Sự thay đổi một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa ở phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh luận văn thạc sĩ sinh học - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG

SỰ THAY ĐỔI MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ, SINH HÓA
Ở PHỤ NỮ TIỀN MÃN KINH VÀ MÃN KINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
(Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm)


2

NGHỆ AN, 2012


3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG

SỰ THAY ĐỔI MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ, SINH HÓA
Ở PHỤ NỮ TIỀN MÃN KINH VÀ MÃN KINH
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC


1. Lý do chọn đề tài
2. Mục tiêu nghiên cứu
3. Nội dung nghiên cứu
3.1. Đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý ở phụ nữ tiền mãn kinh và mãn
kinh đến khám định kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Hà Tĩnh
3.2. Đánh giá một số chỉ tiêu sinh hóa ở phụ nữ tiền mãn kinh và mãn
kinh đến khám định kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Hà Tĩnh
3.3. Tìm hiểu sự biến đổi các chỉ tiêu sinh lý và sinh hóa giữa nhóm
phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. Đại cương về tiền mãn kinh và mãn kinh
1.2. Trục vùng dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng
1.3. Một số đặc điểm hình thái ở phụ nữ mãn kinh
1.4. Những thay đổi sinh lý (triệu chứng lâm sàng) thời kỳ tiền mãn
kinh và mãn kinh
1.5. Các biến đổi chuyển hóa glucid thời kỳ mãn kinh
1.6. Các biến đổi chuyển hóa lipid và nguy cơ xơ vữa động mạch thời
kỳ mãn kinh
1.7. Các biến đổi tim mạch và các nguy cơ bệnh lý tim mạch thời kỳ
mãn kinh
1.8. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm triển khai và thời gian nghiên cứu
2.2. Đối tượng nghiên cứu
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
2.3.2. Phương pháp chọn mẫu
2.3.3. Phương tiện nghiên cứu
2.3.4. Các bước tiến hành nghiên cứu
2.3.5. Phương pháp xử lý số liệu

3.1.2. Các chỉ số hình thái, lâm sàng, huyết học và sinh hóa máu ở
phụ nữ TMK
3.1.3. Các chỉ số hình thái, lâm sàng, huyết học và sinh hóa máu của
phụ nữ MK
3.1.4. Sự biến đổi các chỉ số hình thái, lâm sàng, huyết học và sinh
hóa máu giữa hai nhóm đối tượng nghiên cứu
3.2. BÀN LUẬN
3.2.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
3.2.2. Tuổi mãn kinh trung bình của nhóm nghiên cứu
3.2.3. Các chỉ số hình thái của phụ nữ TMK và phụ nữ MK trong
nhóm nghiên cứu
3.2.4. Chỉ số mạch và huyết áp của phụ nữ TMK và phụ nữ MK
trong nhóm nghiên cứu
3.2.5. Tần suất xuất hiện các triệu chứng lâm sàng của phụ nữ TMK
và phụ nữ MK trong nhóm nghiên cứu
3.2.6. Các chỉ số huyết học của phụ nữ TMK và phụ nữ MK trong
nhóm nghiên cứu
3.2.7. Các chỉ số sinh hóa máu của phụ nữ TMK và phụ nữ MK
trong nhóm nghiên cứu
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
1. Sự biến đổi các chỉ số hình thái, lâm sàng và sinh hóa máu của
phụ nữ TMK
2. Sự biến đổi các chỉ số hình thái, lâm sàng và sinh hóa máu của
phụ nữ MK
3. Sự biến đổi các chỉ số hình thái, lâm sàng và sinh hóa máu giữa
hai nhóm phụ nữ TMK và phụ nữ MK
KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO


Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ phụ nữ MK bị rối loạn lipid máu
Biểu đố 3.3. Tỷ lệ thừa cân (BMI ≥ 23 kg/m 2 )ở phụ nữ TMK và phụ

39
44

nữ MK
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ cao huyết áp của phụ nữ TMK và phụ nữ MK
Biểu đồ 3.5. Tần suất xuất hiện các triệu chứng lâm sàng của phụ nữ

46

TMK và MK
Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ % phụ nữ có dấu hiệu của bệnh đái tháo đường ở
hai nhóm TMK và MK
Biểu đồ 3.7. Tỷ lệ % phụ nữ bị rối loạn lipid máu ở hai nhóm TMK
và MK

46

47
49
50


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Nồng độ LH và FSH ở phụ nữ Việt Nam
Bảng 1.2. Nồng độ lipid máu ở người Việt Nam
Bảng 1.3. Tần số tim, huyết áp ở phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh

34
35
35
36
36
37
37
38
39
40
41
41
42
43
44
45


Bảng 3.17. Tần suất xuất hiện các triệu chứng lâm sàng ở phụ nữ
TMK và MK
Bảng 3.18. Các chỉ số huyết học của phụ nữ TMK và MK
Bảng 3.19. Các chỉ số ure, creatimin, protein, albumin và glucose
của phụ nữ TMK và MK
Bảng 3.20. Các chỉ số lipid máu của phụ nữ TMK và MK
Bảng 3.21. Chỉ số cân nặng của nhóm đối tượng mãn kinh 60-64
tuổi và 65-70 tuổi
Bảng 3.22. Tỷ lệ bệnh đái tháo đường ở phụ nữ TMK và MK của
một số tác giả trong và ngoài nước
Bảng 3.23. So sánh giá trị trung bình lipid máu phụ nữ TMK của
một số nghiên cứu trong nước

MK
HA TT
HA TTr
WHO

Body Mass Index
Số lượng hồng cầu
Hemtocrit
Hemoglobin
Số lượng tiểu cầu
Số lượng bạch cầu
Bạch cầu hạt trung tính
Bạch cầu Lympho
Bạch cầu mono
Tiền mãn kinh
Mãn kinh
Huyết áp tâm thu
Huyết áp tâm trương
World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, đứng trước sự thay đổi của văn hóa, kinh tế cũng
như sự phát triển vượt bậc của khoa học, công nghệ thì sức khỏe của con
người cũng có những bước tiến đặc biệt.
Phụ nữ chiếm xấp xỉ gần 50% dân số thế giới; nữ giới với vấn đề chăm
sóc sức khỏe đang hết sức được quan tâm, trong đó giai đoạn tiền mãn kinh,

nhau trong đời sống của phụ nữ Mãn kinh. Cùng với sự quan tâm của thế giới,
ở nước ta từ năm 1995, Phạm Thị Minh Đức và CS đã công bố kết quả điều
tra về tuổi mãn kinh của phụ nữ ở một số xã thuộc Thành phố Hà Nội. Từ đó
các công trình nghiên cứu về thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh nở rộ hơn và
đặc biệt công trình nghiên cứu quy mô của Phạm Thị Minh Đức và CS vào
năm 2004 [14].Vì là một đề tài đi tiên phong trong lĩnh vực này nên chưa bao
trùm được tất cả các chỉ số, các vấn đề liên quan đến thời kỳ mãn kinh nhưng
đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới cho các đề tài tiếp theo.
Để góp phần cải thiện sức khỏe, đồng thời tìm hiểu sự thay đổi một số
chỉ số sinh lý, sinh hóa, huyết học của tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh ở phụ
nữ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Sự thay đổi một số chỉ tiêu sinh
lý, sinh hóa ở phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định sự thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa và huyết học ở phụ
nữ thời kỳ tiền mãn kinh đến khám định kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Hà
Tĩnh.
- Xác định sự thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa và huyết học ở phụ
nữ thời kỳ mãn kinh đến khám định kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Hà Tĩnh.
- Tìm hiểu sự biến đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa và huyết học giữa hai
nhóm: phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh.


3
3. Nội dung nghiên cứu
3.1. Đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý ở phụ nữ tiền mãn kinh và
mãn kinh đến khám định kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Hà Tĩnh, bao
gồm:
- Các chỉ số hình thái: cân nặng, chiều cao, vòng ngực, vòng bụng.
- Tính toán các chỉ số BMI.
- Huyết áp, tần số mạch đập.

giữa nhóm phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh. Bao gồm:
3.3.1. Các chỉ tiêu hình thái
- Cân nặng, chiều cao, BMI, vòng bụng, vòng ngực.
- Huyết áp TT, huyết áp TTr, tần số mạch đập.
3.3.2. Những thay đối sinh lý (triệu chứng lâm sàng)
- Bốc hỏa (cơn nóng bừng)
- Vã mồ hôi đêm
- Thay đổi tâm lý (mất ngủ, mệt mỏi, cáu gắt)
- Thay đổi (giảm) ham muốn tình dục
- Đau rát khi quan hệ tình dục (khô âm đạo)
- Rối loạn tiểu tiện
3.3.3. Các chỉ tiêu huyết học và sinh hóa máu
3.3.3.1. Công thức máu
- RBC, HCT, HGB, WBC, LYM, MID, GRA, PLT.
3.3.3.2. Các chỉ tiêu sinh hóa máu
- Ure, creatimin, albumin, protein, glucose
- Cholesterol. triglyceryl, HDL – cho, LDL – cho


5
Chương I: TỔNG QUAN
1.1. Đại cương về tiền mãn kinh và mãn kinh
1.1.1 Định nghĩa về thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh
Tổ chức Y tế thế giới đưa ra các định nghĩa sau [74]:
Tiền mãn kinh (premenopause) là quãng thời gian có rối loạn kinh
nguyệt trước khi xảy ra mãn kinh, người phụ nữ có rối loạn hoặc hết kinh
nguyệt, không còn hiện tượng phóng noãn, nồng độ hormon sinh dục giảm
thấp.
Mãn kinh (menopause) là kỳ kinh nguyệt cuối cùng, được xác định hồi
cứu sau 1 năm vô kinh không do bất kỳ một nguyên nhân bệnh lý hoặc tâm lý

lượng estrogen giảm dần đến mức thấp nhất. Với hàm lượng này, estrogen
không đủ để tạo một cơ chế feedback âm gây ức chế bài tiết FSH và LH, đồng
thời cũng không đủ để tạo một cơ chế feedback dương gây bài tiết đủ lượng
FSH và LH cần thiết làm phóng noãn [16].
Một trong những cách giải thích cho hiện tượng suy giảm chức năng ở
giai đoạn này là những nang khỏe mạnh nhất, nhạy cảm nhất với các hormon
FSH, LH đã được sử dụng vào những năm đầu thời kỳ sinh sản. Các nang
noãn còn lại là những nang noãn có sức sống kém hơn, ít nhạy cảm hơn với
FSH, LH do đó chúng chỉ sản xuất một lượng nhỏ estrogen [48].


7
1.1.3. Xác định thời kỳ tiền mãn kinh
Định nghĩa thời kỳ tiền mãn kinh của Tổ chức Y tế thế giới không nêu ra
một đặc điểm cụ thể nào về lâm sàng hoặc cận lâm sàng của thời kỳ này. Cho
đến nay, việc chuẩn đoán thời kỳ tiền mãn kinh vẫn còn là một vấn đề chưa
được giải quyết triệt để. FSH và estradiol ít có giá trị chuẩn đoán thời kỳ tiền
mãn kinh do tính chất dao động mạnh từ chu kỳ này sang chu kỳ khác.
Brambilla và CS dựa vào số liệu từ 1.550 phụ nữ độ tuổi 45 – 55 trong
một nghiên cứu theo chiều dọc trong 5 năm để định nghĩa tiền mãn kinh cho
sử dụng trong các nghiên cứu dịch tễ học. Tăng tính thất thường của chu kỳ
kinh nguyệt trong một năm hoặc mất kinh nguyệt trong 3- 11 tháng ở phụ nữ
độ tuổi 45 – 55 có giá trị dự báo tốt nhất mãn kinh trong 3 năm sau đó với độ
nhạy 72% và độ đặc hiệu 76% [54]. Duley và CS công nhận định nghĩa này
khi tìm thấy 2 tiêu chuẩn này là yếu tố dự báo tốt nhất mãn kinh trong 4 năm
sau đó với độ nhạy 32% và độ đặc hiệu 99% [56]. Trong nghiên cứu này trên
250 phụ nữ độ tuổi 45 – 50 được theo dõi trong 4 năm, 94% phụ nữ mất kinh
từ 3 – 11 tháng và 53- 54% phụ nữ báo cáo có thay đổi về chu kỳ kinh nguyệt
đã chuyển sang thời kỳ sau mãn kinh. Tuổi là một yếu tố quan trọng để đánh
giá khả năng một phụ nữ có đang ở thời kỳ tiền mãn kinh hay không.

các nơron tập trung thành nhiều nhóm nhân. Những nơron đó có khả năng
tổng hợp và bài tiết hormon. Các hormon này đều được vận chuyển đến tuyến
yên qua đường mạch máu hoặc thần kinh nhờ những đường liên hệ về giải
phẫu giữa vùng dưới đồi và tuyến yên [15].
1.2.1.2. Hormon GnRH
GnRH là một peptid được bài tiết theo nhịp 1-3 giờ một lần từ các tận
cùng thần kinh vùng lồi giữa của vùng dưới đồi. GnRH có tác dụng kích thích
thùy trước tuyến yên bài tiết FSH và LH. Điều hòa bài tiết GnRH được thực
hiện theo cơ chế feedback âm tính do hormon sinh dục nữ, hormon FSH,nLH
và do chính hormon GnRH điều khiển [15].


9
1.2.2. Tuyến yên và các hormon kích thích tuyến sinh dục: FSH, LH
1.2.2.1. Tuyến yên
Tuyến yên là một tuyến nhỏ nằm trong hố yên của xương bướm thuộc
nền sọ. Tuyến yên gồm hai phần: thùy trước và thùy sau. Thùy trước cấu tạo
bởi những tế bào chế tiết, trong đó những tế bào tổng hợp và bài tiết hormon
kích thích tuyến sinh dục chiếm 3 – 5%. Thùy sau cấu tạo chủ yếu bởi các tế
bào giống tế bào thần kinh đệm không có khả năng chế tiết hormon [15].
1.2.2.2. Hormon kích thích tuyến sinh dục: FSH và LH
FSH và LH được bài tiết từ thùy trước tuyến yên. Cả FSH và LH đều là
glycoprotein. Trên buồng trứng, FSH kích thích các nang noãn phát triển, LH
phối hợp với FSH làm phát triển nang noãn tới chín và gây hiện tượng phóng
noãn, tạo hoàng thể, kích thích lớp tế bào hạt của nang noãn và hoàng thể bào
tiết estrogen và progesteron [15]. Bình thường nồng độ FSH và LH ở nữ giới
giao động trong chu kỳ kinh nguyệt và được trình bày theo bảng 1.1.
Bảng 1.1. Nồng độ LH và FSH ở phụ nữ Việt Nam [6]
Các giai đoạn
LH (IU/L)

chúng bị thoái hóa để chỉ còn lại khoảng 2.000.000 nang vào lúc mới sinh và
đến tuổi dậy thì còn lại khoảng 300.000 – 400.000 nang. Trong suốt thời kỳ
sinh sản của phụ nữ (khoảng 30 năm) chỉ có khoảng 400 nang này phát triển
tới chín và xuất noãn hàng tháng. Số còn lại bị thoái hóa [16].
1.2.3.2. Hormon estrogen
Estrogen có nguồn gốc chủ yếu từ buồng trứng, do các tế bào hạt lớp áo
trong nang noãn bài tiết vào nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt và nửa sau do hoàng
thể bài tiết. Một lượng ất nhỏ có nguồn gốc vỏ thượng thận. Khi có thai, rau
thai bài tiết một lượng lớn estrogen. Ngoài ra, estrogen còn được cung cấp từ
quá trình thoái hóa ở ngoại vi như tại mô mỡ, đó là sự chuyển đổi androgen
thành estrogen [9], [16].
Có ba loại estrogen tự nhiên chính trong huyết tương là β-estradiol,
estron và estriol, trong đó chủ yếu là β-estradiol. Buồng trứng bài tiết chủ yếu
là β-estradiol và một lượng nhỏ estron. Hầu hết estron được hình thành ở mô
đích từ nguồn androgen do vỏ thượng thận và lớp áo trong của nang noãn bài
tiết. Estriol là sản phẩm oxy hóa của cả β-estradiol và estron, quá trình này
xảy ra tại gan.
Estrogen là hợp chất steroid được tổng hợp ở buồng trứng từ cholesterol
và cũng có thể từ acetyl – coenzym A.
Receptor của estrogen nằm trong bào tương tế bào [15]. Có hai loại
receptor là β và α. Khi estrogen đến tế bào đích, nó sẽ đi qua màng tế bào và
gắn lên receptor. Phức hợp hormon – receptor sẽ tác động lên gen làm hoạt
hóa quá trình sinh tổng hợp protein của tế bào [15]. Tuy nhiên, estrogen cũng
có những tác động rất nhanh gọi là những ảnh hưởng không qua gen, không
phụ thuộc và receptor như tác dụng chống oxy hóa giúp bảo vệ cơ thể chống
lại sự thoái hóa thần kinh và xơ vữa động mạch .


11
Theo nhiều tác giả [12], [16], [46], [57], [59], [61], các tác dụng chính

Ngoài ra, estrogen còn có những ảnh hưởng lên hệ thần kinh trung ương
như học tập, trí nhớ, khả năng nhận thức, kỹ năng vận động, điều hòa thân
nhiệt, xúc cảm, điều hòa bài tiết các hormon hướng sinh dục và cả hormon
GH, prolactin và người ta còn cho rằng estrogen làm chậm sự tiến triển của
bệnh Alzheimer [59].
Nồng độ β – estradiol trong huyết thanh ở nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt là
158,74 – 268,73 pmol/l, ở nửa sau chu kỳ kinh nguyêt là 236,14 – 325,69
pmol/l và vào giữa chu kỳ kinh nguyệt (ngày 15,09±2,93) nồng độ β –
estradiol đạt giá trị cao nhất là 725,18 – 925,28 pmol/l [6].
Estrogen được bài tiết nhiều hay ít tùy thuộc vào nồng độ LH của tuyến
yên. Nồng độ LH tăng sẽ kích thích các tế bào của lớp áo trong nang noãn bài
tiết estrogen. Ngược lại nồng độ LH giảm thì estrogen cùng được bài tiết ít đi
[16].
1.2.3.3. Hormon progesteron
Progesteron được bài tiết chủ yếu từ hoàng thể trong nửa sau của chu kỳ
kinh nguyệt. Nang noãn ở nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt và vỏ tuyến thượng
thận bài tiết rất ít progesteron. Khi có thai, rau thai sản xuất một lượng lớn
progesteron. Giống như ostrogen, progesteron cùng là hợp chất steroid được
tổng hợp từ cholesterol hoặc từ acetyl – coenzym A.
Các tác dụng của progesteron [16], [57], [59] :
- Tác dụng lên tử cung : kích thích các tuyến của niêm mạc tử cung dài
ra, cuộn lại cong queo và bài tiết glycogen vào nửa sau chu kỳ kinh nguyệt,
đồng thời làm giảm giảm co bóp cơ tử cung.
- Tác dụng lên cổ tử cung :làm các tế bào biểu mô của niêm mạc cổ tử
cung bài tiết một lớp dịch nhầy, quánh và dày.
- Tác dụng lên vòi trứng : kích thích niêm mạc vòi trứng bài tiết dịch
chứa chất dinh dưỡng để nuôi dưỡng trứng đã qua thụ tinh thực hiện quá trình
phân chia trong khi di chuyển vào buồng tử cung.





14
Mỹ lại thấy tình trạng mãn kinh ảnh hưởng rất ít tới BMI, mà chủ yếu là do
ảnh hưởng của tuổi tác [67].
Ngoài ra sự giảm nồng độ estrogen gây ra sự phân bố lại lớp mỡ dưới
da, chủ yếu tích mỡ ở trung tâm, đặc biệt là lớp mỡ bụng. Theo nghiên cứu
của Trịnh Văn Minh thì lớp mỡ dưới da (trừ lớp mỡ dưới da bụng) ở phụ nữ
mãn kinh sẽ giảm dần bắt đầu từ khoảng 50 tuổi và càng về sau thì càng giảm
nhanh. Một số nghiên cứu còn chỉ ra sự giảm bề dày lớp mỡ dưới da là một
dấu hiệu đáng tin cậy để chuẩn đoán mãn kinh như nghiên cứu của Douchi và
cộng sự trên phụ nữ mãn kinh Nhật Bản [55]. Tuy nhiên ở phụ nữ mãn kinh
thì tổng lượng mỡ của cơ thể và bề dày lớp mỡ dưới da bụng lại tăng lên.
Nghiên cứu của Toth và cộng sự tại Mỹ khi dùng phương pháp X quang đã
chỉ ra tổng lượng mỡ ở phụ nữ mãn kinh cao hơn 28%, lượng mỡ thân tăng
36 %, mỡ bụng tăng 49%, mỡ dưới da bụng tăng 22% so với phụ nữ tiền mãn
kinh [72]. Như vậy, tình trạng mãn kinh liên quan tới tình trạng tăng lớp mỡ
dưới da bụng và làm giảm lượng mỡ của các vùng khác của cơ thể.
1.4. Những thay đổi sinh lý (triệu chứng lâm sàng) thời kỳ tiền mãn
kinh và mãn kinh
1.4.1. Các rối loạn về vận mạch
Cơn bốc hỏa, ra mồ hôi đêm là triệu chứng liên quan tới rối loạn điều
nhiệt của cơ thể, đặc trưng cho thời kỳ mãn kinh. Ra mồ hôi đêm thườg đi
cùng với mất ngủ và là nguyên nhân gây gián đoạn giấc ngủ về đêm.
Cơn bốc hỏa xuất hiện đột ngột, biểu hiện của nó là người phụ nữ có
cảm giác bừng ấm hay nóng, thường bắt đầu từ ngực và lan lên cổ, đầu và
mặt. Cảm giác có thể kéo dài một vài giây và tới một vài phút và thường kèm
theo một cơn đỏ mặt tăng dần từ phần trên ngực lên cổ và mặt. Sau đó bệnh
nhân thường vã mồ hôi và rùng mình. Các cơn bốc hỏa có thể nhiều ít mạnh
yếu, nhưng đặc biệt hay xuất hiện về ban đêm. Thần kinh căng thẳng là một

thành phố Hồ Chí Minh, Tô Minh Hương, và ở phụ nữ thành phố Hà Nội, thì
tỷ lệ giao hợp đau tương ứng là 50% và 71,6% [26], [51].
Són tiểu khi tăng áp lực ổ bụng do sự giảm khả năng hoạt động của các
cơ thắt đường tiết niệu được biểu hiện dưới dạng vài giọt nước tiểu rơi ra khi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status