Khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp đào tạo lao động kỹ thuật cho các khu công nghiệp đồng nai - Pdf 30

MỤC LỤC TÓM TẮT…………………………………………………………………… trang
1
Phần 1. MỞ ĐẦU…………………………………………………………… ……
3
Phần II. NỘI DUNG

Chương I. CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Các khái niệm cơ bản …………………………………………………………
6
1.2. Phát triển nguồn nhân lực và Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp….……………
6
1.2.1 Khái niệm cơ bản……………………………………………… …………
6
1.2.2 Vai trò chiến lược của nguồn nhân lực quốc gia ……………… …………
6
1.3. Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp …………………………………… ……….
6
1.3.1 Khái niệm ……………………………………………………………………
7
1.3.2 Phát triển giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp …………………………………
9
1.3.3 Khái niệm cơ bản về lao động kỹ thuật, đào tạo

lao động kỹ thuật và chuyển dòch cơ cấu lao động……………… ………
9
1.4. Các quan điểm về lý luận giáo dục hiện đại ……………………………
13


30
2.2. Phân tích tực trạng nguồn lao động và công tác đào

lao động kỹ thuật của tỉnh Đồng Nai ………………………………………
35
2.2.1. Mạng lưới dạy nghề ………………………………………………………
35
2.2.1.1. Các cơ sở dạy nghề chính quy ……………………………………………
35
2.2.1.2. Các cơ sở dạy nghề phi chính qui ………………………………………
37
2.2.1.3. Các hình thức dạy nghề theo chương trình mục tiêu……………………
38
2.2.2. Thực trạng năng lực các cơ sở đào tạo…………………………………
38
2.2.2.1 Đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động đào tạo lao động kỹ thuật………….
38
2.2.2.2 Đội ngũ giáo viên………………………………………………………….
42
2.2.2.3 Chương trình và giáo trình giảng dạy…………………………………
43
2.2.2.4 Qui mô đào tạo……………………………………………………………
45
2.2.2.5 Nghề đào tạo……………………………………………………………….
45
2.2.3 Nhận xét……………………………………………………………………
49
2.3. Hiện trạng sử dụng lao động qua đào tạo của các khu công nghiệp………
50

3.4. Dự báo nhu cầu đào tạo và đào tạo lại LĐKT trong các KCN đến 2010
67
3.4.1. Xác đònh cơ cấu và tỉ lệ đào tạo lại………………………………………
67
3.4.2. Dự báo số lượng đào tạo lại………………………………………………
68
3.4.3 tổng hợp dự báo nhu cầu đào tạo lao động kỹ thuật………………………
69
3.5. Các giải pháp………………………………………………………………….
71
3.5.1 Nhóm giải pháp về chính sách………………………………………………
72
3.5.2 Nhóm giải pháp đào tạo…………………………… ………………………
77
3.5.3 Nhóm giải pháp hỗ trợ……………………………… ……………………
78
PHẦN III. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Tóm tắt công trình nghiên cứu…………………………………………………
81
2. Tự đánh giá……………………………………………………………………
82
3. Hướng phát triển của đề tài……………………………………………………
82
4. Kết luận………………………………………………………………………….
83
5. Kiến nghò………………………………………………………………………
84
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………….
88

công nghiệp Đồng Nai.

Phần III. Kết luận và kiến nghò: Một số kết luận, kiến nghò và đề xuất hướng phát triển của
đề tài.
Do điều kiện thời gian và quy mô thực hiện luận văn, việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở
mức khảo sát để đánh giá thực trạng đào tạo, sử dụng lao động kỹ thuật, dựa trên cơ sở đó
dự báo nhu cầu và đề ra các giải pháp đào tạo lao động kỹ thuật cho công nghiệp Đồng Nai
đến năm 2010.
Kết quả nghiên cứu luận văn sẽ làm sáng tỏ thêm về phương pháp luận trong dự báo
và đề ra các giải pháp đào tạo lao động kỹ thuật; là tiền đề cho các tham khảo xây dựng kế
hoạch đào tạo lao động kỹ thuật gắn với sử dụng để đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật cho
các KCN Đồng Nai. Góp phần vào công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa tỉnh
Đồng Nai.
2

ABTRACT
Our country is at the stage of speeding up the process of modernization and
industrialization, focusing and building the economical branches to soon become a powerful
and prosperous country ,with a view to integrate into the development of the developed
countries in the region and in the world. For many years, Dong Nai is one of the important
southern provinces with the higher speed of economical development than the average of
the country. From the above points of view and considerations, the researcher decides to
choose the theme:
“Investigate the real situations, put forward solutions to training technical workers for Dong
Nai industrial zones”

THE STRUCTURE OF THE DISSERTATION

PREFACE: The contents include the reasons for the collection of the topic, the purpose,
the mission, the researching methods and the limitations of topic.

1.

Lí do chọn đề tài
Nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, tập trung
phát triển và xây dựng các ngành kinh tế để nhanh chóng trở thành một quốc gia giàu
mạnh, hòa nhập cùng sự phát triển của các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới. Theo
Nghò quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, trong chiến lược phát triển đất nước, lấy việc phát
triển nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Mục tiêu
công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước, chỉ thực hiện được khi nguồn nhân lực được
đào tạo và sử dụng tốt, đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế quốc dân trong hiện tại cũng
như trong tương lai, phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển của từng đòa phương; mới
đảm bảo sự phát triển ổn đònh và bền vững của đất nước.
Nghò quyết đã nêu: “…Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng
dạy và phương thức đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao, đặc biệt là trong các ngành
kinh tế, kỹ thuật mũi nhọn, công nghệ cao. Gắn việc hình thành các khu công nghiệp, khu
công nghệ cao với hệ thống các trường đào tạo nghề. Phát triển nhanh và phân bố hợp lý hệ
thống trường dạy nghề trên đòa bàn cả nước, mở rộng các hình thức đào tạo nghề đa dạng,
linh hoạt, năng động”. (Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần IX, NXB Chính trò
Quốc gia, trang 293).
Trong lónh vực đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có chuyên môn kỹ
thuật đáp ứng cho các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện đang phát triển một cách nhanh
chóng ở nước ta. Vì vậy ngành giáo dục Việt Nam mà đặc biệt là hệ thống đào tạo lao động
kỹ thuật phải có sự đònh hướng, có kế hoạch để đào tạo và phát triển theo nhu cầu, cơ cấu
ngành nghề phải phù hợp, kòp thời thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế –
xã hội, đẩy mạnh tốc độ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Trong những năm qua, Đồng Nai là một trong những tỉnh nằm trong khu vực kinh tế
trọng điểm các tỉnh phía Nam; có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với bình quân cả nước;
tăng GDP qua các năm: năm 2001- 11,1%; năm 2002- 12,2%; năm 2003 tăng 13,17%.
Trong đó đóng góp của công nghiệp Đồng Nai vào GDP của tỉnh là rất lớn và tăng
đều hàng năm; năm 1995, 38,75%; năm 2000, 52,1%; năm 2001, 53,4%; năm 2002, 55,3%

đào tạo lao động kỹ thuật cho các KCN Đồng Nai giai đoạn 2005-2010.

4. Khách thể nghiên cứu
- Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai.
-
Ban Giám đốc hoặc Ban Giám hiệu các cơ sở đào tạo.
- Đội ngũ giáo viên của các cơ sở đào tạo.
- Sở Giáo dục-Đào tạo và Sở Lao động TB-XH tỉnh Đồng Nai (Phòng giáo dục
chuyên nghiệp và phòng dạy nghề).
- Người lao động đang làm việc tại các Khu công nghiệp.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
• Phân tích thực trạng hoạt động đào tạo lao động kỹ thuật trong các cơ sở đào tạo hiện
nay trên đòa bàn tỉnh Đồng Nai.
• Khảo sát thực tiễn nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo ở các khu công nghiệp.
• Dự báo lao động và nhu cầu lao động kỹ thuật cho các Khu công nghiệp.
• Đề xuất những giải pháp về hoạt động đào tạo lao động kỹ thuật của các cơ sở đào
tạo trong tỉnh phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của các khu công nghiệp.
5
6. Phương pháp nghiên cứu
Đây là dạng đề tài nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai, người nghiên cứu
sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
• Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, qua các nguồn tài liệu, các công trình nghiên cứu
đã công bố, sách-báo, các văn bản pháp qui… để phân tích và chọn lọc để vận dụng
vào đề tài.

Phương pháp điều tra – khảo sát, với công cụ là những phiếu khảo sát gián tiếp đối
tượng nghiên cứu để thu thập thông tin cần thiết thực hiện đề tài.
• Phương pháp nghiên cứu sản phẩm đối tượng, tìm hiểu về kết quả hoạt động của đối
tượng nghiên cứu về những kết quả mà họ đạt được trong quá trình phát triển.
• Phương pháp chuyên gia, qua trao đổi trực tiếp với đối tượng nghiên cứu là các

cập tới; Khảo sát thực trạng, xem xét cụ thể để tìm hiểu tình trạng có thật trong xã
hội, tại đòa phương mà đề tài đề cập tới.
• Giải pháp (solution), các phương pháp để giải quyết một, hoặc nhiều vấn đề cụ thể
xảy ra trong thực tế nghiên cứu của đề tài.

1.2. PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ GIÁO DỤC KỸ THUẬT NGHỀ NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm
a. Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là tổng số những người trong độ tuổi đang lao
động hoặc đang cần có việc làm. Những người này có thể được người khác sử dụng sức lao
động hoặc tự tổ chức lao động để tạo ra sản phẩm vật chất phục vụ cho chính họ và cho xã
hội.

b. Phát triển nguồn nhân lực:
Phát triển nguồn nhân lực (human resource
development): Theo nghóa hẹp, đó là quá trình đào tạo và đào tạo lại (training and
retraining) hoặc trang bò bổ sung những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết cho người lao
động để họ hoàn thành nhiệm vụ lao động. Ngày nay, trên quan điểm rộng hơn, phát triển
nguồn nhân lực bao gồm 3 mặt: phát triển sinh thể, phát triển nhân cách (kiến thức, kỹ năng
và thái độ) và xây dựng môi trường thuận lợi.
Hình 1.1. Sơ đồ biểu thò các thành tố của phát triển nguồn nhân lực

1.2.2 Vai trò chiến lược của nguồn nhân lực quốc gia

Một quốc gia muốn phát triển về mọi mặt cần phải có ba yếu tố quan trọng là tài
nguyên thiên nhiên, khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực của quốc gia; trong đó nguồn
nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, không chỉ
Phát triển nguồn nhân lực
Phát triển sinh thể

♦ Sức khỏe.

Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng và qui mô thích hợp để có thể sử dụng hiệu
quả nhằm mục đích phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia là vấn đề hết sức cần thiết và
mang tính chiến lược lâu dài.
Trước tầm quan trọng như vậy, Nghò quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng Sản
Việt Nam đã chỉ rõ: “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên có việc làm, khắc phục
những tiêu cực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo…”
Như vậy, “cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành
quốc sách hàng đầu”. Trong đó đào tạo nguồn nhân lực cần phải làm rõ ba vấn đề sau:
• Kết cấu nền, tạo nguồn nhân lực cho tương lai đất nước; đó chính là sức khỏe và tri
thức văn hóa phỗ cập từ vỡ lòng cho đến tuổi tốt nghiệp trung học phổ thông; truyền
thống văn hóa và trình độ dân trí. Kết cấu nền quyết đònh tính ổn đònh của chất lượng
nguồn nhân lực.

Nhân lực có tri thức, trong đó bao gồm nhân lực có tri thức quản lý xã hội, quản lý
doanh nghiệp; nhân lực có tri thức văn hóa, khoa học và công nghệ luôn luôn là lực
lượng dẫn đường cho toàn xã hội phát triển.
• Nhân lực có tay nghề, chuyên môn kỹ thuật là lực lượng có thể tham gia ngay vào sản
xuất và trực tiếp làm ra của cải vật chất.
Trong điều kiện của nước ta hiện nay, hiệu quả đạt được về mặt phát triển nguồn
nhân lực chòu ảnh hưởng rất lớn vào các nhân tố sau: đó là sự phát triển dân số, sự phát triển
về khoa học và công nghệ, thò trường lao động trong nước và trên thế giới và yếu tố thứ tư là
thành quả của hệ thống giáo dục và đào tạo đặc biệt là hệ thống giáo dục kỹ thuật – nghề
nghiệp.
Như vậy, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tựu trung là làm gia tăng giá trò con
người: Giá trò tinh thần, đạo đức, thể chất, vật chất. Cụ thể hơn, con người được xem như một
tài nguyên, một nguồn lực, cho nên sự phát triển con người hoặc phát triển nguồn nhân lực
trở thành một lónh vực hết sức cần thiết trong hệ thống các loại nguồn lực như vật lực, tài
lực, nhân lực. Trong đó, việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giữ vai trò trung tâm.
8

thông liên quan tới các mặt công nghiệp và kỹ thuật của đời sống, hướng dẫn học sinh trong
các lónh vực sản xuất, tiêu thụ và giải trí thông qua những kinh nghiệm thực tế với những
nguyên vật liệu và hàng hóa. Giáo dục kỹ thuật tổng hợp cũng là những kinh nghiệm để
thăm dò và đònh hướng cho học sinh phổ thông chọn nghề.
1.3.2. Phát triển giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp
Giáo dục nghề nghiệp và phát triển năng lực của người lao động có ảnh hưởng to lớn
đến sự phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong
quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu.
Nhu cầu đào tạo và phát triển nguồn lao động có kỹ thuật, nhân viên trong các tổ
chức tăng nhanh cùng với việc mở rộng hợp tác quốc tế, sự cạnh tranh, phát triển công nghệ
tiên tiến và những áp lực kinh tế xã hội, giáo dục nghề nghiệp được xem như là một yếu tố
cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu chiến lược của xã hội. Ngày nay, chất lượng của nguồn
nhân lực đã trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh của các nền kinh tế thế giới. Thực
tế đã chứng minh rằng, đầu tư vào nguồn nhân lực có thể mang lại hiệu quả cao hơn hẳn so
với việc đầu tư đổi mới trang bò kỹ thuật và các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh
9
doanh. Điều đó cũng đã giải thích vì sao các nhà lãnh đạo doanh nghiệp của các nước phát
triển đều chú trọng hàng đầu đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Đầu tư cho
giáo dục và đào tạo là đầu tư có lợi nhất để phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục nghề nghiệp nói riêng đóng vai
trò chính trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Đào
tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật thích ứng với sự phát triển khoa học và công nghệ trên thế
giới, có năng lực lao động thực tiễn, sáng tạo trong sản xuất.

1.3.3 Lao động kỹ thuật, đào tạo lao động kỹ thuật và chuyển dòch cơ cấu lao động
Đề án nghiên cứu tổng thể về giáo dục – đào tạo và phân tích nguồn nhân lực Việt
Nam (VIE/89/022) do UNESCO, UNDP và Bộ Giáo dục & Đào tạo thực hiện đã đưa ra khái
niệm “lao động kỹ thuật” và cho rằng lao động kỹ thuật là lao động qua đào tạo được cấp
bằng hoặc chứng chỉ của các bậc đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất.


− Lao động đã từng tham gia các khoá đào tạo, các trường đào tạo nhưng chưa
được cấp bằng/ chứng chỉ cũng không xếp họ vào lao động qua đào tạo (lao động chuyên
NHÂN VIÊN KỸ THUẬT
TỔNG SỐ DÂN
DÂN SỐ TỪ 15
T
TRỞ LÊN DÂN SỐ DƯỚI 15
T

DÂN SỐ HOẠT ĐỘNG KINH
TẾ TÍCH CỰC (LLLĐ)
DÂN SỐ KHÔNG HOẠT ĐỘNG
KINH TẾ TÍCH CỰC
LAO ĐỘNG QUA ĐÀO TẠO

thức, kỹ năng, nhân cách cho mỗi cá nhân người lao động ở các cấp trình độ để có thể hành
nghề làm công việc phức tạp với năng suất và hiệu quả cao, đồng thời có năng lực thích ứng
với sự biến đổi nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ trong thực tế.
Đào tạo lao động kỹ thuật luôn luôn gắn với cơ cấu lao động nhằm hình thành cơ cấu
lao động mới phù hợp với nền kinh tế hiện đại. Cơ cấu lao động ở đây được hiểu là sự phân
chia lực lượng lao động theo những tiêu thức nào đó, thành các tỷ lệ nhất đònh, phản ánh mối
quan hệ của nó trong tổng thể.
Cơ cấu lao động được xem xét dưới 2 góc độ khác nhau: cơ cấu lao động xét từ góc
độ nguồn, tức là mặt “cung lao động” và cơ cấu lao động xét từ góc độ phân công lao động
xã hội, tức là mặt “cầu lao động”. Giữa cơ cấu cung lao động và cơ cấu cầu lao động có
quan hệ mật thiết với nhau, song cơ cấu cầu lao động liên quan trực tiếp đến chuyển dòch cơ
cấu lao động trong mối quan hệ với chuyển dòch cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu lao động luôn luôn ở trạng thái động trong không gian và thời gian. Trong
kinh tế thò trường, sự chuyển hoá từ cơ cấu lao động này sang cơ cấu lao động khác phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau và do đó kết quả chuyển dòch có
thể là tích cực hoặc tiêu cực. Tuy nhiên, ở tầm vó mô, mục tiêu chuyển dòch cơ cấu lao động
một mặt phải đảm bảo tính khách quan, mặt khác phải đem lại kết quả tích cực.
Vì vậy, khái niệm chuyển dòch cơ cấu theo quan niệm này được hiểu là quá trình biến
đổi, chuyển hóa khách quan, có tính chất quy luật từ cơ cấu lao động cũ sang cơ cấu lao động
mới, tiến bộ hơn, phù hợp với quá trình và trình độ phát triển kinh tế – xã hội đất nước từng
thời kỳ.

12
1.4. CÁC QUAN ĐIỂM VỀ LÝ LUẬN GIÁO DỤC HIỆN ĐẠI
Trong những năm gần đây, để đáp ứng những nhu cầu mới của xã hội hiện đại với
những biến đổi về chính trò, kinh tế, văn hóa – xã hội và khoa học công nghệ… do đó đã xuất
hiện nhiều quan điểm mới về một nền giáo dục hiện đại và có ảnh hưởng sâu sắc đến quá
trình phát triển giáo dục ở nhiều nước trong đó có Việt Nam.
Nhà trường ngày nay, được chuyển từ hệ thống khép kín, độc lập trong xã hội sang
hệ thống mở, hòa nhập tích cực với các biến đổi của đời sống xã hội. Nhà trường ngày nay

khả năng của người học và người
sử dụng lao động. Mục tiêu linh
hoạt, đào tạo nhân lực đa năng.
2. Về nội dung dạy
học
Theo lôgic nội dung khoa học
các môn học, nặng về hệ thống
khái niệm, lý thuyết hàn lâm và
kỹ năng thừa hành. Cách biệt lý
thuyết với thực hành. Đơn kênh
thông tin.
Hệ thống các kiến thức, kỹ năng
cơ bản, thực tiễn, năng lực hành
nghề. Nội dung dạy học theo
hướng tích hợp, mềm dẻo, liên
thông các loại hình đào tạo. Đa
kênh thông tin.
3. Về phương pháp
dạy học
Nặng về thuyết trình, giảng giải
đơn thuần. Học sinh chủ yếu tiếp
thu thụ độn
g
,
g
hi nhớ. Độc thoại.
Phát huy tính tích cực, độc lập,
sáng kiến và kinh nghiệm, phát
hu
y

Xây dựng mô hình nhân cách nghề nghiệp, chúng ta đều biết rằng những đặc trưng
nhân cách của một nhóm người trong xã hội hay của từng cá nhân được bộc lộ trong hoạt
động, trong đời sống và trong lao động nghề nghiệp. Với tư cách là một hoạt động chủ đạo,
hoạt động nghề nghiệp thực tiễn không chỉ góp phần quyết đònh đến sự hình thành và phát
triển nhân cách nghề nghiệp mà chính thông qua hoạt động này những đặc trưng nhân cách
nghề mới được bộc lộ một cách rõ ràng và đầy đủ (cả những mặt tiêu cực hoặc tích cực, cả
những xu hướng phát triển hoặc suy thoái nhân cách). Chính vì vậy mô hình hoạt động nghề
nghiệp là cơ sở chủ yếu để xây dựng mô hình nhân cách nghề nghiệp và đương nhiên, mô
hình nhân cách nghề nghiệp cũng phản ảnh những đặc tính của cộng đồng con người Việt
Nam nói chung. Điều quan trọng là, nếu như trước đây trong mô hình cấu trúc hoạt động
nghề nghiệp phản ảnh chủ yếu những hoạt động nghề nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ lao
động cụ thể hoặc theo qui trình lao động nghề nghiệp tương ứng với từng loại hình lao động,
thì đến nay cần thiết phải dự tính đến các loại hình lao động sáng tạo trong lao động nghề
nghiệp bên cạnh các loại hình hoạt động thừa hành.

Hình 1.3. Sơ đồ quy trình xây dựng mô hình nhân cách nghề nghiệp. Mô hình hoạt động
nghề nghiệp
Mô hình nhân cách
nghề nghiệp
Mô hình đào tạo nghề
nghiệp
Nhu cầu nhân lực lao
động xã hội
Mô hình chung về con
người Việt Nam
Cơ sở lý luận chung về
giáo dục

nhất đònh để đạt được mục tiêu đào tạo, hình thành và phát triển nhân cách nghề nghiệp.
Trong quá trình này có các giai đoạn liên quan chặt chẽ với nhau từ công tác hướng nghiệp,
tuyển sinh đến quá trình đào tạo, kiểm tra và đánh giá sự thích ứng và phát triển nghề
nghiệp.
Vấn đề nghiên cứu nhân cách nghề nghiệp là một vấn đề phức tạp và mới được
nghiên cứu trong lónh vực giáo dục nghề nghiệp ở nước ta trong thời gian gần đây. Giải
quyết tốt các khía cạnh khác nhau của vấn đề nhân cách nghề nghiệp sẽ tạo điều kiện thuận
lợi không chỉ cho các yêu cầu nghiên cứu về chiến lược đào tạo nhân lực của nước ta trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa với quan điểm con người vừa là mục tiêu vừa là động
lực phát triển kinh tế – xã hội, mà còn góp phần tích cực vào quá trình nghiên cứu và tìm
kiếm các phương thức đào tạo mới thích hợp với điều kiện thực tiễn, nâng cao chất lượng
công tác giáo dục và đào tạo nghề nghiệp ở nước ta. 15
Hình 1.4. Sơ đồ mô hình cấu trúc nhân cách nghề nghiệp
Phẩm chất nghề
nghiệp
(Đức)
Năng lực nghề
nghiệp
(Tài)
Mô hình nhân cách
nghề nghiệp
16

1.5.2 Phương pháp dự báo ngoại suy theo dãy số thời gian và hồi quy tuyến tính
Phương pháp này được sử dụng thông dụng trong các dự báo đònh lượng dùng để dự
báo sự tồn tại, vận động và phát triển của một chỉ tiêu kinh tế – xã hội đặc trưng hoặc một
hiện tượng kinh tế – xã hội nào đó trên cơ sở chỉ tiêu đó được mô tả bằng dãy số biến đổi
theo thời gian. Trong đó phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
- Chỉ tiêu kinh tế – xã hội được đặc trưng bằng bằng chuỗi thời gian phải biến đổi liên
tục hoặc gần với liên tục, không có sự đột biến trong quá trình thay đổi;
- Chuỗi thời gian phải đủ dài để có thể nhận đònh đúng quy luật hay xu thế biến đổi của
nó. Độ lệch so với với hàm số mô tả xu thế phát triển phảo tương đối ổn đònh.
- Hệ số điều hòa càng xa càng nhỏ dần, tức là độ tác động của nhân tố mới mạnh hơn
các nhân tố cũ.
- Phương trình đường hồi qui có dạng:
y = ax + b;Theo phương pháp này, kết quả dự báo là biểu diễn cặp điểm (x;y) ở trên một đồ thò
phân tán, các điểm biểu diễn trên đồ thò có khuynh hướng xếp theo một đường thẳng. Giả sử
có thể kẻ được một đường thẳng xuyên qua hầu hết các điểm này. Đường thẳng đó được gọi
là đường thẳng hồi quy. Hiện tượng các điểm phân tán trên mặt phẳng có khuynh hướng hội
tụ về một đường thẳng xuyên qua các điểm tìm được, tuy nhiên chỉ có một đường thẳng hoà
1.5.3 Phương pháp dự báo theo quan hệ tỉ lệ
Trong phương pháp này áp dụng hàm toán học về mối quan hệ giữa tốc độ tăng
trưởng kinh tế và tốc độ tăng nhu cầu lao động. Nếu biết tỷ lệ tăng trưởng kinh tế r
o

tỷ lệ
tăng lao động r
e
và số lượng lao động năm kỳ E
i
, thì nhu cầu lao động trong năm cuối kỳ t
được dự báo qua công thức:

E
t
= E
i
x (1 + r
ei
)
t
= E
i
x (1 +
n
i
r
o

1.6.1 Sự phát triển của dân số
Dân số là cơ sở hình thành nên lực lượng lao động; dân số thường xuyên biến đổi do ba
quá trình luôn luôn tác động là:
- Quá trình sinh sản
- Quá trình tử vong
- Quá trình di dân hoặc chuyển cư
Nếu quá trình sinh sản tăng nhanh hơn quá trình tử vong thì dân số tăng và do đó lực
lượng lao động tăng thêm không những về lượng mà cả về chất. Vì số lượng lao động trẻ
tăng, nên nếu nền sản xuất kòp thời có việc làm cho lực lượng này thì kinh tế sẽ phát triển.
Ngược lại, nếu nền kinh tế chưa phát triển mà dân số tăng nhanh sẽ trở thành gánh nặng cho
xã hội.
Nước ta có một dân số trẻ, tuy nhiên, chất lượng dân số và nguồn lực là một vấn đề
quan trọng. Hiện nay đội ngũ lao động nước ta chỉ mới có khoảng 20% được qua đào tạo; do
đó năng suất lao động thấp, ít có cơ hội tìm việc làm và tỉ lệ thất nghiệp cao.

1.6.2 Sự phát triển khoa học công nghệ
Ngày nay hệ thống công nghệ mới đã làm cho nhiều ngành công nghiệp phát triển với
tốc độ cao, chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế và thâm nhập ngày càng mạnh mẽ vào hầu
hết các nghề và hoạt động xã hội.
Cách mạng công nghệ đang làm thay đổi tính chất và nội dung lao động nghề nghiệp
của người lao động. Cách mạng công nghệ đã dẫn tới việc sử dụng những công cụ, phương
tiện hiện đại, phức tạp, nên đã tăng dần tính chất lao động trí óc, giảm dần các nhóm lao
18
động chân tay. Việc phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học cao trong nội
dung lao động của mỗi ngành đòi hỏi người lao động ngày nay chẳng những phải đổi mới tri
thức và hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, mà còn phải nâng cao trình độ văn hóa.
Cách mạng công nghệ làm thay đổi cấu trúc của đội ngũ lao động. Khi công nghệ mới
xâm nhập vào sản xuất, nó tất yếu đòi hỏi thay đổi cấu trúc, thành phần của nguồn nhân lực
thích ứng với sản xuất; nghóa là phải tạo ra một tỉ lệ người lao động có chuyên môn và trình
độ phù hợp với trình độ phát triển của công nghệ.

- Thò trường lao động chính quy:

đặc trưng bởi các hợp đồng giữa người lao động với
những đơn vò sử dụng người lao động thông qua các quy đònh về tiền lương, tiền công,
thuế, có đăng ký và chòu sự thanh tra của nhà nước.
- Thò trường lao động không chính quy: đặc trưng bởi sự thỏa thuận giữa người lao động
và người sử dụng lao động không đóng thuế và không chòu sự thanh tra của nhà nước.
Các loại hình lao động trong thò trường lao động:
- Lao động phổ thông đơn giản: là những người được sử dụng cho những công việc làm
giản đơn, không cần qua đào tạo nghề.
- Lao động phổ thông bán lành nghề: là những người được sử dụng cho những công việc
không phức tạp, có tính phụ trợ, thường dạng này được đào tạo nghề ngắn hạn từ 3
đến 6 tháng.
- Công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ: là những người trực tiếp vận hành thành
thạo các thiết bò, phương tiện để thực hiện các quy trình công nghệ sản xuất hoặc thực
hiện các công việc nghiệp vụ chuyên môn. Để hoàn thành những công việc này, họ
phải có những kỹ năng nhất đònh.
- Kỹ thuật viên: là những người có trách nhiệm thực hiện những thao tác và quyết đònh
kỹ thuật. Đó là những người vừa phải có những kỹ năng thực hành vừa phải có những
kiến thức về chuyên môn kỹ thuật.
- Kỹ sư: là những người có trách nhiệm quyết đònh những vấn đề kỹ thuật chủ yếu,
quan trọng trong sản xuất, họ phải có những kiến thức chuyên môn cũng như kỹ năng
trong công việc vững vàng.
- Công nghệ gia: là những người có trách nhiệm quyết đònh các vấn đề công nghệ để
chỉ đạo sản xuất, cải tiến công nghệ. Họ là những người vừa phải có kiến thức về
chuyên môn kỹ thuật vững vàng, vừa phải có kinh nghiệm trong công nghệ sản xuất.
- Nhà khoa học: là những người có trách nhiệm nghiên cứu, cải tiến, sáng chế và áp
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ. Họ là những người cần phải có
trình độ, khả năng về chuyên môn kỹ thuật cao, có kinh nghiệm nghiên cứu và có học
vò khoa học.

tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km về phía Đông - Bắc theo quốc lộ 1A. Diện tích tự nhiên
154,73 km
2
, chia thành 23 xã, phường; có 4 khu công nghiệp lớn là: KCN Biên Hòa 1, KCN
Biên Hòa 2, KCN AMATA, KCN LOTECO có sân bay quân sự Biên Hòa và các trục lộ
chính là: 1A, 1K, 51.
Tân Phú là huyện miền núi giáp với 2 tỉnh Lân Đồng và Bình Phước, cách trung tâm
thành phố Biên Hòa 90 km về phía Đông – Bắc; diện tích tự nhiên là 781,13 km
2
, chia thành
17 xã, thò trấn. Có vườn quốc gia Nam Cát Tiên diện tích 37,674 ha.
Đònh Quán là huyện miền núi chạy dọc theo quốc lộ 20, cách trung tâm thành phố
Biên Hòa 70 km về phía Đông – Bắc, diện tích tự nhiên 962,91 km
2
chia thành 13 xã và 1 thò
trấn.
Xuân lộc
là huyện miền núi chạy dọc theo quốc lộ 1 A, giáp với 2 tỉnh Bình thuận và
Bà Ròa – Vũng Tàu, cách trung tâm thành phố Biên Hòa 80 km về phía Đông; diện tích tự
nhiên là 947,9 km
2
, chia thành 21 xã, 1 thò trấn.
Long Khánh nằm trên trục quốc lộ 1A và 56, giáp với tỉnh Bà Ròa – Vũng Tàu, cách
trung tâm thành phố Biên hòa 56 km về phía Đông; diện tích tự nhiên là 497,75 km
2
, chia
thành 17 xã, 1 thò trấn.
Thống Nhất nằm ở cửa ngõ phía Đông thành phố Biên Hòa, diện tích tự nhiên là
506,43 km
2

dạng tiêu biểu: Núi thấp, đồi gò, bậc thềm và đồng bằng; trong đó đòa hình đồi gò là đặc
trưng của tỉnh. Với đặc trưng đòa hình nói trên, Đồng Nai rất thuận lợi cho việc xây dựng cơ
sở hạ tầng đô thò, khu công nghiệp và dòch vụ.
Đồng Nai có đòa giới hành chính tiếp giáp với 6 tỉnh thành phố đó là:
- Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh
- Nam giáp Bà Ròa – Vũng Tàu
- Đông giáp tỉnh Bình Thuận và Đông – Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng
- Tây – Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước.
Có vò trí hết sức quan trọng, nằm ngay cạnh Thành phố Hồ chí Minh – một trung tâm
kinh tế lớn của cả phía Nam; lại nằm trên đầu nút giao thông quan trọng của cả khu vực với
bên ngoài. Đồng Nai được xem là một khu vực “bản lề chiến lược” tiếp giáp giữa trung du
và đồng bằng, Nam cao nguyên và duyên hải, là cửa ngõ của trục động lực phát triển vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam – Tp. Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Bà Ròa-Vũng Tàu – Bình
Dương, giữ vai trò trọng yếu trong một vùng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và an ninh
quốc phòng.
Đồng Nai có hệ thống giao thông khá thuận lợi vì có nhiều tuyến giao thông quốc gia
đi qua như: quốc lộ 1, quốc lộ 20, quốc lộ 51, đã được nâng cấp, có nhiều tuyến đường liên
tỉnh; Đồng Nai có tuyến đường sắt Bắc Nam đi qua, nối liền với các đòa phương khác trong
cả nước, có sân bay quân sự Biên Hòa, có hệ thống cảng Gò Dầu, Phú Mỹ, cùng với cảng
Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất; tạo thành một mạng lưới giao thông thuận tiện cho
hoạt động kinh tế trong vùng và cả nước. Đồng Nai là đòa bàn trọng yếu về kinh tế và cả về
chính trò và quốc phòng an ninh, có vò trí quan trọng trong sự phát triển của vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam, gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên. Nằm trong vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam, Đồng Nai đã tận dụng được những lợi thế so sánh của vùng và của
tỉnh trong công cuộc đổi mới và đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhất là giai đoạn từ
năm 1995 đến nay.
2.1.2 Dân số
Theo kết quả tổng điều tra dân số ngày 01/04/1999, dân số toàn tỉnh có 1.989.541
người; trong đó, nam: 993,039 người; nữ: 996.502 người.
Giai đoạn 1991-2000, dân số toàn tỉnh ước tính tăng bình quân 2.22%/năm; trong đó,

2,000,000
2,500,000
1990 1995 2000 2002 2005 2010
Đvt: người
Tổng dân số
Dân số thành thò
Dân số nông thôn

Đồng Nai là một trong 11 tỉnh trọng điểm thu hút dân cư tự do đến làm ăn sinh sống,
hầu hết là những vùng miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng duyên hải miền
Trung và các vùng khác trên đất nước, gồm nhiều dân tộc nhưng chủ yếu là người kinh.
Di dân đến Đồng Nai theo nhiều hình thức khác nhau: di dân theo kế hoạch do nhà
nước tổ chức, di dân tự do. Những năm gần đây do sản xuất công nghiệp phát triển, nhiều
nhà máy xí nghiệp được đầu tư đã thu hút nhiều nhiều lao động từ nhiều đòa phương đến
phần lớn là dân cư trong độ tuổi lao động và độ tuổi sinh đẻ nên dự báo tình hình dân số
Đồng Nai sẽ tăng vọt trong những năm tới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status