ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TẠ THỊ HOAN
Tên đề tài:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH KỸ THUẬT ƢƠNG NUÔI CÁ RÔ PHI
(O. niloticus) ĐƠN TÍNH ĐỰC TỪ 21 NGÀY TUỔI ĐẾN CÁ CỠ 2-3 CM
TRONG AO TẠI TRUNG TÂM GIỐNG THỦY SẢN HÒA SƠN HUYỆN
PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành : Nuôi trồng thủy sản
Khoa : Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 – 2015
Thái Nguyên - năm 2015
Thái Nguyên - năm 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi
đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của nhiều cá nhân và các tổ chức
cơ quan, nhân đây tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới sự
quan tâm giúp đỡ đó.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, Ban lãnh đạo khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể
quý thầy cô trong tổ bộ môn Nuôi trồng thủy sản đã tận tình giảng dạy và chỉ
bảo giúp tôi hoàn thành bản khóa luận này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Trung tâm giống thủy sản Hòa
Sơn huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ chỉ bảo tận
tình, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tại cơ sở thực tập.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới: TS. Trần Văn Thăng là người định hướng
chính cho đề tài, đã tận tình hướng dẫn, theo dõi, giúp đỡ chỉ bảo chu đáo
trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành nội dung khóa luận. Em xin chân
thành gửi lời cảm ơn tới thầy.
Qua đây tôi cũng xin gửi lòng biết ơn tới những người thân trong gia
đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ em học tập trong suốt thời
gian qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 6 năm 2015
Sinh viên
Tạ Thị Hoan
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DO
Hàm lượng oxy hòa tan
GIFT
Genetic Improvement of Farmed Tilapia
KCN
Khu công nghiệp
NTTS
Nuôi trồng thủy sản
PTNT
Phát triển nông thôn
TB
Trung bình
v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích của đề tài 2
4.2. Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường nước ao ương nuôi 29
4.2.1. Nhiệt độ nước 29
4.2.2. Độ trong và chỉ số pH 30
4.2.3. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước 30
4.2.4. Biến động hàm lượng H
2
S trong thời gian ương nuôi 31
4.3. Kết quả chăm sóc cá ương nuôi trong 3 đợt 32
4.4. Kết quả theo dõi tốc độ sinh trưởng của cá rô phi đơn tính từ 21 ngày tuổi
lên cá 2-3cm. 33
4.5. Kết quả theo dõi tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá rô phi đơn tính từ
21 ngày tuổi đến cá cỡ 2-3 cm. 36
4.6. Tỷ lệ sống của cá rô phi đơn tính từ 21 ngày tuổi lên cá 2-3cm qua các
giai đoạn ương nuôi trong 3 đợt 39
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
5.1. Kết luận 42
5.2. Kiến nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngành nuôi trồng thủy sản là ngành sản xuất vật chất sử dụng nguồn tài
nguyên thiên nhiên như đất đai, diện tích mặt nước, thời tiết khí hậu… để sản
xuất ra các loại sản phẩm thủy sản phục vụ cho nhu cầu đời sống của con
người. Ngành nuôi trồng thủy sản có khả năng sản xuất ra nhiều loại thực
phẩm giầu dinh dưỡng cho nhân loại, cung cấp nhiều loại nguyên liệu, dược
liệu cho các ngành công nghiệp, làm thức ăn cho chăn nuôi gia súc. Trong
cá rô phi (O. niloticus) đơn tính đực từ 21 ngày tuổi đến cá cỡ 2 - 3cm trong
ao tại Trung tâm giống thủy sản Hòa Sơn huyện Phú Bình tỉnh Thái
Nguyên”.
1.2. Mục đích của đề tài
- Áp dụng quy trình kỹ thuật ương nuôi cá rô phi đơn tính đực từ 21
ngày tuổi lên cá cỡ 2 - 3cm tại Trung tâm giống thủy sản Hòa Sơn huyện Phú
Bình tỉnh Thái Nguyên.
- Sau quá trình thực tập tại cơ sở phải nắm được quy trình sản xuất
giống cá rô phi đơn tính từ 21 ngày tuổi lên cá 2 - 3cm, các yếu tố kỹ thuật
cần thiết trong quá trình nuôi như: chế độ cho ăn, thời gian cho ăn, khẩu phần
ăn, quản lý môi trường ương nuôi.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Các kết quả nghiên cứu đạt được là những tư liệu khoa học về quy trình
kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi đơn tính phục vụ cho nghiên cứu và học tập
của giảng viên và sinh viên trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và nâng
cao kiến thức về quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi đơn tính tại các
cơ sở sản xuất giống cá nước ngọt, từ đó giúp sinh viên củng cố và nâng cao
kiến thức chuyên môn cho bản thân.
- Giúp bản thân vận dụng vào thực tiễn các kiến thức đã học, rèn luyện
tay nghề nâng cao kinh nghiệm cho bản thân.
- Kết quả của đề tài là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp các cơ sở sản
xuất cá giống ứng dụng quy trình kỹ thuật này trong sản xuất giống cá rô phi
đơn tính nhằm sản xuất ra giống cá rô phi đơn tính có chất lượng tốt nhất để
nuôi thương phẩm cho năng suất và chất lượng cao.
Ngành: Verteberata
Lớp: Osteichthyes
Lớp phụ: Acdinopterggii
Bộ cá vược: Perciformes
Họ: Cichlidae
Giống: Oreochromis
Loài: Oreochromis niloticus.
Cá rô phi có tên gọi chung của khoảng 80 loài cá và căn cứ vào đặc
điểm sinh sản, các nhà nghiên cứu đã phân loại thành 3 giống chính:
- Tilapi: Khi đẻ cần có giá thể để trứng bám. (Nguyễn Công Dân,
2000) [1].
- Sarotherodon: Cá bố hoặc cá mẹ hoặc cả cá bố mẹ cùng ấp trứng
trong miệng. (Lê Văn Thắng, 1999) [7].
- Oreochromis: Chỉ có cá mẹ ấp trứng trong miệng (Mancistosh và
Little, 1995) [16].
5
Trong 3 giống trên có khoảng 8 - 9 loài có giá trị trong nuôi trồng thủy
sản, trong các loài có giá trị, cá rô phi vằn O. niloticus, cá rô phi xanh O.
aureus và cá rô phi hồng O. reochromis sp được coi là quan trọng nhất
hiện nay, đang được nuôi phổ biến ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới
trên thế giới.
Ở Việt Nam, cá rô phi được đưa vào giữa năm 1951 tại vùng tạm bị Pháp
chiếm đóng. Cá rô phi được di nhập vào nước ta lần đầu tiên là cá rô phi đen
Oreochromis mossambicus. Cá rô phi đen thích ứng cao với các điều kiện
nuôi khác nhau, có tỷ lệ sống cao ở môi trường ao nuôi kể cả khi có hàm
lượng oxy hòa tan thấp. Tuy nhiên, cá chậm lớn, đẻ nhiều và sớm, kích cỡ cá
nhỏ do vậy không được người nuôi ưa thích (Guerrero và cs (1974) [13]. Năm
1973 cá rô phi vằn Oreochromis niloticus được nhập từ Đài Loan vào nước ta,
cá rô phi vằn nhanh lớn, nhịp đẻ thưa hơn so với cá rô phi đen, cá nhanh
Hình 2.1: Hình thái ngoài của cá rô phi đen (O. mossambicus)
Cá rô phi vằn
Cá rô phi vằn O. niloticus có đặc điểm thân ngắn, mình cao, vảy lớn dày
và cứng. Màu sắc thay đổi theo môi trường, trên thân có nhiều sọc đen. Trên
đuôi và vây có chấm hoa xếp theo thứ tự thành vạch đen đều đặn. Có hai
đường bên: Đường thứ nhất ở phía trên bắt đầu từ sau nắp mang, ở vào hàng
vảy thứ 4 kể từ vây lưng xuống có 22 vảy. Đường thứ hai: ở phía đuôi bắt đầu
từ hàng vảy thứ 7 từ vây lưng xuống có 14 vảy.
Toàn thân phủ vẩy sáng bóng, phần lưng có mầu xanh nhạt, phần bụng
có mầu trắng sữa hoăc xanh nhạt. Trên thân mình có 7 - 9 vạch đậm chạy từ
lưng xuống bụng. Vậy đuôi có màu sọc đen đậm song song từ phía trên xuống
phía dưới và phân bố khắp vây đuôi. Vây lưng có những sọc trắng chạy song
song trên nền xám đen. Viền vây lưng và vây đuôi có viền hồng nhạt. Đầu cá
đực to và múp hơn đầu cá cái, xương chán cá đực hơi lõm xuống.
7
Ruột cá rô phi dài gấp 7 lần chiều dài thân, dạ dày bé. Cá rô phi vằn là
loài cá có kích thước lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh, đẻ thưa, chất lượng thịt
thơm ngon. (Lowe và cs,1982)[15].
Bảng 2.1: Phân biệt cá đực, cái qua các đặc điểm hình thái
Đặc điểm
Cá đực
Cá cái
Đầu
To và nhô cao
Nhỏ, hàm dưới trề do
ngậm trứng và con
Lỗ sinh dục
2 lỗ: lỗ niệu sinh dục và lỗ
hậu môn
3 lỗ: lỗ sinh dục, lỗ niệu,
lỗ hậu môn
Màu sắc
Vây lưng và vây đuôi có
màu sặc sỡ
Màu nhạt hơn
Hình dạng
huyệt
Đầu lỗ niệu sinh dục dạng
lồi, hình nón dài và nhọn
Dạng tròn hơi lồi và không
nhọn như cá đực
(Lê Văn Thắng, 1999) [7]
2.1.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng của cá rô phi
Cá rô phi là loài cá ăn tạp bao gồm các loại động thực vật phù du, giun
đất, cỏ bèo, mùn bã hữa cơ, các loại thức ăn bổ xung như cám gạo, bột ngô.
Tính ăn của cá rô phi thay đổi theo từng loài, từng giai đoạn phát triển và môi
9
* Giai đoạn trứng cá bột: Giai đoạn này được kéo dài từ khi trứng đẻ ra
cho tới khi nở thành cá bột.
* Giai đoạn ương nuôi và trưởng thành : Đây là giai đoạn hoàn thiện các
cơ quan và hệ cơ quan.
* Giai đoạn thành thục và sinh sản: Sự thành thục của cá rô phi phụ thuộc
vào tuổi, kích cỡ và môi trường sống. Trung bình cá rô phi có thể đẻ 6 đợt
trong năm, mỗi đợt từ vài trăm đến vài nghìn trứng.
2.1.1.6. Khả năng thích ứng với điều kiện môi trường
Cá rô phi là giống cá có khả năng thích ứng rộng với các điều kiện môi
trường nước. Nó sống được ở các loại thủy vực ao hồ, sông, suối (nước ngọt),
nước lợ, mặn khác nhau (Philipart và cs, 1982) [19]. Tuy nhiên, mỗi loài lại
có khả năng chịu đựng với từng yếu tố khác nhau.
* Nhiệt độ nước
Cá rô phi rất thích hợp với các điều kiện tự nhiên vùng nhiệt đới và cận
nhiệt đới, là những nơi có nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng và sinh sản tự
nhiên của chúng.
Do có nguồn gốc ở châu Phi nên khả năng chịu lạnh của cá rô phi kém
hơn so với khả năng thích nghi ở nhiệt độ cao. Cá rô phi có thể chịu đựng được
ở nhiệt độ 40
0
C và chết nhiều khi nhiệt độ xuống dưới 10
0
C (Capili và cs, 1995)
[12]. Khi nhiệt độ xuống dưới 20
0
C kéo dài làm cho cá chậm phát triển, nhiệt độ
thích hợp cho sự phát triển và tăng trưởng của cá rô phi là 20-35
0
C.
Khi nhiệt độ xuống thấp dưới 14
tỷ lệ sống với tốc độ sinh trưởng của cá. Nếu khi hàm lượng oxy hòa tan trong
nước thấp sẽ làm cho cá chậm lớn.
Theo Nguyễn Dương Dũng và Lê Hữu Thọ (1999) [2], sự hao hụt hàm
lượng khí oxy hòa tan trong nước là do quá trình hô hấp của sinh vật, do sự
12
khuếch tán vào khí quyển và do sự oxy hóa các chất. Sự ảnh hưởng xấu do
hàm lượng oxy hòa tan thấp tùy thuộc vào làm lượng oxy có trong nước và
thời gian cá phải chịu đựng, sự biến động hàm lượng oxy hoà tan trong nước
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó sự quang hợp của thực vật nước có ảnh
hưởng quyết định. Với cá rô phi, khả năng chịu đựng lượng khí oxy hòa tan
thấp có thể tới 1mg/l chúng có khẳ năng tận dụng oxy không khí, trong khi
với các loài cá khác nồng độ trên khó có thể sống sót (Phạm Anh Tuấn, 2006)
[6]. Theo Magid và cs (1995) [17], hàm lượng khí oxy hòa tan trong nước mà
cá rô phi O.niloticus có thể chịu đựng được là ở mức 0,1mg/l.
* Độ muối
Cá rô phi là loài rộng muối, có khả năng sống được trong môi trường
nước sông, suối, đập tràn, hồ ao nước ngọt, nước lợ và nước mặn có độ muối
từ 0 - 40‰ (Nguyễn Văn Tiến, 2003) [8]. Khả năng thích ứng với độ mặn ở
mỗi loài cũng khác nhau, loài O. niloticus có ngưỡng muối thấp nhất và loài
có ngưỡng muối cao nhất là T. zilliii, O. aureus (Philipart và cs, 1982) [19].
Khả năng chịu muối của cá rô phi tăng dần theo độ tuổi, cỡ cá, nhiệt độ,
đặc biệt là sự thuần hóa. Cá rô phi nhỏ khả năng chịu đựng độ muối kém hơn
cá rô phi lớn. Theo báo cáo của Behrends và cs (1990) [1], thì tất cả cá bột, cá
hương của rô phi đều chết ở độ mặn 27‰. Nhưng giai đoạn trưởng thành thì
chúng chết ở 37‰.
* Các loại khí độc
- Khí H
2
S
3
gây dộc cho tôm, cá (Trần Văn Vỹ, 2002) [10]. Nồng độ NH
3
gây độc đối với
tôm, cá phụ thuộc vào nồng độ khí oxy hòa tan trong nước. Khi hàm lượng
khí oxy hòa tan thấp, tính độc của NH
3
đối với tôm, cá thấp với cá rô phi vằn
O.niloticus dòng GIFT sự tăng trưởng dừng lại ở nồng độ NH
3
là 1,5 -
1,7mg/l khi nhiệt độ nước là 28 - 33
0
C.
2.1.2. Kỹ thuật cho cá rô phi vằn đẻ tự nhiên
Cá rô phi vằn có thể đẻ tự nhiên trong ao, trong bể và trong giai.
2.1.2.1. Cho cá rô phi vằn đẻ tự nhiên trong ao
Ao cho cá đẻ có diện tích 300 - 1000m
2
để dễ quản lý, nền đáy ao ít bùn
là cát pha sét để cá dễ làm tổ. Ao trước khi thả cá bố mẹ phải được tát, vét
sạch bùn và tẩy dọn bằng vôi bột với liều 7 - 10 kg/100m
2
ao. Phơi đáy ao 3 -
5 ngày để diệt các mầm bệnh sau đó lấy nước vào ao. Khi lấy nước phải lọc
qua lưới để tránh cá tạp. Bón phân gây màu nước cho ao nuôi trước khi thả cá
bố mẹ vào ao từ 5 - 7 ngày. Nếu là phân chuồng hoai mục bón: 10 - 15
kg/100m
2
giai và ấp trứng cá trong bình và trong khay. Đây là kỹ thuật sản xuất giống
tiến tiến để để thu được lượng cá bột đồng cỡ. Tuy nhiên do hạn chế về cơ sở
vật chất, kỹ thuật nên Trung tâm giống thủy sản Hòa Sơn tiến hành cho cá bố
mẹ đẻ trực tiếp trong ao sau đó dùng lưới mắt nhỏ kéo cá bột và tiến hành xử
lý giới tính bằng hooc môn.
2.1.2.3. Chuyển giới tính cá bột
- Chuẩn bị ao: Ao cắm giai xử lý cá bột có diện tích 200 – 1000 m
2
, độ
sâu 1,2 - 1,5 m được tát cạn tẩy dọn như ao nuôi vỗ cá bố mẹ, nhưng không
bón phân hữu cơ hoặc vô cơ.
- Giai xử lý cá bột: Giai xử lý cá bột là giai mau có cỡ mắt lưới 1mm,
diện tích giai 1 – 4 m
2
, độ sâu của giai là 1m. Giai 1m
2
có thể nuôi với mật độ
10.000 - 15.000 cá bột/giai.
- Thời gian xử lý, chăm sóc và quản lý: Thời gian cho cá ăn thức ăn đã
được trộn hooc môn là 21 ngày để chuyển thành cá đực. Thành phần thức ăn
bao gồm bột cá nhạt, vitamin C và 17α Metyltestosterone. Các thành phần
trên được phối trộn đều 10g vitamin C vào 1000g bột cá nhạt đã được nghiền
mịn. Hòa tan 60 mg 17α Metyltestosterone vào 0,5 lít cồn Etanol 96% và lắc
cho hooc môn tan đều trong cồn. Trộn đều lượng cồn đã hòa tan hooc môn
15
vào hỗn hợp bột cá, hong khô nơi thoáng mát, tránh ánh sáng trực tiếp hoặc
sấy khô ở điều kiện nhiệt độ 45 - 50
0
C. Sau khi khô, thức ăn được bảo quản
thải (từ chuồng trại chăn nuôi, nước thải sinh hoạt, nước thải của các nhà máy
KCN), pH nước 6,5 - 8,5, hàm lượng DO duy trì trên 3 mg/l.
- Tẩy dọn ao
Ao ương cá rô phi toàn đực 21 ngày tuổi lên cá hương được chuẩn bị kỹ:
Làm cạn nước, bốc vét bùn, tu sửa lại bờ và cống ao.
Dùng vôi bột cải tạo đáy ao với liều 7 - 10 kg/100 m
2
ao
Sau khi bón vôi, phơi khô đáy ao từ 3 - 5 ngày.
Khi lấy nước vào ao nhất thiết phải có mành hoặc lưới chắn để lọc không
cho cá tạp, địch hại theo nước vào ao.
2.1.3.2. Thả cá
Mật độ ương trong ao là: 100 - 150 con/m
2
Mật độ cá thả trong giai là 1.000 - 1.100 con/m
3
2.1.3.3. Chăm sóc, quản lý
* Chăm sóc
Chuẩn bị thức ăn cho cá từ 21 ngày tuổi lên cá hương dạng bột mịn với
thành phần như sau:
+ Bột cá nhạt: 20%
+ Bột đỗ tương hoặc khô dầu đỗ tương: 40%
+ Cám gạo: 39%
+ Vi khoáng: 1%
Trong 7 ngày đầu thức ăn được nấu chín, hòa vào nước rồi té đều
khắp mặt ao. Lượng cho ăn là 0,2 - 0,3 kg/10.000 cá. Thức ăn được chia
đều thành 3 phần cho ăn vào lúc 8h, 13h, 16h hằng ngày. Những ngày tiếp
theo thức ăn không cần nấu chín mà cho cá ăn ở dạng bột bằng cách rải
thời thường xuyên quan sát phát hiện, ngăn chặn và tiêu diệt mầm bệnh càng
sớm càng tốt để hạn chế thiệt hại về kinh tế.