Y học thực hành (813) - số 3/2012
102
Trung ơng sản xuất dùng trong chơng trình tiêm chủng
mở rộng, Luận án tiến sỹ Y học. Viện Vệ sinh Dịch tễ
Trung ơng: Hà Nội.
4. Đỗ Sỹ Hiển (2005), Chơng trình tiêm chủng mở
rộng thành quả 20 năm ở Việt Nam. tr 61-62.
5. Trịnh Quân Huấn (2000), Bệnh viêm gan do virút,
Hà Nội: Nhà xuất bản Y học.
6. Hoàng Thuỷ Long và cs (2001), Điều tra kiến thức,
thái độ, thực hành (KAP) của hộ gia đình về bệnh gan,
viêm gan B và tiêm chủng mở rộng tại Thanh Hoá. Tạp
chí Y học dự phòng. XI(4(50)): tr. 18-22.
7. Cao Thị Thanh Thủy (1995), Bớc đầu tìm hiểu vai
trò lây truyền mẹ sang con của các dấu ấn (Markers) virút
viêm gan B ở phụ nữ có thai, Luận án Thạc sỹ khoa học y
dợc. Đại học Y Hà Nội: Hà Nội.
Đánh giá sự thay đổi một số chỉ tiêu tuần hoàn, hô hấp
trên bệnh nhân cắt amydan gây mê bằng propofol kết hợp fentanyl
Nguyễn Văn Khoa - Bệnh viện 103
Đặt vấn đề
Viêm Amidan là một loại bệnh phổ biến ở Việt
Nam. Hiện nay đã áp dụng nhiều phơng pháp điều trị
bệnh này trong đó có điều trị bằng phẫu thuật. Khi tiến
hành phẫu thuật cắt Amidan, vô cảm và phẫu thuật
huyết áp xuất hiện sau tiêm liều đầu 20 giây và tác
dụng tối đa ở phút thứ 2 đến phút thứ 3. Các liều sau
không gây tụt huyết áp. Propofol làm giảm huyết áp
liên quan đến tăng nồng độ của nó trong máu.
Propofol ức chế tim mạch giống nh các thuốc
Barbiturate. Khởi mê bằng Propofol làm giảm huyết áp
động mạch: 12,1% bệnh nhân có huyết áp tâm thu
dới 90mmHg trong 10 phút đầu sau khởi mê, 53%
bệnh nhân có huyết áp giảm 15 - 35%.
Propofol có tác dụng làm chậm nhịp tim. Theo tác
giả Deush và Harris Propofol làm giảm trơng lực giao
cảm nhiều hơn lực phó giao cảm tạo ra biểu hiện của
các đáp ứng phó giao cảm. Tác dụng này không phải
do nút xoang cũng không phải do giảm dẫn truyền nhĩ
thất. Do đó Atropin và Glycopyrolatte có thể ngăn ngừa
chậm nhịp tim do Propofol gây ra.
- Tác dụng đối với hô hấp.
Propofol có tác dụng ức chế hô hấp nh các thuốc
gây mê khác, làm giảm tần số thở và thể tích khí lu
thông. Theo Bryton có tới 88% bệnh nhân giảm thể tích
khí lu thông và ngừng thở khi khởi mê bằng Propofol.
Tác dụng này phụ thuộc vào liều lợng và tốc độ
đa thuốc vào cơ thể. Các liều an thần 0,3 - 0,6 mg/kg
không làm thay đổi hô hấp bệnh nhân. Với liều khởi mê
2 - 2,5 mg/kg có thể làm giảm thở hoặc ngừng thở
ngắn khoảng 45 giây sau đó trở về bình thờng. Ngừng
thở do Propofol gặp nhiều hơn so với các thuốc mê
toàn thân khác nh: Thiopental, Ketamin Propofol
gây ngừng thở trên 45 giây gặp trong 40% trờng hợp
trong khi đó Thiopentan chỉ gặp 15%. Nguy cơ ngừng
đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
+ Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
- Có chỉ định cắt amidan.
- Tuổi 16.
- Thể trạng bệnh nhân xếp theo tiêu chuẩn ASA I,
II.
- Không dị ứng các thuốc dùng trong gây mê.
- Không có dấu hiệu đặt NKQ khó (Mallampti I, II )
- Không có dị dạng, mào lệch vách ngăn mũi (vì
gây khó khăn cho đặt ống NKQ qua mũi).
- Đồng ý phơng pháp vô cảm gây mê, hợp tác
trong quá trình phun tê đặt ống NKQ.
+ Tiêu chuẩn loại trừ:
- Cắt amidan bằng phơng pháp gây tê tại chỗ.
- Những bệnh nhân phẫu thuật có thời gian kéo dài
hơn 75 phút.
- Bệnh nhân có tai biến trong quá trình phẫu thuật
do phẫu thuật.
Nghiên cứu theo phơng pháp tiến cứu, thử nghiệm
lâm sàng ngẫu nhiên không đối chứng.
Kết quả nghiên cứu và bàn luận.
Bảng 1: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi Số lợng (n=70) Tỷ lệ (%)
16 25 33 47,14
26 35 24 34,29
36 45 11 15,71
Trên 45 tuổi 2 2,86
Tuổi trung bình (X SD)
27,33 8,84
gây mê so với trớc gây mê.
Các thời điểm
Tần số tim (lần/phút) SD
Giá trị P
Trớc gây mê 78,84 7,12
Khởi mê 77,06 7,16 0,16
Sau gây mê 10 phút 77,38 6,98 0,22
Sau rút ống NKQ 80,78 6,39 0,09
Nhận xét: Sau khởi mê nhịp tim trung bình của
bệnh nhân là 77,06 7,16 lần/phút so với trớc gây mê
là 78,84 7,12 lần/phút. Nh vậy nhịp tim sau khi khởi
mê có giảm nhng sự thay đổi này không có ý nghĩa (P
> 0,05). Sau gây mê 10 phút nhịp tim còn giảm (77,38
6,98 lần/phút) so với trớc gây mê và cũng không có
ý nghĩa với P > 0,05.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết
quả của các tác giả khác.
Bảng 5: Thay đổi huyết áp động mạch ở các thời
điểm gây mê so với trớc gây mê.
Huyết áp
Thời điểm
HATT HATTr
Trớc gây mê ( SD)
121,71 5,41 72,56 5,62
SD
112,66 7,23 71,95 5,52
Khởi mê
P P = 0 P = 0,52
SD
119,83 5,96 71,38 4,99 Sau gây mê
tin cậy là 100%)
- Sau gây mê 10 phút tần số thở còn giảm so với
trớc gây mê nhng mức độ giảm không có ý nghĩa
thống kê với P > 0,05.
- Sau rút ống NKQ tần số thở tăng so với trớc gây
mê nhng không có ý nghĩa thống kê với P > 0,05.
Nguyên nhân gây tăng tần số thở có thể do kích thích
vùng hầu họng sau cắt amidan và sau rút ống NKQ.
Bảng 7: Ngừng thở trong quá trình gây mê.
Thời điểm Số bệnh nhân (n=70) Tỷ lệ (%)
Trong khởi mê 4 5,71
Duy trì mê 0 0
Sau rút ống NKQ 0 0
Hồi tỉnh 0 0
Y học thực hành (813) - số 3/2012
104
Trong khởi mê có 4 bệnh nhân ngừng thở ngắn
phải hô hấp hỗ trợ. Trong duy trì mê, sau rút ống NKQ
và giai đoạn hồi tỉnh các bệnh nhân tự thở tốt, không
có bệnh nhân nào ngừng thở. Bệnh nhân đã đợc đặt
ống NKQ trớc khởi mê dới phun tê nên việc hô hấp
hỗ trợ tơng đối đơn giản. Sau một vài phút bóp bóng,
bệnh nhân sẽ thở lại. Chúng tôi không gặp bệnh nhân
nào ngừng thở kéo dài sang thời kỳ duy trì mê.
Bảng 8: Thay đổi độ bão hòa oxy
Thời điểm
nghĩa thống kê (P=0) với biên độ sâu. Sau gây mê 10
phút tần số thở còn giảm so với trớc gây mê, mức độ
giảm không có ý nghĩa thống kê với P>0,05. Sau rút
ống NKQ tần số thở tăng so với trớc gây mê (P>0,05).
Trong khởi mê có 4 bệnh nhân ngừng thở ngắn
phải hô hấp hỗ trợ. Trong duy trì mê, sau rút ống NKQ
và giai đoạn hồi tỉnh các bệnh nhân tự thở tốt, không
có bệnh nhân nào ngừng thở.
3. Độ bão hòa oxy: Khi khởi mê độ bão hòa oxy
(SpO
2
) bệnh nhân có giảm so với trớc gây mê (không
có ý nghĩa với P > 0,05). Các thời điểm sau gây mê 10
phút và sau rút ống NKQ, độ bão hòa oxy thay đổi
không đáng kể so với trớc gây mê với P>0,05. Trong
quá trình gây mê độ bão hoà oxy luôn luôn > 97%.
Tài liệu tham khảo
1. Phạm Ngô Kim Bách (2003), Đánh giá hiệu quả sử
dụng Propofol trong gây mê cắt Amidan, Luận văn tốt
nghiệp Bác sĩ chuyên khoa II - Đại học Y Hà nội.
2. Huỳnh Thị Bình (2003), Sử dụng Propofol đơn thuần
trong gây mê cho phẫu thuật cắt Amidan, Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ Y học - Học viện Quân y.
3. Chu Mạnh Khoa (2000), Những kinh nghiệm và
những nhợc điểm mới về sử dụng Propofol - Sinh hoạt
khoa học về chuyên đề sử dụng Propofol trong gây mê
tĩnh mạch, Astrazenca và hội Gây mê hồi sức.
4. Barst S, Leiderman J, Markowitz A (1999),
Ondansetron with propofol reduces the incidence of
emesis in children following tonsillectomy. Anaesth/ 46;
Đa khoa Khu Vực Mai Châu nhằm các mục tiêu sau:
1. Mô tả hình ảnh vị trí của sỏi sót qua chụp đờng
mật qua Kehr và siêu âm sau mổ.
2. Xác định khả năng phát hiện sỏi sót qua 2
phơng pháp trên.
Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu
1. Đối tợng nghiên cứu
Gồm các BN sỏi mật không phân biệt tuổi, giới
đợc đặt ống dẫn lu Kehr để chụp kiểm tra và siêu
âm sau mổ tại Bệnh viện Đa khoa Khu Vực Mai Châu-
Hoà Bình từ tháng 1/2006 đến tháng 12/2011.
Các bệnh nhân đợc chẩn đoán là sỏi mật dựa vào
lâm sàng kết hợp với siêu âm, xét nghiệm máu hoặc
lâm sàng kết hợp với siêu âm, xét nghiệm máu và chụp
cắt lớp vi tính, dựa vào tiêu chuẩn sau:
Lâm sàng: Có triệu chứng sỏi mật.