BÀI tập GIỮA kỳ môn học lý LUẬN QUẢN lý và QUẢN lý GIÁO dục - Pdf 30

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÀI TẬP GIỮA KỲ MÔN HỌC LÝ LUẬN QUẢN
LÝ VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
(PHẦN QUẢN LÝ GIÁO DỤC)
Giảng viên phụ trách
Học viên:

Hà Nội – 2012
Nhận xét của giảng viên chấm bài:

Điểm: Giảng viên (kí tên):
BÀI TẬP GIỮA KỲ MÔN HỌC
2
LÝ LUẬN QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
(PHẦN QUẢN LÝ GIÁO DỤC)
Đề bài
1. Thế nào là khái niệm và phạm trù trong khoa học quản lý giáo dục?
2. Trình bày ví dụ về 5 khái niệm trong khoa học quản lý giáo dục và xác
định khả năng (tần suất) thực hiện các khái niệm đó.
Bài làm

mật thiết với nhiều ngành khoa học sinh ra trước và sau nó, khoa học quản lý
giáo dục tất yếu sẽ sử dụng bộ máy khái niệm, phạm trù đã được sinh thành và
sử dụng trong những ngành khoa học hữu quan cũng như có ngoại diên rộng
hơn, biểu hiện cái chung nhiều hơn khi có những biến thái thích hợp vào lĩnh
vực phản ánh chuyên biệt hơn, đặc thù hơn của mình. Vì vậy, các khái niệm,
phạm trù của khoa học quản lý giáo dục có đặc điểm liên ngành khoa học rất rõ
nét. Nếu một khoa học nào đó sử dụng khái niệm, phạm trù của các khoa học
khác, thì những khái niệm, phạm trù đó đã được "đồng hoá", đã trở thành "cái
của mình", với nội dung phản ánh đối tượng của chuyên ngành khoa học này
chứ không chỉ là sự sao chép hay vay mượn giản đơn. Có thể khẳng định rằng,
khoa học quản lý giáo dục, trong quá trình phát triển, đã hình thành nên các khái
niệm, phạm trù của riêng mình với tính chất liên ngành khoa học vốn là thuộc
tính của khoa học quản lý nói chung và khoa học quản lý giáo dục nói riêng.
Khi biện minh về đặc điểm liên ngành của khoa học quản lý giáo dục, đã
khẳng định rằng, các khái niệm, phạm trù của khoa học này - với tính liên ngành
của chính đối tượng được phản ánh - phản ánh những hiện tượng, những hoạt
động, sự vật thuộc về thực tiễn quản lý giáo dục. Chính đặc điểm này cho phép
chúng ta phân biệt các khái niệm, phạm trù khoa học quản lý giáo dục với các
khái niệm và phạm trù của các khoa học khác. Do đặc điểm liên ngành, việc xác
định, phân biệt, khu trú lớp đối tượng được một khái niệm phản ánh trong khoa
học quản lý giáo dục là một trong những nhiệm vụ của công trình nghiên cứu
này. Có những đối tượng được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu,
4
được nhiều ngành khoa học khác nhau sử dụng bộ máy khái niệm của mình để
phản ánh.
Các khái niệm - phạm trù của chuyên ngành khoa học quản lý giáo dục có
tính phổ quát, có tần xuất sử dụng cao. Đặc điểm này rất dễ nhận diện bởi nó
đã là một nguyên cớ dẫn đến sự "thường nhật hoá" các thuật ngữ khoa học.
Khi xây dựng các khái niệm của khoa học quản lý giáo dục, các tác giả
của công trình nghiên cứu này cố gắng dựa trên quy luật lô gíc học về mối quan

học (hoặc nhóm khoa học) nghiên cứu. Có thể kể đó là:
- Khoa học Mác-Lênin với ba bộ phận hợp thành: triết học duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, chính trị - kinh tế học và chủ nghĩa xã hội khoa học.
- Khoa học quản lý được coi là cơ sở quan trọng trong hỗ trợ đặc lực
cho Khoa học quản lý giáo dục phát triển.
- Khoa học Tổ chức bàn về các điều kiện, các quy luật phát triển tổ
chức, các nhân tố tổ chức trong quản lý, sự tương tác giữa quản lý và tổ
chức…
- Điều khiển học gồm lý thuyết hệ thống, lý thuyết điều khiển, lý thuyết
thông tin, vận trù học;…
- Khoa học giáo dục, trong đó có giáo dục học đại cương, Giáo dục học
chuyên biệt (cho người lớn, trẻ em, người khuyết tật, ), Lý luận dạy học,
Xã hội học giáo dục, Kinh nghiệm học giáo dục
- Khoa học Tâm lý, trong đó có Tâm lý học quản lý, Tâm lý học sư
phạm, Tâm lý học giao tiếp, ứng xử
- Một số thành tựu khoa học mang tính công cụ hỗ trợ cho việc nghiên
cứu khoa học quản lý giáo dục, chẳng hạn Thống kê toán học…
Ngày nay do sự phát triển của xã hội, của khoa học và công nghệ, nhiều
yếu tố của khoa học này thâm nhập vào khoa học khác và ngược lại. Khoa
học Quản lý giáo dục cũng mang đặc điểm này. Điều đó đặt ra yêu cầu đối
với các nhà nghiên cứu cũng như hoạt động thực tiễn là phải vừa hiểu sâu vấn
đề đang quan tâm, lại phải có tầm nhìn đủ rộng để có cách xem xét và giải
quyết mang tính tổng quát, toàn cục, tránh sự phiến diện, hẹp hòi.
6
Thứ năm: Khoa học Quản lý giáo dục là khoa học có tính ứng dụng
cao, bởi quản lý giáo dục là lĩnh vực hoạt động thực tiễn của con người, thuộc
phạm trù phương pháp. Do đó, việc nghiên cứu Khoa học Quản lý giáo dục
đương nhiên phải bắt nguồn từ thực tiễn và thành tựu nghiên cứu của nó
không thể là lý thuyết trừu tượng, ít hoặc không bổ ích đối với các nhà quản
lý cũng như đối với yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục. Mục đích cuối

hơn (Tần xuất) và là chủ đề lớn .
Để làm sáng tỏ về Quản lý nhà trường sau đây em xin được nêu rõ 5
khái niệm trong khoa học quản lý giáo dục:
1. Khái niệm Nhà trường: (Theo Từ điển giáo dục học, NXB Từ điển
bách khoa, 2001, trang 301). Nhà trường, tổ chức giáo dục được coi là một
đơn vị có tư cách pháp nhân, đặt dưới quyền một hiệu trưởng, nhằm đảo bảo
việc giáo dục học sinh, sinh viên (nói chung là người học) và hoạt động của
học sinh, sinh viên, giáo viên và những thành viên khác.
Luật Giáo dục Việt Nam quy định: Nhà trường trong hệ thống giáo dục
quốc dân được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước, nhằm phát
triển sự nghiệp giáo dục và tổ chức theo các loại hình trường công lập, trường
tư thục. Nhà trường thuộc các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục
đều chịu sự quản lý của Nhà nước, của các cơ quan quản lý giáo dục theo sự
phân công của Chính phủ.
Khái niệm “Nhà trường” là một khái niệm mà nội hàm của nó ngày càng
mở rộng. Quan niệm về nhà trường luôn vận động và phát triển theo xu thế
của giáo dục.
Nhà trường là cấu trúc cơ sở của một hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà
trường là một thiết chế xã hội (có quy chế, quy tắc, luật lệ), là tổ chức (có bộ
máy nhân sự) có một cơ sở vật chất xác định. Khái niệm “Nhà trường” cần
được xem xét trong một quá trình truyền đạt kinh nghiệm lịch sử xã hội của
thế hệ đi trước cho thế hệ đi sau nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống
lao động, xã hội, tức là đào tạo lao động mới cho xã hội. Nhà trường chỉ thực
8
hiện chức năng một bộ phận của giáo dục (giáo dục nhà trường). Do đó,
nghiên cứu một thực tiễn của nhà trường thì cần phải nghiên cứu hệ thống
giáo dục và ngược lại muốn nghiên cứu hệ thống giáo dục thì cần phải nghiên
cứu nhà trường.
Thời đại ngày nay đã thừa nhận vai trò chủ đạo của giáo dục nhà trường
trong việc đào tạo sức lao động mới cho xã hội. Mục đích của nhà trường là

dục kết hợp với lao động sản xuất; nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội;
nội dung giáo dục đảm bảo tính khoa học, đại chúng, dân tộc; thực hiện bình
đẳng giáo dục; không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội,
đảm bảo sự dân chủ trong quá trình giáo dục và mọi hoạt động của nhà
trường; nhà trường là nơi tuyên truyền, giáo dục sâu rộng chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
2. Khái niệm Quản lý nhà trường
Nhà trường là thiết chế cơ bản của nền giáo dục có bản chất xã hội,
nhưng không phải bản chất này “tự nhiên” đến với nhà trường, mà trong quá
trình giáo dục, nhà trường phải chủ động tích cực kết hợp với gia đình và xã
hội (môi trường giáo dục của nhà trường) để giáo dục HS.
Nhà trường là đối tượng quản lý cơ bản của tất cả các cấp quản lý giáo
dục có nhiệm vụ vận dụng những nguyên lý, những phương pháp của kế
hoạch quản lý giáo dục để đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường, đảm bảo
sự phát triển toàn diện, hài hoà của thế hệ trẻ nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục
đặt ra trong từng thời kỳ phát triển của đất nước.
Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong
phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo
dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục,
với thế hệ trẻ và với từng HS .
Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp
và tổ chức các hoạt động của GV, HS, và các lực lượng giáo dục khác, cũng
10
như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục
và đào tạo nhà trường.
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang
có, tiến đến trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát
triển mạnh mẽ các nguồn nhân lực giáo dục và hướng các nguồn nhân lực đó
vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục. Mục đích cuối cùng
của quản lý giáo dục là tổ chức quá trình đào tạo giáo dục có hiệu quả để đào

trong thuyết hành vi trong quản lý khẳng định: "Quản lý là một quá trình
động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại".
Theo Đại từ điển tiếng Việt: quản lý là "tổ chức, điều khiển hoạt động
của một đơn vị, một cơ quan", là "trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì" [51,
tr.1363]. Nghĩa Hán Việt của "Quản" là trông coi và giữ gìn theo những yêu
cầu nhất định, duy trì sự vật ở trạng thái ổn định; quá trình "Lý" bao gồm sửa
sang, sắp đặt công việc, đổi mới, đưa hệ thông đo vào phát triển. Trong
"quản" phải có "lý" thì toàn hệ mới có thể phát triển, trong "lý" phải có
"quản" thì sự phát triển của hệ mới ổn định, bền vững. Hai quá trình này phải
được gắn bó chặt chẽ với nhau thì toàn hệ mới đạt được thế cân bằng động,
tồn tại và phát triển phù hợp trong mối tương tác với các yếu tố bên trong và
bên ngoài.
Theo cố GS. Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là sự tác động có mục
đích tới tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất
định và mục đích đã định trước".
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: hoạt
động quản lý là "tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức
- nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức".
Từ những quan niệm trên, ta thấy bản chất chung của khái niệm quản
lý là một quá trình tác động có ý thức, có định hướng và có tổ chức của
12
chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
một cách hiệu quả nhất trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý
tồn tại trong mọi quá trình hoạt động xã hội và là điều kiện quan trọng để tổ
chức vận hành và phát triển.
4. Khái niệm quản lý giáo dục
Có thể khẳng định, giáo dục và quản lý giáo dục là tồn tại song hành,
Giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội
của loài người, của thế hệ đi trước cho thế hệ sau và để thế hệ sau có trách

Theo nghĩa rộng: Người quản lý bao gồm tất cả những người tham gia
vào hệ thống quản lý và hình thành chức năng nhất định.
Theo nghĩa hẹp: Người quản lý là những người có thẩm quyền ra quyết
định dù được phân quyền hay ủy quyền.
Người quản lý là những người làm việc trong bộ máy, là người thực
hiện các chức năng quản lý nhằm đạt được những mục tiên của tổ chức với
kết quả và hiệu quả cao.
Nói chung: người quản lý là người làm việc trong tổ chức, điều khiển
công việc của người khác và chịu trách nhiệm trước cấp trên về kết quả hoạt
động của họ, là người chịu trách nhiệm trong việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ
đạo và kiểm tra con người, tài chính, vật chất và thông tin của bộ phận hay
tổ chức để đưa tổ chức đạt được mục tiêu đã đề ra.
Người quản lý là người:
- Biết điều họ muốn xảy ra và làm cho nó xảy ra.
- Chịu trách nhiệm kiểm soát các nguồn tài nguyên và đảm bảo chúng được
dùng một cách tối ưu.
- Khuyến khích tính hiệu quả trong công việc và tìm kiếm sự tiến bộ không
ngừng.
- Chịu trách nhiệm về kết quả làm việc của bộ phận họ quản lý mà trong đó
họ là một thành phần.
14
- Tạo ra bầu không khí hoặc tiếng nói chung cho phép mọi người có thể
phát huy tốt nhất khả năng của họ.
Phân loại người cán bộ quản lý:
- Người quản lý cấp thấp: hướng dẫn, đốc thức, điều khiển nhân viên
trong công việc hàng ngày.
- Người quản lý cấp trung gian: Đưa ra các quyết định chiến thuật để
thực hiện kế hoạch và chính sách của tổ chức.
- Người quản lý cấp cao: Xây dựng chiến lược, kế hoạch hành động và
phát triển tổ chức.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status