Nghiên cứu đặc điểm sinh học của ba ba trơn (pelodiscus sinensis) tại trung tâm nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ nuôi trồng thủy sản vùng đông bắc trường đh nông lâm thái nguyên - Pdf 30



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HÀ VĂN VINH
Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA BA BA TRƠN
(PELODISCUS SINENSIS) TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ
CHUYỂN GIAO KHOA HỌC CÔNG NGHỆ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
VÙNG ĐÔNG BẮC, TRƢỜNG ĐH NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Hệ chính quy
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khoá học: 2011 - 2015


Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khoá học: 2011 – 2015
Giảng viên hƣớng dẫn : TS. Nguyễn Văn Sửu Thái Nguyên, năm 2015

i
LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là một trong những giai đoạn quan trọng trong quá
trình đào tạo sinh viên của Nhà trường. Đây là khoảng thời gian sinh viên được
tiếp cận thực tế, đồng thời giúp sinh viên củng cố kiến thức đã được học trong
Nhà trường.
Để có bài khóa luận này, bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân
thành cảm ơn thầy giáo TS. Nguyễn Văn Sửu Giảng viên trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực
hiện khóa luận tốt nghiệp này. Em xin chân thành cảm ơn các thầy các cô giáo
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt các thầy cô giáo khoa Chăn
nuôi Thú y là những người đã dạy bảo và hướng dẫn em tận tình trong suốt 4
năm học tập và rèn luyện tại trường. Em xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ,
chuyên viên Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao Khoa học Công nghệ nuôi
trồng thủy sản vùng Đông Bắc, Trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên đã tạo
điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại trung tâm.
Do thời gian nghiên cứu và năng lực bản thân có hạn, đặc biệt là kinh
nghiệm thực tế còn hạn chế nên quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi
những sai sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, các cô và các

iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

BĐTN : Bắt đầu thí nghiệm
DO : Hàm lượng oxy hòa tan
KL : Khối lượng
pH : Chỉ số pH
STTĐ : Sinh trưởng tuyệt đối, Sinh trưởng tuyệt đối
STTL : Sinh trưởng tích lũy
ST : Sinh trưởng
STT : Số thứ tự
TB : Trung bình

v
3.4. Phương pháp nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi 25
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.2. Chỉ tiêu theo dõi 26
3.4.3. Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 27
3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu 27
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
4.1. Công tác phục vụ sản xuất 28
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 28
4.1.2. Đánh giá chung 31
4.1.3. Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất 32
4.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận 35
4.2.1. Khối lượng của ba ba trong thí nghiệm 35
4.2.2. Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối của ba ba 36
4.2.2.1. Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối của ba ba 36
4.2.3. Tỷ lệ nuôi sống của ba ba tại trung tâm 37
4.2.4. Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sự sinh trưởng và phát triển
của ba ba. 37
PHẦN 5 KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 39
5.1. Kết luận 39
5.3. Đề nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ba ba là một trong những loài có giá trị kinh tế cao, thuộc đối tượng

học với thực tiễn sản xuất.
- Đánh giá được tốc độ sinh trưởng và tỉ lệ sống của ba ba trơn trong
điều kiện nuôi nhân tạo.
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Rèn luyện tay nghề nâng cao kinh nghiệm thực tiễn.
- Xác định tốc độ sinh trưởng, tỉ lệ sống của ba ba trơn trong quá trình nuôi
tại trung tâm.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Phát triển nuôi dưỡng đối tượng thủy đặc sản mang lại giá trị kinh tế cao.
Đề ra các chỉ tiêu thích hợp về môi trường, thức ăn để nuôi ba ba.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đưa được giống mới đến người nuôi trồng thủy sản mang lại hiệu quả
kinh tế cao, góp phần giải quyết việc làm, phát triển kinh tế vùng nông thôn.

3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Cơ sở khoa học
* Đặc điểm sinh học của ba ba.
- Vị trí phân loại.
Lớp bò sát: Reptilia

Ba ba Nam bộ da bụng màu trắng, không có chấm đen.
Ngoài da bụng, có thể căn cứ vào các nốt sần trên lưng, trên diềm cổ, và
trên cổ của ba ba để phân biệt chúng.
* Tập tính sinh sống của ba ba:
Ba ba có một số tập tính sinh sống đặc biệt.
Tuy là động vật sống hoang dã, nhưng rất dễ nuôi trong ao, bể nhỏ.
Sống dưới nước là chính, nhưng có thể sống trên cạn và có lúc rất cần
sống trên cạn. Ba ba thở bằng phổi là chính nên thỉnh thoảng phải nhô lên mặt
nước để hít thở không khí. Mùa đông lạnh, cường độ hô hấp nhỏ, ba ba có thể
rút trong bùn ở đáy ao, dựa vào cơ quan hô hấp phụ trong cổ họng để thở, cơ

5
quan hô hấp phụ tựa mang cá, ba ba lấy oxy trong nước và thải CO
2
trong
máu vào nước qua cơ quan này. Ba ba lên khỏi mặt nước khi có nhu cầu di
chuyển, đẻ trứng, phơi lưng
Vừa biết bơi, vừa biết bò, leo, biết vùi mình nằm trong bùn cát, đặc biệt
có thể đào hang trú ẩn, đào khoét bờ ao chui sang ao bên cạnh.
Ba ba nhút nhát lại vừa hung dữ. Ba ba thích sống nơi yên tĩnh, ít tiếng
ồn, kín đáo. Khi thấy có tiếng động mạnh, có bóng người hay bóng súc vật
đến gần, chúng lập tức nhảy xuống nước lẩn trốn. Tính hung dữ của ba ba thể
hiện ở chỗ hay cắn nhau rất đau, con lớn hay cắn và ăn tranh mồi của con bé,
bị đói lâu có thể ăn thịt con bé. Khi có người hoặc động vật muốn bắt nó, nó
có phản ứng tự vệ rất nhanh là vươn cổ dài ra cắn.
* Đặc điểm dinh dưỡng.
Ba ba thuộc loài ăn thức ăn động vật.
Trong tự nhiên thức ăn chính trong mấy ngày mới nở là động vật phù du
(thủy trần), giun nước (trùng chỉ) và giun quế loại nhỏ. Khi lớn ba ba ăn cá,
tép, cua, ốc, giun đất, trai, hến Trong điều kiện nuôi dưỡng, cho ba ba ăn

Ba ba càng lớn đẻ trứng càng to và càng nhiều.
Ba ba trơn cỡ khoảng 500g đẻ 1 lứa từ 4 - 6 trứng, đường kính trứng
từ 17 -19mm, trọng lượng 3 - 4g/quả. Ba ba trơn cỡ 1 - 1,5kg mỗi lứa đẻ từ
8 - 15 trứng, đường kính trứng 20 - 23mm, trọng lượng 4 - 7g ba ba cỡ 2 - 3kg
có thể đẻ 20 - 30 trứng một lứa. Trứng ba ba gai lớn hơn trứng ba ba trơn.
Nhịêt độ đẻ thích hợp 25 - 32
0
C.
Sau khi đẻ 5 - 7 ngày ba ba bố mẹ tiếp tục thụ tinh.
Ba ba có thể đẻ từ 2 - 5 lứa trong 1 năm, ba ba cái càng lớn, chế độ nuôi
vỗ cho ăn càng tốt đẻ càng nhiều lứa, mỗi lứa cách nhau từ 25 - 30 ngày
(Nguyễn Văn Kiểm và cs, 2004) [3]. Để phân biệt được giữa ba ba dực và cái
căn cứ vào một số các sở cứ sau:
7
Phân biệt ba ba đực và ba ba cái
Ba ba đực
Ba ba cái
Kích cỡ nhỏ, mình mỏng hơn
Kích cỡ lớn hơn con đực
Mai tròn hơn
Mai hình bầu dục
Cổ, đuôi dài, nhỏ và nhô ra khỏi mai
Cổ và đuôi ngắn, mập không lồi ra
Yếm lõm
Yếm ít lõm
Vuốt chân dài
Vuốt chân ngắn hơn

Ánh sáng giúp ba ba điều chỉnh thân nhiệt hiệu quả hơn, ngoài ra các tia
tử ngoại của ánh sáng mặt trời sẽ giúp ba ba diệt khuẩn tránh các bệnh về nấm
rất tốt, thúc đẩy quá trình tổng hợp vitamin D.
+ Chỉ số pH.
Tác động của pH đến đời sống ba ba có tính chất giãn tiếp, pH ảnh
hưởng đến quá trình cân bằng hóa học và sinh học trong nước như sự cần
bằng , S trong ao nuôi. Ba ba thích sống ở môi trường nước sạch, pH
từ 7-8.
+ Oxy hòa tan (DO).
Ngưỡng oxy hòa tan thích hợp từ 4mg/l trở lên.
+ Màu nước, độ trong.
Màu nước màu xanh lá chuối non, độ trong từ 25 - 30cm là tốt nhất cho ba ba.
* Tính thời vụ rất rõ rệt giữa 2 vùng.
Ba ba trơn nuôi ở các tỉnh phía Bắc: một số con đẻ sớm vào cuối tháng 3
hoặc đầu tháng 4 (dương lịch), đẻ rộ trong các tháng 5, 6, 7 sau đó đẻ rải rác
tiếp các tháng 8, 9, 10, cuối tháng 10 là kết thúc vụ đẻ.
Thời vụ nuôi bắt đầu vào cuối tháng 3 đến đầu tháng 12. Từ giữa tháng
12 đến hết tháng 2 thời tiết lạnh nhiệt độ nước dưới 18
0
C, có khi dưới 15
0
C ba
ba không ăn và không lớn. Các tháng ba ba sinh trưởng nhanh nhất là từ tháng
5 đến tháng 10.
Ba ba trơn nuôi ở các tỉnh miền Trung và phía Nam: hầu như ăn mồi
quanh năm, sinh trưởng liên tục và đẻ quanh năm, do khí hậu ấm áp quanh năm
không có mùa đông lạnh như các tỉnh phía Bắc. Trong vùng này, nhiệt độ nước
các ao nuôi ba ba trong năm dao động chủ yếu trong phạm vi từ 24 - 32
o
C, ít

từng khối lượng mà giá bán cao hoặc thấp, thịt thơm ngon. Thức ăn cho ba ba
chủ yếu sử dụng thức ăn chủ yếu là động vật nên sẵn có ở địa phương. Khả
năng kháng bệnh của ba ba cũng tốt chủ yếu là mắc các bệnh về nấm. Nếu
phát triển nghề nuôi ba ba bền vững đây sẽ là đối tượng giúp người nông dân
xóa đói giảm nghèo.

10
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Ba ba hay rùa mai mềm Trung Quốc là một trong những loại được nuôi
rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là tại Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam. Nhật
Bản được cho là quốc gia tiên phong trong việc nuôi thương phẩm ba ba trơn
(Pelodiscus sinensis) với các trang trại đầu tiên ở Fukagawa gần Tokyo vào
năm 1866. (Z Zhou, Z Jiang (2009) [11 ].
Vào đầu thế kỷ 20 trang trại Hattori đã có khoảng 13,6 ha ao ba ba.
Phần lớn các trang trại ba ba nằm ở Trung Quốc. Theo một nghiên cứu công
bố năm 2007, hơn một ngàn trang trại rùa hoạt động ở Trung Quốc. Các trang
trại có tổng đàn hơn 300 triệu con, và bán được hơn 128 triệu con ba ba mỗi
năm, với tổng trọng lượng khoảng 93.000 tấn. Các loài phổ biến nhất đưa ra
bởi người nông dân rùa Trung Quốc là rùa mai mềm và ba ba. Trung Quốc
nuôi và sử dụng một lượng ba ba rất lớn trên thế giới (RB Bury, DJ Germano,
(2005) [12]
Ở Vùng Đông Nam Á, Ba ba trơn (Pelodiscus sinensis) được nuôi khá
rộng rãi ở Thái Lan (khoảng cuối những năm 1990) ước tính khoảng 6 triệu
rùa nở trên trang trại Thái Lan hàng năm. Nuôi rùa tồn tại ở Việt Nam ít nhất
là trên một quy mô trang trại hộ gia đình ngay từ năm 1993. Việc chăn nuôi
các loại rùa ở Việt Nam cũng là một trong những biện pháp giúp nông dân
xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu vì giá thành cả các loại rùa cao hơn
so với các loại vật nuôi khác.(CJ Griffiths, CG Jones, DM Hansen Restoration
(2010)[10]

tỉnh Đắc Lắc, Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng đều có cơ sở nuôi có hiệu quả, ít
bệnh tật, đã và đang có sản phẩm hàng hoá.

12
Các tỉnh đồng bằng: ngoài Hải Hưng, sau những năm khuyến ngư động
viên các cơ sở mở rộng nuôi khá nhanh ở miền Bắc như Hà Bắc, Hà Tây, Hải
Phòng. Miền Trung phát triển ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Bình, Đà Nẵng, Quãng Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận,
Phú Yên, Khánh Hoà.
Từ những tỉnh trước đây không có cơ sở nào, sau 3 - 4 năm đã mở rộng,
tỉnh ít nhất là 30 - 40 hộ gia đình, tỉnh nhiều 700 - 1200 hộ gia đình. Tỉnh
Bình Định từ một mô hình trình diễn thành công, tỉnh đã tổng kết và dành 350
triệu đồng, tiền vốn đầu tư mở rộng ra 11 huyện trong tỉnh. Đặc biệt các tỉnh
miền Nam chưa có tập quán nuôi giống ba ba hoa, kinh nghiệm chưa có, sau
khi đi tham quan các tỉnh miền Bắc và khuyến ngư phổ biến, nhân dân các
tỉnh tiếp thu rất nhanh và đầu tư lớn phát triển nuôi từ Tiền Giang, Cần Thơ,
Vĩnh Long, An Giang, Kiên Giang, Thành Phố Hồ Chí Minh có trên 1.000 hộ,
có hộ đầu tư trên 500 triệu đồng xây dựng cơ sở và trên 1 tỷ đồng mua giống,
cho đẻ sản xuất gần 2 vạn con giống, cung cấp đủ cho các tỉnh miền Nam thu
về 200 - 300 triệu đồng 1 năm.
Các tỉnh ven biển: Vùng nước lợ và nước ngọt giao lưu nhau cũng phát
triển cơ sở nuôi như Xuân Thuỷ Nghĩa Hưng (Nam Định), Kim Sơn Ninh
Bình, Hải Phòng và vùng cuối sông Kinh Thầy (Hải Hưng ), các tỉnh Kiên
Giang, Bến Tre, Trà Vinh ba ba đều phát triển tốt, thức ăn nhiều, giá thức ăn
hạ hơn vùng nội đồng.
Giống nuôi: Từ một động vật hoang dã, sinh sản tự nhiên, sống chủ yếu
ở sông suối, đầm hồ lớn, số lượng giống ít. Chỉ sau 2 năm một số hộ của Hải
Hưng cho ba ba đẻ, ương ấp được con giống, đã được mở rộng ra các tỉnh
Bắc, Trung, Nam cho đẻ và sản xuất được 30 vạn con năm 1994, đến năm
1997 đã sản xuất được 2 triệu con giống, tăng gấp hơn 6 lần năm 1994, cung

14
* Các yêu cầu kỹ thuật về xây dựng ao nuôi
- Diện tích:
+ Ao nuôi ba ba bố mẹ từ 100 - 200m
2
/ao, lớn nhất không nên quá 400m
2
.
+ Bể ương ba ba giống từ mới nở đến 1 tháng tuổi: 1 - 10m
2
/bể. Nên xây
nhiều bể nhỏ ương riêng rẽ ba ba nở cùng thời gian 1 - 2 ngày vào 1 bể.
+ Ao, bể ương ba ba giống từ 2 - 3 tháng tuổi: 10-50m
2
.
+ Ao, bể ương ba ba giống lớn (4 - 6 tháng tuổi) từ 50 - 150m
2
. Giai
đoạn này ương trong ao tốt hơn ương trong bể xây
- Độ sâu thích hợp (tính từ đáy ao lên đỉnh bờ):
+ Ao nuôi ba ba bố mẹ từ 1,5 - 2m, có mức nước chứa thường xuyên từ
1,2 - 1,5m, thời gian nắng nóng và mùa rét cho nước sâu thêm 20 - 30cm.
Ao nuôi ba ba thịt từ 1,5 - 2m, có mức nước chứa thường xuyên 1 - 1,2m.
Thời gian nắng nóng và mùa rét cho nước sâu thêm 20 - 30cm. Đáy ao nuôi ba
ba thịt và ba ba bố mẹ tốt nhất vừa có chỗ nông vừa có chỗ sâu, để thích hợp với
điều kiện tự nhiên của ba ba. Bể ương ba ba mới nở: từ 0,5 - 0,6m, chứa nước
sâu từ 10cm (lúc đầu) đến 40cm (cuối giai đoạn ương). Bể ương ba ba giống cỡ

dọn ao, nhưng một số người cho rằng để đáy bùn sạch nuôi ba ba bóng đẹp
hơn. Cũng không nên dùng lớp bùn cát quá dày, vừa tốn cát, vừa khó xử ký
khi bắt ba ba mỗi khi cần tẩy dọn ao và thay cát đáy.
+ Có nhiều cách tạo chỗ cho ba ba bò lên phơi nắng: Đơn giản nhất là
thả một số vật nổi như bó tre, nứa (cả cây), cây gỗ, tấm gỗ, tấm phên
+ Tạo lối cho ba ba bò từ ao lên bờ, có thể là một luống đất ria ao hoặc
cả một vườn cây cạnh ao. Riêng ao nuôi ba ba bố mẹ không làm kiểu này.
+ Đắp ụ trong ao hoặc xây bệ nổi trên mặt ao, có cầu cho ba ba lên
xuống. Cũng có thể lát nghiêng một đầu ao, bể, độ dốc vừa phải, phần ngập

16
dưới nước là chỗ để cho ba ba ăn, phần cao trên mặt nước là chỗ cho ba ba
phơi mình, diện tích phần lát từ 10 - 20% diện tích ao, tuỳ theo mật độ nuôi
dày hay thưa
- Có chỗ cố định cho ba ba ăn để dễ theo dõi sức ăn của ba ba và để làm
vệ sinh khu vực ăn. Đơn giản nhất là cho thức ăn vào rổ, rá, nia, mẹt, khay,
buộc dây treo ngập nước từ 0,3 - 0,6m cho ba ba ăn, khi cần thì nhấc lên như
nhấc vó. Có thể xây một bệ máng ở một góc ao, rộng 0,4 - 0,6m, ngập dưới
nước 0,3 - 0,6m. Ao bể nhỏ và nông, đáy sạch có thể thả thức ăn trực tiếp
xuống đáy ao cho ăn, nên chọn vị trí gần cửa cống tháo nước để dễ tháo hút
chất cặn bẩn thức ăn thừa hàng ngày. Có thể luyện cho ba ba quen ăn ở ngay
sát mép nước.
- Các chỗ ba ba hay bò leo như đáy bể, sườn ao, bể các gốc tường xây
nên xây phẳng, có điều kiện nên trát vữa nhẵn để ba ba khó leo và không bị
xướt da bụng dẫn đến nhiễm trùng sinh bệnh.
+ Chống được ba ba vượt ao ra ngoài đi mất.
+ Cửa cống tháo nước và cấp nước cần bịt bằng lướt sắt.
+ Ao nuôi ba ba bố mẹ cần xây bờ từ đáy lên, đỉnh bờ xây cao hơn mặt
nước chứa trong bể từ 0,2 - 0,5m (tùy bể to nhỏ). Đỉnh tường và các góc
tường xây gờ chắn rộng 5 - 10cm (tùy bể to nhỏ) nhô về phía lòng ao.

sáng mặt trời sẽ giúp ba ba diệt khuẩn tránh các bệnh về nấm rất tốt, thúc đẩy
quá trình tổng hợp vitamin D.
- Diện tích
Đối với ao nuôi thương phẩm diện tích từ 200 – 1000m
2
là thích hợp. Bờ
ao xây bằng gạch chắc chắn, có rào chắn để quản lý được ba ba trong khu vực
nuôi. Xung quanh 4 góc ao bố trí các sàn ăn, bằng tre, tấm gỗ, để ba ba có thể
nghỉ ngơi phơi nắng và lên ăn
- Độ sâu mực nước: Độ sâu mực nước từ 1,5 – 2,0m giúp ba ba tránh rét
vào mùa đông, mát vào mùa hè.
- Chất đáy: Đáy ao phải tương đối bằng phẳng có độ nghiêng dần về
cống thoát nước. Ao có độ dày bùn đáy 15 – 20cm nếu có điều kiện nên đổ ½
diện tích là cát mịn sạch có độ dày từ 15 – 20cm

18
* Thời gian nuôi:
- Nuôi trong vòng một năm:
Cỡ giống thả 100 - 300 gam/con, nuôi từ tháng 2,3 đến cuối năm thu
hoạch. Cỡ thu hoạch thường từ 0,7 - 0,8 kg/con có những con trội đạt 1kg.
- Nuôi chu kỳ 1,5 - 2 năm:
Nuôi hết năm đầu chưa thu hoạch nuôi tiếp, cỡ thu hoạch đạt 1,0 -
1,5 kg/con (Ngô Trọng Lư, 1998) [4].
* Chuẩn bị ao trước khi nuôi
- Trước hết là phải làm cạn nước, vệ sinh ao, lấp hang hốc rò rỉ, vét bùn đáy
- Dùng vôi để tẩy trùng, diệt tạp với liều lượng từ 10 - 12kg/100m
2
ao.
- Đối với các ao nuôi từ 2 năm trở đi, việc tẩy ao nên tiến hành chu đáo,
nếu lớp cát đáy ao quá bẩn nên thây bằng lớp cát mới, sạch để nuôi đạt tỷ lệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status