diện, chủ yếu mới dừng lại ở đánh giá mức độ
lĩnh hội kiến thức của người học qua chấm điểm các bài thi, kiểm tra; không đồng
bộ và cản trở đổi mới phương pháp dạy học.
3. 91# a?b%?Y&B2Y5!<O
#'%=>#%(^&# (?
$-/;# _8J(B$Tc $d
(:5
Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo
dục chưa hợp lý, thiếu đồng bộ. Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu trình độ và
ngành nghề đào tạo, giữa các vùng miền chậm được khắc phục. Công tác phân
luồng và hướng nghiệp chưa đạt yêu cầu. Chưa phối hợp chặt chẽ giáo dục nhà
trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Chưa có cơ chế phối trong quá
trình đào tạo giữa nhà trường và các cơ sở sử dụng người lao động qua đào tạo.
W8e5X# $a;2?b5;!/
;2?b?#(6!?b# /;&-f
Quản lý hệ thống giáo dục còn phân tán, chồng chéo; phân công, phân cấp
chưa hợp lý, chưa coi trọng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tính sáng tạo của
các cơ sở giáo dục
Hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế thiếu đồng bộ và chậm đổi mới,
triển khai thực hiện thiếu thống nhất. Ở các địa phương, ngành giáo dục chưa
được chủ động quản lý nhân sự và tài chính để đáp ứng yêu cầu quản lý thực hiện
nhiệm vụ chuyên môn. Công tác quản lý chất lượng giáo dục còn nhiều lúng túng.
34
.
Một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục thiếu tâm huyết, trách nhiệm,
thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp, ảnh hưởng đến uy tín của ngành.
]8JYT#^2Y$^T_$0'# a50
Cơ chế phân bổ tài chính mang tính bình quân, dàn trải, ảnh hưởng đến
chất lượng và hiệu quả đầu tư, không khuyến khích được các cơ sở giáo dục nâng
cao chất lượng. Hiệu quả sử dụng vốn vay trong một số dự án giáo dục còn có
mặt hạn chế.
Việc duy trì mức học phí thấp và cào bằng giữa các ngành học tồn tại nhiều
năm (từ năm 1998 đến 2010) và chưa có chế tài quy định trách nhiệm của doanh
nghiệp sử dụng lao động qua đào tạo đóng góp đầu tư cho giáo dục đã làm hạn
chế nguồn tài chính giáo dục.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở giáo dục còn thiếu và lạc hậu, chưa
đạt chuẩn quy định
35
. Vẫn còn tình trạng phòng học tạm ở giáo dục mầm non và
giáo dục phổ thông, nhất là ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn; thư viện, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và các phương tiện dạy
học chưa đảm bảo về số lượng
36
, chủng loại và chất lượng so với yêu cầu nâng
cao chất lượng giáo dục, nhất là ở các cơ sở giáo dục đại học. Thiếu quỹ đất dành
cho phát triển giáo dục. Các cơ sở giáo dục nhìn chung chưa đáp ứng được yêu
cầu hội nhập quốc tế về cơ sở vật chất, kỹ thuật.
CCCP#%-WX0Y4Q#,%,Q#U0S)-S%RV7
78E;!/;2O?2"
34
Thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo: tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học thấp, năm học 2011 - 2012,
giảng viên đạt trình độ thạc sĩ, tiến sĩ ở: trung cấp chuyên nghiệp là 23,1% và 3,2%; cao đẳng là 35,9% và là
I8E;!/O2;2?b
- Chưa nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí của giáo dục. Tư duy về giáo
dục chậm đổi mới, chưa theo kịp sự chuyển đổi của đất nước và xu thế phát triển
trên thế giới. Chưa có những nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ về phát
triển giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Thói quen
bao cấp trong giáo dục còn nặng nề; Nguồn lực tài chính không đáp ứng điều
kiện tối thiểu để đảm bảo chất lượng các hoạt động giáo dục. Chưa nhận thức
đầy đủ về vai trò quyết định chất lượng giáo dục của đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục; Những nhận thức lệch lạc về giáo dục, bệnh hình thức, sính
bằng cấp và những tiêu cực xã hội đã để lại nhiều hậu quả khó khắc phục trong
giáo dục. Chưa coi trọng đúng mức vai trò quan trọng của khoa học giáo dục.
- Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy chưa
quan tâm cụ thể hóa quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu” trong thực tiễn
và chưa chịu trách nhiệm về tình trạng yếu kém của giáo dục.
- Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành trung ương chưa thể chế hóa kịp
thời, phù hợp các chủ trương, chính sách của Đảng về giáo dục. Chưa có sự phối
hợp tốt giữa các cơ quan nhà nước trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát
triển giáo dục. Suất đầu tư trên mỗi người học chưa tương ứng với yêu cầu về
chất lượng, chưa phù hợp ngành nghề và trình độ đào tạo. Nhiều mục tiêu phát
triển giáo dục được xác định trong khi không cân nhắc tính toán đầy đủ đến các
điều kiện thực hiện. Thiếu quy hoạch phát triển nhân lực của đất nước, của ngành
giáo dục
37
. Không kịp thời sơ kết, tổng kết, đánh giá các chính sách về giáo dục.
37
Công tác dự báo để làm quy hoạch giáo dục ở các cấp bậc học không thực hiện tốt dẫn đến sự phát triển không
đồng bộ, giáo viên nơi thừa nơi thiếu, có bậc học phát triển mạnh về quy mô vượt quá khả năng của hệ thống
12
Các chế độ, chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa th}a
đáng.
của nước ta so với các nước trong khu vực và trên thế giới, chưa tích cực chủ
động góp phần vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc. Quản
lý giáo dục còn nhiều bất cập; kinh phí đầu tư cho giáo dục còn hạn chế. Thiếu dự
báo nhu cầu nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thiếu
dự báo nhu cầu học tập để làm cơ sở cho công tác quy hoạch phát triển giáo dục.
>+?54
aGLFCGCHE)IJCK
LCIMJJINI
38
Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn; giáo dục kết hợp với lao động, sản xuất; giáo dục nhà trường
kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
13
CPb0.67#9`0,.,U
Sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay đứng
trước các thuận lợi và khó khăn sau:
cP%[*\
- Đất nước ổn định về chính trị, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong
10 năm qua, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 với yêu cầu tái
cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với Chiến lược và Quy
hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011 - 2020 là những tiền đề cơ bản để thực
hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam.
- Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đặc biệt quan tâm, chăm lo phát triển
giáo dục và đào tạo, mong muốn đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, tận
dụng cơ hội đất nước trong giai đoạn "cơ cấu dân số vàng".
- Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và
truyền thông, kinh tế tri thức phát triển mạnh làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vực
của đời sống xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để đổi mới căn bản, toàn diện và
đồng bộ các yếu tố cơ bản của chương trình giáo dục (nội dung, phương pháp và
hình thức tổ chức giáo dục), đổi mới quản lý giáo dục và xây dựng một nền giáo
dục tiên tiến, hiện đại đáp ứng nhu cầu của xã hội và cá nhân người học.
trong việc tận dụng, khai thác các thuận lợi và hạn chế, khắc phục các khó khăn.
CCP%4._701.U.670g5),9Z#9`0,.,U
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hướng vào giải quyết những vấn đề
lớn, cốt lõi, cấp thiết, có tác động tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ về chất
lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, nhu cầu học tập của nhân dân.
Đổi mới nhằm chuyển quá trình giáo dục từ chủ yếu dạy chữ sang kết hợp
hài hòa dạy người, dạy chữ và dạy nghề; từ chủ yếu nặng về đối phó với thi cử
sang học để biết, để sống và làm việc có hiệu quả; từ chủ yếu đào tạo theo khả
năng của các cơ sở giáo dục sang đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, thị trường lao
động và nhu cầu của người học.
Đổi mới phải đảm bảo tính hệ thống, có tầm nhìn dài hạn, các giải pháp
đồng bộ, khả thi, có cơ sở khoa học. Đổi mới không né tránh những vấn đề khó
như đổi mới tư duy giáo dục, các cơ chế, chính sách và các điều kiện đảm bảo
chất lượng giáo dục,
Đổi mới căn bản và toàn diện không có nghĩa là làm lại tất cả, làm lại từ
đầu mà cần xem xét chấn chỉnh những lệch lạc, củng cố những kết quả đã đạt
được, phát triển những nhân tố mới tích cực; đổi mới có trọng tâm, trọng điểm,
có lộ trình phù hợp với thực tế đất nước, địa phương. Những hạn chế, thách thức
của giáo dục phải được nhận thức sâu sắc, có giải pháp hữu hiệu và lộ trình để
khắc phục, vượt qua; đưa sự nghiệp giáo dục lên tầm cao mới.
Trong các văn kiện của Đảng về giáo dục, Trung ương đã nêu nhiều quan
điểm phát triển còn nguyên giá trị phải tiếp tục được quán triệt và thực hiện
39
.
Để có thể thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cần quán
triệt thêm một số quan điểm chỉ đạo sau:
1. Giáo dục giữ vai trò quyết định thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
quyết định của sự phát triển bền vững đất nước.
Đến năm 2030, giáo dục Việt Nam trở thành nền giáo dục mở, chất lượng
cao, đạt trình độ nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và hội nhập quốc tế.
a) Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, trung thực, nhân
văn, tự do sáng tạo, có hoài bão và lý tưởng phục vụ Tổ quốc, cộng đồng; làm
chủ bản thân, làm chủ đất nước và làm chủ xã hội; có hiểu biết và kỹ năng cơ
bản để sống tốt và làm việc hiệu quả; phát triển hài hòa con người cá nhân và
con người xã hội.
b) Xây dựng nền giáo dục mở, dân chủ, thực học và thực nghiệp, có cơ
cấu hợp lý; bảo đảm cho các cơ sở giáo dục và đào tạo có đủ các điều kiện nâng
cao chất lượng. Hệ thống giáo dục được chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân
chủ hóa, hội nhập quốc tế; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và mang đậm bản
sắc dân tộc.
dP`0W%0`_
g)1$#
Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức về vị trí quan trọng bậc nhất
của giáo dục mầm non đối với việc hình thành nhân cách của trẻ.
16
Giáo dục mầm non phải thực hiện tốt sứ mệnh giúp trẻ phát triển về thể
chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách,
chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ bước vào tiểu học.
Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm
2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và thực hiện miễn
học phí trước năm 2020 cho đối tượng này. Từng bước chuẩn hóa hệ thống các
trường mầm non. Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng, phù
hợp với điều kiện và yêu cầu của từng địa phương và cơ sở giáo dục.
g)1$# %<
Giáo dục phổ thông tập trung thực hiện sứ mệnh nâng cao dân trí, phát hiện
và bồi dưỡng năng khiếu, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, định hướng
nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo
tập ở mọi lúc, mọi nơi, mọi trình độ nhằm nâng cao dân trí, trình độ, kỹ năng
chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để
chuyển đổi nghề nghiệp đối với người lao động; củng cố bền vững kết quả xóa
mù chữ.
Có mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên và các hình thức học tập, thực
hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự học, tăng cường áp dụng hình thức giáo
dục từ xa.
CMPZ7`,#==
1. Đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc tư duy giáo dục, tăng
cường vai trò của Đảng và Nhà nước đối với quá trình đổi
mới giáo dục - đào tạo
Đổi mới nhận thức toàn diện về mục tiêu giáo dục, về vai trò của các giải
pháp, điều kiện đảm bảo để tạo chuyển biến căn bản và toàn diện nền giáo dục
nước nhà; tư duy mới về giáo dục được cụ thể hóa từ khâu quán triệt đến tổ chức
thực hiện các quan điểm, đường lối và chủ trương phát triển giáo dục của Đảng.
a) Giáo dục nhằm đào tạo, phát triển con người với tư cách là chủ thể bản
thân, chủ thể xã hội, chủ thể đất nước, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ
sự phát triển kinh tế - xã hội; coi phát triển giáo dục là nhân tố quyết định sự phát
triển bền vững đất nước và phát triển con người Việt Nam. Đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục có vai trò quyết định đối với chất lượng giáo dục. Công
nghệ thông tin ngày càng có tác động mạnh mẽ làm thay đổi cơ bản cách lựa chọn
nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và quản lý giáo dục
b) Hệ thống Đảng và chính quyền các cấp chịu trách nhiệm và có vai trò
quyết định trong lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, đồng bộ đối với sự nghiệp đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo;
c) Tăng cường nghiên cứu để tạo cơ sở khoa học và vận dụng các kết quả
nghiên cứu khoa học giáo dục, khoa học quản lý phục vụ công tác đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo;
d) Đổi mới mạnh mẽ công tác thông tin và truyền thông để thống nhất về
nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động sự tham gia của toàn xã hội vào công
hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ, hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học.
Đổi mới nội dung giáo dục đại học theo hướng cơ bản, tích hợp các lĩnh
vực kiến thức, kỹ năng và hiểu biết xã hội, tiếp cận thành tựu khoa học - công
nghệ tiên tiến trên thế giới, nhất là trong các ngành kinh tế, khoa học kỹ thuật,
công nghệ, y tế; đáp ứng yêu cầu nhân lực trong điều kiện thế giới việc làm thay
đổi nhanh chóng.
Phát triển đa dạng nội dung, tài liệu học tập đáp ứng nhu cầu học tập suốt
đời của mọi người.
c) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng khắc
phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, tập trung dạy cách
học, cách nghĩ và tự học, theo phương châm “giảng ít, học nhiều”. Chuyển quá
trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Bồi dưỡng khát vọng học tập suốt đời. Coi
trọng sự phối hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã
hội.
Chuyển cách học từ chủ yếu là lắng nghe và ghi chép sang suy nghĩ và
phản hồi tích cực với bạn, với thầy, phối hợp các hoạt động học tập của cá nhân
và của nhóm. Chuyển từ chủ yếu thực hiện chương trình giáo dục trên lớp học
sang tổ chức đa dạng các hình thức thực hiện chương trình giáo dục; tăng cường
các hoạt động xã hội, nghiên cứu khoa học của người học. Đẩy mạnh ứng dụng
19
công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học; tăng cường áp dụng hình
thức giáo dục từ xa có chất lượng.
Phương pháp giáo dục mầm non phải tạo điều kiện cho trẻ được làm
quen, tự thể hiện bản thân, tự khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình
thức đa dạng; tạo hứng thú theo phương châm “chơi mà học”, kết hợp hài hòa
hoạt động nhóm bạn và hoạt động cá nhân; có nhiều hình thức hỗ trợ giữa giáo
dục gia đình và giáo dục nhà trường; chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào lớp 1.
i. Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp kiểm
tra, thi và đánh giá ch0t lư2ng giáo dục, bảo đảm trung
hoạt, liên thông giữa các yếu tố của hệ thống và liên thông với môi trường bên
ngoài hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo tính sáng tạo cho việc xây dựng, tổ chức
20
các nội dung, hình thức giáo dục, tạo cơ hội tiếp cận giáo dục cho người học, tận
dụng các nguồn lực cho giáo dục và đảm bảo tính hiệu quả, phát triển bền vững
của hệ thống.
a) Xây dựng khung trình độ quốc gia, tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp phù
hợp với bối cảnh đất nước và xu thế các nước trong khu vực và trên thế giới. Mở
thêm loại hình bồi dưỡng sau tiến sĩ;
b) Trước mắt ổn định hệ thống giáo dục phổ thông như hiện nay, thực
hiện giáo dục cơ bản, bắt buộc 9 năm, phân luồng mạnh sau trung học cơ sở;
phân hóa và định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông; tiếp tục nghiên cứu
đổi mới hệ thống giáo dục phổ thông, tiến tới giảm bớt số năm học đồng thời với
tổ chức dạy học cả ngày;
c) Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề, giáo
dục đại học gắn với quy hoạch phát triển nhân lực. Hợp nhất hệ thống trung cấp
chuyên nghiệp và trung cấp nghề, cao đẳng và cao đẳng nghề thành hệ thống
giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề, hình thành một số cơ sở giáo dục kỹ thuật và
đào tạo nghề chất lượng cao; đẩy mạnh giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề sau
trung học, liên thông giữa giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề và giáo dục đại học.
Hình thành luồng giáo dục ứng dụng, thực hành. Tiếp tục sắp xếp lại mạng lưới
các trường đại học, cao đẳng và các viện nghiên cứu, đồng thời đổi mới cơ chế
để gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học. Phân tầng cơ sở giáo dục đại học theo
định hướng nghiên cứu, định hướng ứng dụng và định hướng thực hành. Hoàn
thiện mô hình đại học quốc gia, đại học vùng, đồng thời củng cố và phát triển
một số cơ sở giáo dục đại học và giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề để cung cấp
nhân lực chất lượng cao. Nghiên cứu giảm hợp lý số năm học đại học ở một số
ngành và lĩnh vực (cá biệt có trường hợp tăng thêm);
d) Hệ thống giáo dục phổ thông chủ yếu là loại hình trường công lập;
đồng thời khuyến khích xã hội đầu tư phát triển các trường chất lượng cao.
với các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề.
c) Coi trọng quản lý chất lượng đầu ra, quản lý quá trình đào tạo và chuẩn
hóa các điều kiện đảm bảo chất lượng. Xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về
chất lượng giáo dục - đào tạo.
d) Xây dựng cơ chế thu nhận và xử lý các thông tin phản hồi trong quản lý
giáo dục. Thực hiện cơ chế người học tham gia đánh giá hoạt động giáo dục, nhà
giáo tham gia đánh giá cán bộ quản lý, cơ sở giáo dục tham gia đánh giá cơ quan
quản lý nhà nước về giáo dục. Đo lường mức độ hài lòng của người dân đối với sự
phục vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và của các cơ sở giáo dục.
e) Phát triển hệ thống thông tin quản lý giáo dục và thị trường lao động.
Tăng cường công tác dự báo về giáo dục, đào tạo và nhu cầu nguồn nhân lực của
xã hội.
g) Hoàn thiện cơ chế quản lý lưu học sinh ở nước ngoài, cơ chế liên kết
đào tạo với nước ngoài và cơ chế quản lý những cơ sở giáo dục nước ngoài ở
Việt Nam.
h) Đổi mới quản trị cơ sở giáo dục, đào tạo theo hướng phát huy dân chủ,
tính sáng tạo; giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đồng bộ cả về tổ chức thực
hiện nhiệm vụ, nhân lực, tài chính, tài sản; tăng dần vai trò của Hội đồng trường,
giảm dần vai trò của bộ chủ quản. Trong Hội đồng trường đảm bảo vai trò của
Đảng ủy và cơ quan chủ quản. Thực hiện cơ chế tự chủ và chịu trách nhiệm xã
hội, công khai, chịu sự giám sát của các chủ thể trong nhà trường, của Nhà nước
và của xã hội đối với cơ sở giáo dục đồng thời với công tác thanh tra, kiểm tra
của cơ quan quản lý các cấp.
i) Các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức xã hội, các cơ quan quản lý
và các cơ sở giáo dục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, phối hợp trách
nhiệm giải quyết các hiện tượng tiêu cực kéo dài, gây bức xúc xã hội.
22
(P> _."#s,#,05"T%*q#9`0.=?#-W%
0+%.67#9`0t.,U
Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục đủ về số lượng,
dục và cơ quan quản lý giáo dục.
Việc tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục phải trên cơ sở đánh giá thực tế năng lực và hiệu quả công tác.
Tiếp tục thực hiện chủ trương về lương cho giáo viên như Nghị quyết Trung
ương 2 (khóa VIII) đã khẳng định, có thêm chế độ phụ cấp thâm niên và phụ cấp
khác tùy theo tính chất, kết quả và chất lượng công việc, theo vùng, đi đôi với cơ
chế đánh giá, sàng lọc; bổ sung chế độ cho cán bộ quản lý giáo dục được hưởng
thâm niên nghề.
23
Có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các giảng viên trẻ có nhà ở,
tham gia nghiên cứu khoa học, học tập nâng cao trình độ, năng lực. Có chế độ
ưu đãi và quy định hợp lý tuổi nghỉ hưu đối với nhà giáo có trình độ cao, đồng
thời có cơ chế miễn nhiệm hoặc bố trí công việc khác đối với những người
không còn phù hợp. Đảm bảo bình đẳng về chế độ chính sách giữa nhà giáo
trong và ngoài công lập.
Xây dựng, áp dụng chính sách và cơ chế động viên đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục tích cực tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ. Tạo điều kiện để các nhà giáo, chuyên gia nước ngoài, kể cả
người Việt Nam ở nước ngoài, tham gia giảng dạy và nghiên cứu ở trong nước;
uP670v20)0'0S,0v)g#0&^#0'2o[0@)
%-."#247#4.f##f=0Y4,p/")X#04Z%T%.+%&
._= _#9`0
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư kinh phí cho giáo dục, đầu tư
có trọng điểm, không dàn trải. Đa dạng các nguồn đầu tư giáo dục phù hợp với
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
a) Đảm bảo đủ kinh phí đáp ứng yêu cầu của ngành giáo dục, trong đó tỷ
lệ chi cho lương và phụ cấp theo lương không quá 75% tổng kinh phí chi thường
xuyên hàng năm của các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông. Suất đầu
tư cho sinh viên đại học đảm bảo tối thiểu bằng 1,2 lần thu nhập bình quân đầu
người/năm. Ưu tiên kinh phí từ ngân sách cho giáo dục phổ cập. Quan tâm đầu