Góc sân và khoảng trời là tập thơ của Trần Đăng Khoa được xuất bản lần đầu tiên
năm 1968 khi tác giả mới 10 tuổi.
Đôi lời của tác giả
Tôi tự coi đây là tập tuyển với những dấu ấn thực khó quên của tuổi thơ tôi, trong những
năm tháng đánh giặc gian khổ và hào hùng. Làng tôi là một trạm nghỉ chân trên đường đi
B của các trung đoàn đồng bằng Bắc bộ, trong suốt thời chống Mỹ sau khi huấn luyện ở
núi rừng Yên Tử. Hàng ngàn chú bộ đội đã lần lượt rải chiếu ngủ trên nền đất nhà tôi, đã
mắc võng nằm trong vườn cây nhà tôi. Các chú nghe thơ tôi, chép thơ tôi vào sổ tay và
mang nó ra mặt trận. Sự tiếp xúc có phần ngẫu nhiên đó đã dậy tôi một cách nghiêm túc
phải viết như thế nào. Đấy là điều lý giải vì sao thơ tôi đã có mặt từ những năm chiến
tranh.
Bài thơ nào cũng gợi cho tôi những kỷ niệm mà tôi đã đôi lần nói tới trong các dịp xuất
bản trước. Có bài khá quen thuộc với bạn đọc, nhưng tôi đã phải chia tay, bởi tôi nghĩ nó
đã hoàn thành nhiệm vụ ở thời điểm mà nó ra đời. Tôi hy vọng phần chắt lọc lại lần này
sẽ là một chân dung trọn vẹn của tôi, những năm tôi còn là một chú học trò.
Trong tập thơ, có bài tôi viết trong lúc sát hạch, nghĩa là các cô chú đến chơi, vây quanh
rồi ra đề cho tôi làm, như bài Bên sông Kinh Thầy, Sao không về Vàng ơi?. Có bài tôi
viết nhanh, theo những thông tin và yêu cầu của báo Văn nghệ, như bài Lời một bạn gái
12 tuổi. Có bài tôi viết để thay một bức thư trả lời, như bài Thơ vui. Bác Mạnh Sinh, 75
tuổi, ở số nhà 12 phố Đông Kinh, thị xã Lạng Sơn, không hiểu nghe tin đâu, tưởng tôi đã
chết, bác bèn gửi về nhà tôi hai câu đối và 5 bài thơ khóc rất cảm động. Khi đó tôi chưa
biết cũng đã có một trường hợp tương tự xảy ra từ hàng chục năm trước.
Con bướm vàng là bài thơ dầu tiên tôi viết vào tháng 2-1966, khi tôi 8 tuổi, đang học ở
học kỳ II lớp 1 trường làng. Suốt 10 năm học phổ thông, tôi đã được đăng báo in sách
khoảng trên 200 bài và 4 trường ca.
Đã hơn 30 năm trôi qua, bây giờ đọc lại, tôi vẫn thấy như còn hiện ra trước mắt những
cảnh vật, những con người mà tôi quen thuộc, yêu mến.
Mọi cố gắng đều khó vượt qua sự hạn chế của chính bản thân mình. Tuổi học trò và
những năm gian khổ chiến tranh đều đã qua đi. Nhưng tập thơ này nếu còn neo giữ lại
được một chút gì, dù chỉ một chút thôi, trong lòng bạn đọc hôm nay, thì đối với tôi đã là
niềm an ủi to lớn lắm rồi.
Cây bàng mùa đông
Cây dừa
Cây xoan
Cô Thị Mầu
Côn Sơn
Cầu Cầm
Cháu đi
Cháu làm bà còng
Chọc ếch
Chớm thu
Con bướm vàng
Con cò trắng muốt
Con chim hay hót
Con gà liếp nhiếp
Con mắt
Con trâu đen lông mượt
Cơn giông
Dặn em
Em dâng cô một vòng hoa
Em gặp Bác Hồ
Em lớn lên rồi
Góc sân và khoảng trời
Gửi theo các chú bộ đội
Ghi ở bờ ao
Ghi chép về ngọn đèn dầu
Giông bão
Hà Nội
Hà Nội có Bác Hồ
Hạ Long
Hạt gạo làng ta
Tháng ba
Thôn xóm vào mùa
Thả diều
Thầy giáo đi bộ đội
Thơ vui
Tiếng đàn bầu và đêm trăng
Tiếng chim chích choè
Tiếng nói
Tiếng võng kêu
Trông trăng
Trận địa bỏ không
Trăng sáng sân nhà em
Trăng ơi từ đâu đến
Trong sương sớm
Về thăm cô Bưởi
Vườn cải
Vườn em
Đặc sắc ngôn ngữ và nhạc điệu trong tập : “ Góc sân và
khoảng trời .”
1. Cả ngàn năm trung cổ, văn học nhân loại nói chung và văn học Việt Nam nói
riêng ở trạng thái lớn nhỏ, già trẻ bất phân, trẻ em chưa có bộ phận văn học viết
riêng cho mình. Từ khi xuất hiện loại Sách hồng của văn chương Tự lực văn
đoàn cho đến nay, ta đã có một nền văn học thiếu nhi tương đối dày dặn với các
tên tuổi như Thạch Lam, Khái Hưng, Tô Hoài, Võ Quảng, Phạm Hổ, Xuân
Quỳnh… Trong số những tên tuổi lớn ấy, Trần Đăng Khoa với tập thơ thời nhỏ –
tập Góc sân và khoảng trời – đã chiếm một vị trí xứng đáng trong bộ phận văn học
cho thiếu nhi của dân tộc.
Thơ Khoa hay không phải ở nội dung phản ánh hiện thực. Dù giới hạn một cách
khiêm tốn trong góc sân và khoảng trời của riêng Khoa, nhưng tập thơ đã dàn trải ra đủ
các loại đề tài, từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn như đồ vật, loài vật, người thân, cho đến
Từ láy trong thơ Khoa có khả năng tượng hình, tượng thanh sống động, ấn
tượng: Tiếng gà/ Khát khát/ Tiếng chó/ Khau khau/ Tiếng gọi nhau/ Ơi ới… Cả đất trời
buổi sáng như rung lên nhịp rung của sự sống mới bởi hàng loạt các từ láy tượng thanh
liên hoàn: À uôm… ếch nói ao chuôm/ Rì rào gió nói trong vườn rộng rênh/ Âu âu chó
nói đêm thanh/ Tẻ te gà nói sáng banh ra rồi/ Vi vu gió nói mây trôi/ Thào thào trời nói
xa vời mặt trăng. Giá như thiếu các từ láy “à uôm”, “rì rào”, “âu âu”, “tẻ te”, “vi vu”,
“thào thào”, thì dù có viết: ếch nói, gió nói, chó nói, gà nói, trời nói… không gian đất
trời vẫn cứ tĩnh tại, vô hồn. Các từ láy ấy không chỉ diễn tả chính xác đặc điểm tự nhiên
của từng loài vật, hiện tượng mà còn bộc lộ cái hồn của chúng. Vạn vật đang nói chuyện
bằng thứ ngôn ngữ huyền bí mà Khoa nghe được bằng trực giác hồn nhiên của mình.
2.1.2 Thơ Khoa đi tìm cái linh hồn ảo diệu của thiên nhiên, tạo vật qua sự sống
của chính con người. Cho nên, ngôn ngữ thơ bao giờ cũng có một độ mở liên tưởng với
các hình thức tu từ: nhân hoá, so sánh, ẩn dụ, tượng trưng… rất bất ngờ.
Nhiều bài nhân cách hoá toàn phần như Mưa, Đánh thức trầu, Buổi sáng nhà
em, Đám ma bác Giun,… Vạn vật được nhìn qua con mắt tinh tế của sinh hoạt làng quê,
tâm lý đời thường: Mụ gà cục tát như điên. Làm thằng gà trống huyên thuyên một hồi,
của phong tục tập quán: Đám ma đi đến là dài. Qua những vườn chuối vườn khoai vườn
cà… Có những hình ảnh xuất thần, ngộ nghĩnh, dễ thương: Hàng bưởi/ Đu đưa/ bế lũ
con/ Đầu tròn trọc lóc… Hếch cái mũi trâu cười/ Nhe cả hàm răng sún… Có những nhân
hoá đạt đến mức trí tuệ, kết tinh thành những biểu trưng: Đứng canh trời đất bao la/ Mà
dừa đủng đỉnh như là đứng chơi, … Ông trời mặc áo giáp đen/ Ra trận…, Ao trường vẫn
nở hoa sen/ Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt râu… Giữa người và vật cứ như có một sợi dây
vô hình trong mối tương giao xúc cảm. Cây dừa không còn là dừa nữa mà mang vóc dáng
người lính canh giữ cho đất trời bình yên. Mưa đâu chỉ là mưa mà là huyền thoại về cuộc
chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc. Chú dế mèn bên bờ tre vuốt râu biểu đạt đúng cái
thần thái ung dung đĩnh đạc của con người Việt Nam trong chiến tranh.
So sánh trong thơ Trần Đăng Khoa khá đặc sắc làm nhiều nhà thơ lớn phải thán
phục. Xuân Diệu rất cảm khái với hình ảnh này: Trăng ơi từ đâu đến/ Hay biển xanh diệu
kỳ/ Trăng tròn như mắt cá/ Không bao giờ chớp mi. Nhà thơ từng viết về biển và trăng
rất hay này phải thừa nhận rằng Khoa đã chạm đến tận cùng cái huyền bí của tự nhiên.
bài nào cùng thuộc hàng xuất sắc. Âm điệu réo rắt, rộn ràng của lối thơ ấy như ảnh hưởng
từ những khúc đồng dao trong trò chơi tuổi nhỏ của Khoa. Nhiều nhất và thành công nhất
là thể lục bát (46/105 bài). Âm điệu thơ miên man, lắng sâu. Những lời hát ru dân gian
có lẽ đã thấm vào máu thịt của Khoa từ thuở lọt lòng. Các giai điệu truyền thống chính là
cái nôi tạo nên một thế giới âm thanh giàu tiết tấu của tập “Góc sân và khoảng trời”.
2.2.1 Nhạc điệu trong thơ Khoa không chỉ là giai điệu của tâm hồn mà còn có
khả năng tạo hình, tạo nghĩa tinh tế. Bài Mưa là một kiệt tác về âm thanh. Âm hưởng
chung của bài thơ vừa mang cái hồn nhiên, khoẻ khoắn của đồng dao, vừa có tiết tấu khác
hẳn. Nó phá vỡ mọi cấu trúc đơn điệu của đồng dao, mở ra một thế giới thanh âm phức
hợp nhiều bè, khi trầm khi bổng, lúc nhặt lúc khoan, lúc mạnh lúc nhẹ, khi tắt khi vang.
Bản nhạc của cơn mưa được phân làm hai đoản khúc: “Sắp mưa” và “Mưa”. Đoản khúc
một, cơn giông kéo đến, giai điệu âm thanh vừa nhịp nhàng vừa hối hả. Có cái nhịp
nhàng khoan thai của nhịp hai mô tả những tín hiệu chuyển đổi đầu tiên của thời tiết:
“Mối trẻ/ Bay cao/ Mối già/ Bay thấp…” Có cái hối hả dồn dập của những nhịp ba, nhịp
bốn đan xen với nhịp một, nhịp hai biểu đạt cơn giông ập đến vội vàng: Gà con/ Rối rít
tìm nơi/ Ẩn nấp/ Ông trời/ Mặc áo giáp đen/ Ra trận/ Muôn nghìn cây mía/ Múa gươm/
Kiến/ Hành quân/ Đầy đường/ Lá khô/ Gió cuốn/ Bụi bay/ Cuồn cuộn/ Cỏ gà rung tai/
Nghe/ Bụi tre/ Tần ngần/ Gỡ tóc/ Hàng bưởi/ Đu đưa/ Bế lũ con/ Đầu tròn/ Trọc lóc/
Chớp/ Rạch ngang trời/ Khô khốc/ Sấm/ Ghé xuống sân/ Khanh khách/ Cười… Lưu ý các
câu thơ nhịp một : “Kiến”/ “Nghe”/ “Chớp”/ “Sấm”/ “Cười”… làm giãn nhịp thơ, hơi
thơ như sững lại, một thoáng ngỡ ngàng trước những biến đổi bất ngờ của cơn giông.
Đoản khúc hai, cơn mưa ập đến, giai điệu âm thanh nhanh hơn, vang hơn. Hai chữ
“Mưa”, “Mưa” rơi thành hai nhịp một. Mưa nặng hạt. Tiếp theo là câu thơ năm chữ: Ù ù
như xay lúa, nhịp năm, mưa xoáy trong cơn gió, ào ạt trong không gian. Không phải là
cơn mưa mùa đông, mưa dầm, đều hạt như câu thơ của Tố Hữu: Nỗi niềm chi rứa Huế
ơi/ mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên mà là cơn giông bất chợt cuối mùa hè. Giai điệu
rất bất thường: Lộp bộp/ Lộp bộp/ Rơi/ Rơi/. Đất trời/ Mù trắng nước/ Mưa chéo mặt
sân/ Sủi bọt… Bài thơ phá vỡ toàn bộ luật bằng trắc, vần điệu của thơ cách luật (mà chủ
yếu dùng vần lưng rất linh hoạt của thơ ca dân gian), vừa có hài âm vừa có nghịch âm, rất
tự do phóng khoáng. Độ cao: vừa trầm vừa bổng, Âm sắc: vừa tắt vừa vang, vừa trong
những sợi mưa, lùa vào buồng cau đang nở, hoa cau tuôn xuống vại nước. Cả một thế
giới của thanh, sắc, hương ùa vào tâm hồn rộng mở của bé Khoa trong một đêm thu yên
tĩnh mơ màng.
“Đêm Côn Sơn” xứng đáng là cái “kỳ thanh linh linh nhiên“ trong không gian ẩn dật của
đại thi hào Nguyễn Trãi. Bài thơ mở đầu bằng một hợp âm mơ màng, thánh thót:
Tiếng chim vách núi nhỏ dần
Rì rầm tiếng suối khi gần khi xa
Có sự kết hợp nhịp nhàng giữa các thanh âm trầm và bổng, khép và mở, tắt và
vang giữa hai câu lục bát. Tiếng chim thánh thót đâu đó được dựng lên bằng hai âm trắc
“vách núi” giữa câu rồi lắng xuống bởi thanh huyền ở chữ “dần” cuối câu. Cái âm vực
thấp dần ấy bắc cầu sang tiếng suối trầm đục “rì rầm” ở câu bát, nhưng không tắt hẳn mà
vang ra bởi âm tiết mở “xa” ở cuối câu. Đêm rất yên tĩnh. Từ đó, một thanh âm đột ngột
rơi xuống cõi thinh không:
Ngoài thềm rơi cái lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng
Cái vô hình trở thành hữu hình. Vô thanh mà vẫn hữu thanh. Một nốt lặng trong
cái tư thế “nghĩ gì” của “ông bụt ngồi nghiêm”. Tiếng động của ngoại cảnh chuyển thành
thanh âm của nội tâm:
Ngang trời kêu một tiếng chuông
Rừng xưa nổi gió, suối tuôn ào ào.
Sự cân đối giữa hai thanh không và phụ âm vang: “ngang” và “chuông” ở hai đầu câu
lục làm cho các âm thanh của tiếng chuông như nối liền hai cực của không gian. Không
gian nới giãn ở cõi vô cùng. Nhịp 4/4 đột ngột ở câu bát làm hơi thơ mạnh, khí thơ cuộn
lại, cùng với các âm “o” tròn tạo hình cơn lốc của thời gian từ quá khứ ùa về hiện tại.
Hồn Nguyễn Trãi xưa như hiện về hoà nhập cùng với hào khí của thời đại hôm nay.
Riêng câu cuối là một hợp âm độc lập:
Ngoài kia nòng pháo ướt đầm sương khuya…
Hùng khí của thời đại cách mạng vang lên nhưng không phá vỡ không khí trầm tư suy
tưởng của toàn bài. Khoa tách câu thơ này thành một khổ thơ riêng sau một nốt lặng.
Nòng pháo kia không mang lại cái sôi động của cuộc chiến mà yên bình mộng mơ giữa
Việt Nam là đất nước sản sinh không ít những đứa trẻ biết làm thơ. Tương truyền, thời
xưa đã từng có những thần đồng thi ca như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn
Hiền, Lê Quý Đôn… Gần đây là Nguyễn Hồng Kiên, Nguyễn Bá Dậu, Phan Thị Vàng
Anh… Nhưng để thành một nhà thơ thực sự với những thành công xuất sắc ngay từ thời
thơ ấu, có lẽ chỉ có mỗi mình Trần Đăng Khoa. Góc sân và khoảng trời là tập thơ nhỏ
nhắn nhưng trong đó chứa đựng bao nhiêu vẻ đẹp lớn lao của nghệ thuật. Cả đời làm văn
chương của mình, đến lúc, ông Trần Đăng Khoa hiện tại phải nghiêng mình kính phục
em bé Khoa ở góc sân và khoảng trời ngày trước.
H t g o làng taạ ạ
H t g o làng taạ ạ
Có v phù saị
C a sông Kinh Th yủ ầ
Có h ng sen th mươ ơ
Trong h n c yồ ướ đầ
Có l i m hátờ ẹ
Ng t bùi ng cay ọ đắ
H t g o làng taạ ạ
Có bão tháng b yả
Có m a tháng baư
Gi t m hôi saọ ồ
Nh ng tr a tháng sáuữ ư
N c nh ai n uướ ư ấ
Ch t c cá cế ả ờ
Cua ngoi lên bờ
M em xu ng c y ẹ ố ấ
H t g o làng taạ ạ
Nh ng n m bom Mữ ă ỹ
Trút trên mái nhà
Nh ng n m cây súngữ ă
Theo ng i i xaườ đ
thế nữa có cả tình người, lòng người ấp ủ:
"Có lời mẹ hát,
Ngọt ngào hôm nay. "
Làm ra hạt gạo gian khổ biết chừng nào. Ca dao cổ có câu thấm thía:
" Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần."
Đó là cách phát biểu trực tiếp, có tính chất luân lí, hơi nghiêng về lí trí. Còn
trong bài thơ này , Trần Đăng khoa để thực tế nói lên:
" Hạt gạo làng ta
Có bão tháng bảy
Có mưa tháng ba
Giọt mồ hôi sa
Những trưa tháng sáu"
Bão dập, nắng lửa, mưa dầm, thiên nhiên của đất nước Việt Nam đới khắc
nghiệt này đã đổ vào đầu bà con nông dân bao nhiêu nhọc nhằn để làm ra hạt
gạo , mà cụ thể nhất là bà mẹ của mình:
"Nước như ai nấu,
Chết cả cá cờ.
Cua ngoi lên bờ,
Mẹ em xuống cấy. "
Bốn câu thơ có sức chứa lớn về nội dung, về hình thức biểu hiện. Nghĩ bằng
cách nghĩ của trẻ con, tác giả mới so sánh cái nước do mặt trời hun nóng lên
ở ruộng với nước nóng mà ta đun nấu lên; nước nóng đến mức "chết cả cá
cờ" thì phải là dưới con mắt và suy nghĩ của trẻ con mới nhìn thấy được. Vì
sao vậy? Cá cờ là loài cá còn gọi là cá thia lia, thân đuôi nhiều màu sắc sặc
sỡ, các cậu bé ở nông thôn mà bắt được là thường đem về nuôi ở chai, lọ
thủy tinh như ở thành phố người ta nuôi cá vàng.
Nước óng chết cả cá, như chết mất con cá cờ thì quả là tiếc đứt ruột. Phải có
Trần Đăng Khoa vừa miêu tả hạt gạo nghìn đời, vừa nói đến hạt gạo những
năm đánh Mĩ: gian khổ và nghĩa tình. Tác giả biết chọn lọc những hình ảnh
có sức rung động. Câu thơ:'
"Bát cơm mùa gặt,
Thơm hào giao thông…."
Vừa nói lên được hoàn cảnh vừa nêu được khí thế đất nước của ngày ấy.
Trần Đăng Khoa (sinh ngày 24 tháng 4 năm 1958), quê làng Trực Trì,
xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, là một nhà thơ, nhà
báo, biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, hội viên của Hội Nhà văn
Việt Nam. Ông nguyên là Trưởng Ban Văn học Nghệ thuật, Giám đốc Hệ
Phát thanh có hình VOVTV của Đài tiếng nói Việt Nam. Hiện nay, ông
giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Đài Tiếng nói Việt Nam.
Tiểu sử
Từ nhỏ, ông đã được nhiều người cho là thần đồng thơ văn. Lên 8 tuổi, ông
đã có thơ được đăng báo. Năm 1968, khi mới 10 tuổi, tập thơ đầu tiên của
ông: Từ góc sân nhà em(tập thơ tiếp theo là Góc sân và khoảng trời)
được nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản. Có lẽ tác phẩm nhiều người biết đến
nhất của ông là bài thơ "Hạt gạo làng ta", sáng tác năm 1968, được thi
sĩ Xuân Diệu hiệu đính, sau được nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ nhạc (1971).
Ông cũng được biết đến nhiều với câu truyện khi mới hơn 10 tuổi đã đề nghị
đổi câu thơ "Đường ta đi rộng thênh thang tám thước" thành "Đường ta
rộng thênh thang ta bước" trong bài thơ Ta đi tới của nhà thơ nổi tiếng thời
bấy giờ là Tố Hữu.
Trần Đăng Khoa nhập ngũ ngày 26 tháng 2 năm 1975 khi đang học lớp
10/10 tại trường phổ thông cấp 3 Nam Sách, quân số tại Tiểu đoàn 691
Trung đoàn 2 Quân tăng cường Hải Hưng. Sau khi thống nhất, việc bổ sung
quân cho chiến trường khong còn cần thiết nữa, ông được bổ sung về quân
chủng hải quân. Sau đó ông theo học Trường Viết văn Nguyễn Du và được
cử sang học tại Viện Văn học Thế giới M. Gorki thuộc Viện Hàn lâm Khoa
Gia đình
Trần Đăng Khoa có một anh trai là nhà thơ, nhà báo Trần Nhuận Minh – tác
giả các tập thơ "Nhà thơ và Hoa cỏ", "Bản xô nát hoang dã", "45 khúc đàn
bầu của kẻ vô danh" , từng là Chủ tịch Hội văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng
Ninh. Một chị gái là Trần Thị Bình, hiện sống ở quê cùng với hai cụ thân
sinh của nhà thơ. Ông còn có một người em gái tên là Trần Thị Thuý Giang,
hiện làm giáo viên tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.