BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
............... ∗∗∗ ..................
VƯƠNG THỊ LÊ NA
SỰ THAY ĐỔI MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ, SINH
HÓA Ở BỆNH NHÂN SUY TIM DO TĂNG HUYẾT ÁP
VÀ BỆNH VAN TIM TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ
ĐA KHOA NGHỆ AN
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số:
60.42.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BSCK II.
NGUYỄN VĂN HƯƠNG
2
Nghệ An – 2013
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn nay, tôi đã nhận được sự giúp đỡ về mọi mặt
của, các thầy cô giáo, các nhà khoa học cũng như gia đình và bạn bè.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến TS.BS CKII. Nguyễn Văn Hương, người
thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và động viên trong quá trình nghiên cứu để
1.2.1. Chỉ số sinh lý
9
1.2.2. Các chỉ số sinh hóa, huyết học
1
1.3. Suy tim và hệ quả của nó
1.3.1. Định nghĩa suy tim
1.3.2. Sinh lý bệnh
1.3.3. Phân loại
0
14
14
14
1
1.3.4. Nguyên nhân chung gây suy tim
8
2
1.4. Vài nét về dịch tễ học suy tim
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm triển khai và thời gian nghiên cứu
2.2. Đối tượng nghiên cứu
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
0
22
24
49
vào điều trị
3.2.3. Sự biến thiên các chỉ số sinh hóa, huyết học ở hai nhóm bệnh 57
nhân suy tim trước và sau điều trị
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
61
62
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
NYHA
THA
RBC
HCT
HGB
PLT
WBC
LYM
HA TT
HA TTr
SGOP
SGPT
HDL-c
LDL-c
New York Heart Association
Tăng huyết áp
Số lượng hồng cầu
Bảng 3.9. Các chỉ số huyết học ở các mức độ suy tim do THA và
bệnh van tim
Bảng 3.10. So sánh các chỉ số huyết học ở hai nhóm suy tim do
THA và bệnh van tim
Bảng 3.11. Các chỉ số sinh hóa máu ở các mức độ suy tim do THA
và bệnh van tim
Bảng 3.12. So sánh Các chỉ số sinh hóa máu ở hai nhóm suy tim
do THA và bệnh van tim
Bảng 3.13. Các chỉ số điện giải ở các mức độ suy tim do THA và
bệnh van tim.
Bảng 3.14. So sánh các chỉ số điện giải ở hai nhóm suy tim do
THA và bệnh van tim.
Bảng 3.15. Các chỉ số huyết học ở hai nhóm suy tim do THA
trước và sau điều trị.
19
19
20
30
31
31
32
32
33
34
35
36
37
38
40
30
31
33
26
27
10
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
11
Suy tim là hội chứng bệnh lý thường gặp trong nhiều bệnh về tim mạch
như các bệnh van tim, bệnh cơ tim, bệnh mạch vành, bệnh tim bẩm sinh và
một số bệnh khác có ảnh hưởng nhiều đến tim. Suy tim là vấn đề nghiêm
trọng của thế giới vì số người mắc suy tim ngày càng tăng. Theo thống kê tại
Hoa kỳ, tỷ lệ suy tim chiếm 1,72% dân số, tức là 5 triệu người mắc suy tim và
số bệnh nhân mới mắc hàng năm khoảng 550.000 người, có xấp xỉ 30.000
trường hợp tử vong do suy tim mỗi năm. Bên cạnh đó khoảng 20 triệu người
có rối loạn chức năng thất trái không có triệu chứng sẽ trở thành suy tim trong
vòng 1-5 năm. Tại Châu Âu, với khoảng trên 500 triệu dân và tỷ lệ suy tim
khoảng 0,4-2% sẽ ước tính có khoảng 2-10 triệu người suy tim [35], [43].
Suy tim làm giảm hoặc mất hẳn sức lao động của bệnh nhân, ảnh
hưởng đến tâm sinh lý và sinh hoạt của người bệnh do cơ tim hoạt động
không hiệu quả, chức năng của tim không hoàn thành, không đưa máu đủ
nuôi cơ thể. Bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối phải thường xuyên nhập viện,
nghị đa khoa Nghệ An.
- Tìm hiểu sự liên quan một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa, huyết học giữa suy
tim độ III, độ IV do tăng huyết áp và bệnh van tim.
3. Nội dung nghiên cứu
3.1. Đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa, huyết học ở bệnh nhân suy tim
độ III, IV do tăng huyết áp và bệnh van tim tại khoa Tim mạch bệnh viện Hữu
nghị đa khoa Nghệ An
3.1.1. Một số chỉ tiêu sinh lý, triệu chứng lâm sàng ở suy tim độ III, IV bao
gồm:
* Các triệu chứng lâm sàng
+ Đau tức ngực
+ Khó thở
+ Mệt mỏi
13
+ Chán ăn
+ Buồn nôn
+ Phù
+ Tím tái
+ Gan to
* Các chỉ tiêu sinh lý
+ Huyết áp
+ Tần số mạch đập, nhịp thở.
3.1.2. Một số các chỉ tiêu sinh hóa, huyết học ở suy tim độ III, IV
* Các chỉ tiêu sinh hóa máu:
Ure máu (mmol/l)
Glucose (µmol/l)
Creatinine (µmol/l)
van tim.
15
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. Đại cương giải phẫu tim – cơ chế hoạt động
1.1.1. Sơ lược giải phẫu tim
Tim nằm trong lồng ngực, được chia làm 4 ngăn và được phủ ngoài bởi
bao tim là một thứ mô liên kết. Nhìn bề ngoài tim tựa hình nón có đáy hướng
lên trên, hơi chếch sang phải và ra sau, nằm ở giữa hai lá phổi trong trung thất
trước, trên cơ hoành, sau xương ức. Tim được cố định trong lồng ngực nhờ
các dây chằng nối tim vào cột sống, xương ức và cơ hoành. Trọng lượng tim
của người Việt Nam trưởng thành ở nam là 267g, nữ 240g. Trọng lượng này
phụ thuộc vào sự phát triển cơ thể và lứa tuổi. Chức năng của tim như một
chiếc bơm vừa hút vừa đẩy.
Tim có hai mặt trước và sau và hai bờ phải trái. Có một rãnh vành tim
phân tách phần tâm nhĩ và tâm thất ở cả hai mặt trước và sau. Giữa hai tâm
thất có rãnh liên thất trước và sau. Tại các rãnh này có động mạch và tĩnh
mạch vành. Giữa hai tâm nhĩ có rãnh liên nhĩ. Tâm nhĩ phải có phần mọc dài
ra gọi là chồi nhĩ. Ở tâm nhĩ trái có lỗ đổ vào của 4 tĩnh mạch phổi từ hai bên
phổi. Tâm thất phải có lỗ thông với động mạch phổi và tâm thất trái có lỗ
thông với động mạch chủ.
- Các vách ngăn của tim:
Tim có ba vách ngăn: nhĩ – thất, liên – nhĩ và liên thất, chia thành 4
buồng là hai tâm nhĩ (phải, trái) ở trên và hai tâm thất (phải, trái) ở dưới. Tâm
nhĩ và tâm thất cùng bên tạo thành nửa tim. Nửa phải nhỏ hơn (chiếm 1/3 tim)
chứa máu tĩnh mạch, nửa trái lớn hơn (chiếm 2/3 tim) chứa máu động mạch.
17
+ Lớp nội tâm mạc rất mỏng, phủ và dính chặt lên mặt trong các ngăn tim và
liên tiếp với nội mạc của các mạch máu ra hoặc vào tim. Các van tim là
những nếp được sinh ra từ lớp này [27], [38].
1.1.2. Tóm tắt cơ chế hoạt động của tim
Tim làm việc suốt cả ngày đêm và suốt cả một đời người, theo một
nhịp điệu nhất định được gọi là một chu kì của tim. Khi tim co được gọi là
tâm thu, và khi tim giãn được gọi là tâm trương. Ta cũng có thể coi trong một
chu kì tim có ba giai đoạn chính là: giai đoạn tâm nhĩ thu, giai đoạn tâm thất
thu và giai đoạn tâm trương toàn bộ.
1.1.2.1. Giai đoạn tâm nhĩ thu.
Giai đoạn này tương ứng với thời gian là 0.1 giây, khi tâm nhĩ co bóp
thì áp suất trong tâm nhĩ sẽ tăng lên. Lúc này van nhĩ thất vẫn còn đang mở,
tâm nhĩ co bóp đã đẩy nốt lượng máu còn lại ở tâm nhĩ xuống tâm thất
(khoảng ¼ lượng máu từ tâm nhĩ xuống tâm thất) và làm cho áp suất của tâm
thất cũng tăng lên. Sau đó thì tâm nhĩ giãn ra trong suốt thời gian còn lại của
chu kì tim. Áp suất ở tâm nhĩ đã giảm xuống đến mức có trị số là âm (thấp
hơn áp suất của khí quyển). Tâm nhĩ thu là kết quả của sự lan truyền sóng
điện thế dẫn nhịp từ hạch xoang ra toàn bộ hai tâm nhĩ phải, trái.
1.1.2.2. Giai đoạn tâm thất thu.
Khi tâm nhĩ giãn ra, tâm thất bắt đầu co bóp, thời gian tâm thất thu là
0.3 giây. Tâm thất thu là kết quả của sóng điện thế đã được lan truyền khắp cả
hai tâm thất phải và trái. Tâm thất thu gồm hai giai đoạn chính là:
+ Giai đoạn tăng áp suất: kéo dài khoảng 0.05 giây, tâm thất co bóp, áp suất ở
tâm thất đã tăng lên và cao hơn áp suất của tâm nhĩ. Do vậy, đã làm đóng các
van hai lá và van ba lá. Nhưng áp suất của tâm thất vẫn chưa cao hơn áp suất
của động mạch chủ, nên van bán nguyệt vẫn chưa mở vì vậy máu chưa được
đẩy vào động mạch chủ được. Tâm thất co bóp nhưng thể tích thì vẫn không
Sự hạn chế: tim tăng nhịp quá mức (> 2 lần số nhịp lúc bình thường) và
kéo dài sẽ dẫn đến suy tim.
+ Khi tăng nhịp thì giai đoạn tâm trương ngắn lại mà đây lại là thời gian mạch
vành cấp máu nuôi tim. Do vậy, càng tăng nhịp càng thiếu nuôi dưỡng, nợ
19
oxy càng tăng, lượng acid lactic do chuyển hóa yếm khí sinh ra càng nhiều ở
cơ tim.
+ Thời gian tâm trương ngắn, tim một mặt chưa được nghỉ ngơi đầy đủ, mặt
khác máu hút về thất chưa đủ khiến cung lượng tim giảm, cuối cùng lưu
lượng tim giảm dù có tăng nhịp.
+ Trong lao động hay luyện tập, khi cơ thể chưa quen với nhịp tim nhanh sẽ
xuất hiện cảm giác khó thở, đau ngực, khiến phải tạm ngừng công việc.
1.1.3.2. Dãn tim.
Là sự giãn ra của sợi cơ tim, làm tăng sức chứa của buồng tim đồng
thời giúp tim bơm máu ra với lực mạnh hơn, sợi cơ tim càng dài thì sức co
bóp càng mạnh, do đó lưu lượng tuần hoàn tăng. Đây là biện pháp thích nghi
tốt hơn so với tăng nhịp tim. Khi đã có dãn tim, máu chứa trong thất có thể
tăng gấp 2 hay 3 lần so với bình thường. Kết hợp dãn tim và tăng nhịp hữu
hiệu thì lưu lượng tăng từ 4-6 lần.
Hạn chế: Để vách tim giãn ra đòi hỏi phải có thời gian của giai đoạn
tâm trương. Như vậy tới một mức nào đó sẽ mâu thuẫn với tăng nhịp. Mỗi sợi
cơ tim không thể dãn quá một giới hạn cho phép, vì như vậy sợi cơ tim sẽ
biến dạng, giảm hoặc mất trương lực làm cho cơ tim nhẽo, co bóp giảm và
dẫn đến suy tim.
1.1.3.3. Phì đại tim.
Là tình trạng mỗi sợi cơ tim to ra (tăng đường kính) khiến vách tim dày
lên, nghĩa là tăng khối lượng hơn trước. Đây là biện pháp thích nghi cuối
Nhiệt độ cơ thể của người trưởng thành bình thường dao động trong
khoảng 36-370C. Nhiệt độ có thể chênh lệch một chút theo giới (nam hơi thấp
hơn nữ), theo độ tuổi (trẻ em hơi cao hơn người lớn). Một số các yếu tố có thể
ảnh hưởng đến thân nhiệt như: bệnh lý, hoạt động cơ bắp, chu kì kinh nguyệt
(ở phụ nữ), nhịp sinh học..
d. Nhịp tim (tần số tim).
Chức năng của tim là đưa máu có chứa oxy và chất dinh dưỡng đến tất
cả các tế bào của cơ thể. Trong một phút, trái tim của người trưởng thành
khỏe mạnh đập khoảng 70-75 lần, mỗi lần đẩy ra 150ml. Loạn nhịp tim có thể
21
là tim co bóp quá nhanh, quá chậm hoặc không đều nhau. Đối với những bệnh
nhân mắc bệnh tim có thể lên đến 150 lần/phút, thậm chí hơn 200 lần/phút.
1.2.2. Các chỉ số sinh hóa và huyết học
a. Chỉ số sinh hóa.
+ Urê: Là chất thải chính của sự tiêu hóa chất đạm, số lượng trung bình của
ure trong máu là từ 8-25mg/100cc, trên mức này là có hại cho cơ thể.
+ Creatinine: Là một chất hóa học được thoái hóa từ chuyển hóa của cơ.
Creatinine được sản xuất từ creatine - một phân tử rất quan trọng trong việc
tạo năng lượng của cơ. Gần 2% creatine trong cơ thể được biến đổi thành
creatinine mỗi ngày. Creatinine được vận chuyển trong máu đến thận. Thận sẽ
lọc creatinine và thải nó ra theo đường nước tiểu. Chỉ số bình thường ở nam:
62-120µmol/l, ở nữ: 53-100µmol/l.
+ Glucose: Là nguồn cung cấp năng lượng chính cho tế bào của cơ thể. Giá trị
bình thường đạt từ 3,9-6,4 µmol/l. Nhiều tế bào hoàn toàn phụ thuộc vào
glucose máu như là nguồn năng lượng chính. Mặt khác, não đòi hỏi nồng độ
glucose trong máu ổn định để duy trì chức năng bình thường của não. Nồng
độ glucose trong máu thấp hơn 30mg/dl hoặc trên 300mg/dl có thể gây ra hôn
về các bệnh tim mạch và đột quỵ. Giá trị tryglycerit bình thường 0,461,88mmol/l
+ Bình thường, nồng độ AST(GOT) ≤ 37U/L và nồng độ ALT(GPT)≤ 40U/L.
Nhưng nồng độ men gan này sẽ tăng cao trong trường hợp gan bị tổn thương.
Nồng độ men gan tăng thường tỉ lệ thuận với mức độ viêm nhiễm của gan.
Tuy nhiên, đó chỉ là những gợi ý ban đầu vì vẫn có những trường hợp viêm
gan rất nặng nhưng nồng độ men gan lại tăng rất ít. Trong một số trường hợp,
việc gia tăng nồng độ men gan lại không liên quan gì đến gan [4].
b. Chỉ số huyết học
Máu là môi trường trong cơ thể đảm bảo cho việc duy trì sự sống ở
mức độ tế bào và mô. Máu đem dưỡng khí và chất dinh dưỡng đến tất cả mọi
nơi trong cơ thể, đảm bảo cân bằng nước, chất khoáng, lượng kiềm toan, tham
gia điều hòa thân nhiệt và bảo vệ cơ thể, máu chuyên chở các chất cặn bã đến
thận, phổi, da để ra ngoài. Thành phần hóa học của máu phản ánh tình trạng
23
sinh lý của cơ thể. Do vậy, các xét nghiệm huyết học đóng vai trò hết sức
quan trọng trên lâm sàng, giúp cho việc chẩn đoán và tiên lượng bệnh [13],
[14].
Máu được cấu tạo bởi hai thành phần chính là: thành phần hữu hình
(hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương. Thành phần hữu hình chiếm
40% thể tích máu, huyết tương chiếm 60% thể tích. Trong các tế bào máu thì
hồng cầu chiếm số lượng chủ yếu, bạch cầu và tiểu cầu chiếm tỉ lệ thấp [1],
[15].
Công thức máu là xét nghiệm quan trọng, cung cấp cho người thầy
thuốc những thông tin hữu ích về tình trạng bệnh nhân hoặc người đi xét
nghiệm. Nó có tính chất gợi ý, định hướng nguyên nhân gây bệnh. Các trị số
của công thức máu thay đổi theo trạng thái sinh lý, hoặc theo mức độ hoạt
động thể chất của cơ thể. Một xét nghiệm công thức máu thông thường ở Việt
chia, chức năng chính của tiểu cầu là giải phóng chất thromboplastin để gây
đông máu. Tiểu cầu còn có đặc tính ngưng lại thành cục khi gặp vật thô ráp và
vật lạ, nhờ đó góp phần đóng các vết thương, tiểu cầu giải phóng serotonin
gây co mạch để cầm máu [19], [27], [34].
1.3. Suy tim và hệ quả của nó
1.3.1. Định nghĩa suy tim
Bình thường tâm thất phải bơm máu lên hệ thống tiểu tuần hoàn còn
tâm thất trái bơm máu ra hệ thống đại tuần hoàn một lượng máu đảm bảo đầy
đủ nhu cầu về chuyển hóa và hoạt động cho cơ thể ở điều kiện gắng sức hoặc
nghỉ ngơi. Khi tim không đảm bảo được khả năng trên được gọi là suy tim.
Khi có suy tim, cung lượng tim bao giờ cũng giảm, dẫn đến tâm thất không đủ
khả năng tiếp nhận máu (suy tim tâm trương) hoặc tống máu (suy tim tâm
thu). Ngay cả một số thể suy tim đặc biệt có cung lượng tim cao (bệnh
Basedow, thiếu máu nặng…) thì cung lượng tim vẫn bị giảm nếu so với lúc
chưa bị suy tim và so với nhu cầu của cơ thể.
Vì vậy người ta có thể định nghĩa:
25
Suy tim là trạng thái bệnh lý trong đó cung lượng tim không đủ để đáp
ứng với nhu cầu của cơ thể về mặt oxy trong mọi tình huống sinh hoạt của
bệnh nhân [5], [28], [36].
1.3.2. Sinh lý bệnh
Có hai loại suy tim: suy tim tâm thu và suy tim tâm trương. Trong suy
tim tâm thu, khả năng co bóp của tim bị suy giảm do đó làm giảm cung lượng
tim. Còn trong suy tim tâm trương, thể tích máu đổ đầy tâm thất tại thời kì
tâm trương bị suy giảm dẫn tới không đủ cung cấp máu cho thời kì tâm thu và
hậu quả cũng làm giảm cung lượng tim. Có nhiều dấu hiệu và triệu chứng gợi
ý suy tim trên lâm sàng. Phần lớn bệnh nhân có ứ máu phổi thể hiện bằng các