1
Phần 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. Điều tra cơ bản
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Bắc Giang nằm ở tọa độ địa lý từ 21
0
07’ đến 21
0
37’ vĩ độ Bắc, từ
105
0
53’ đến 107
0
02’ kinh độ Đông.
Bắc Giang là tỉnh miền núi, nằm cách Thủ đô Hà Nội 50 km về phía
Bắc, cách cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị 110 km về phía Nam, cách cảng Hải
Phòng hơn 100 km về phía Đông. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn,
phía tây và Tây Bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên, phía Nam và Đông nam giáp
tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh.
Đến nay tỉnh Bắc Giang có 9 huyện và 1 thành phố. Trong đó có 6 huyện
miền núi và 1 huyện vùng cao (Sơn Động); 229 xã, phường, thị trấn.
Trung tâm giống thuỷ sản cấp I Bắc Giang (trung tâm vùng) nằm trong
vùng Đông Bắc của tổ quốc thuộc thôn Hoành Sơn - xã Phi Mô - huyện Lạng
Giang - tỉnh Bắc Giang.
Tổng diện tích: 11.3ha, trong đó diện tích mặt nước 7.5 ha.
Ngoài ra trung tâm còn có hai cơ sở nhánh:
+ 01 cơ sở thuộc xã Xương Giang - thành phố Bắc Giang (cơ sở Xương
Giang) với tổng diện tích 1.5 ha, trong đó diện tích mặt nước là 7.780 m
thu khí hậu ôn hoà. Nhiệt độ trung bình 22 - 23
0
C, có độ ẩm dao động lớn từ
73 – 87%.
Lượng mưa hàng năm đủ đáp ứng nhu cầu nước cho sản xuất và đời
sống. Nắng trung bình hàng năm từ 1.500 – 1.700 giờ, thuận lợi cho phát triển
các cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới. Các năm gần đây Bắc Giang ít bị ảnh
hưởng bởi thiên tai, thời tiết ổn định có nhiệt độ trung bình năm không cao
(22 – 25
0
C) số ngày mưa trung bình 90 ngày.
Trung tâm giống thuỷ sản cấp I Bắc Giang mang khí hậu đặc trưng của
vùng Đông Bắc. Nhiệt độ biến động giữa các mùa là khá lớn (14
0
C - 36
0
C), vào
mùa đông nhiệt độ xuống thấp nên gặp nhiều khó khăn tới nuôi và sản xuất.
1.1.1.4. Mạng lưới giao thông
Trung tâm giống thuỷ sản cấp I Bắc Giang có đường giao thông đi lại
thuận lợi cạnh đường quốc lộ 1A, tiếp giáp với thành phố Bắc Giang là đầu
mối giao thông với các tỉnh lân cận như: Bắc Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên,
Hải Dương, Quảng Ninh,…
3
Nhìn chung hệ thống giao thông đi qua trung tâm rất thuận lợi cho việc
lưu thông cung cấp con giống và chuyển giao khoa học công nghệ người dân
trong tỉnh nói riêng và các tỉnh miền Bắc nói chung.
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1. Điều kiện kinh tế
quan tâm đầu tư vào đối tượng cá giống có giá trị kinh tế cao và quan tâm đầu
tư về khoa học kỹ thuật trong nuôi trồng thuỷ sản thay thế dần tập quán nuôi
thả, đặc biệt là giống cá rô, cá chép và các giống loài thuỷ đặc sản khác. Năng
lực về KHKT của người nông dân đã được nâng dần qua các lớp tập huấn, hội
thảo và các mô hình, dự án giống mới. Sản phẩm thuỷ sản được xã hội coi
trọng và góp phần cải thiện bữa ăn hàng ngày của người nông dân; nhất là
nhân dân miền núi vùng đồng bào dân tộc (qua các chương trình hỗ trợ của
tỉnh) và làm phong phú hơn sản phẩm xã hội. Nuôi trồng thuỷ sản thực sự đã
tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập làm thay đổi và cải thiện đáng kể
đời sống của một bộ phận người nông dân; góp phần tích cực trong chương
trình phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
1.1.2.2. Đời sống kinh tế xã hội
Về các hoạt động văn hoá thể thao của Trung tâm tương đối mạnh.
Trung tâm đã tham gia vào các giải văn nghệ thể thao do đơn vị tổ chức, giao
lưu với các đơn vị khác trên địa bàn tỉnh, tỉnh đoàn tổ chức và đạt kết quả tốt.
Trung tâm đã đạt được thành tích cao do sở nông nghiệp và phát triển
nông thôn tỉnh Bắc Giang trao tặng.
1.1.3.Các hoạt động chủ yếu của trung tâm
1.1.3.1. Cơ sở vật chất
Trung tâm giống thuỷ sản cấp I Bắc Giang (Trung tâm vùng) là đơn vị
sự nghiệp có thu; được thành lập tại Quyết định số 116/QĐ-UBND ngày
14/9/2004 của UBND tỉnh Bắc Giang V/v thành lập Trung tâm giống thuỷ sản
cấp I Bắc Giang trên cơ sở giữ nguyên cơ sở vật chất kỹ thuật và nhân lực của
Xí nghiệp giống dịch vụ thuỷ sản Bắc Giang (Phi Mô, Lạng Giang, Bắc
Giang) và Trạm thuỷ sản Cấm Sơn (Hoà Lạc, Hữu Lũng, Lạng Sơn) Trung
tâm có chức năng nhiệm vụ là đơn vị lưu giữ nguồn gen đặc hữu và ứng dụng
khoa học kỹ thuật trong sản xuất giống thuỷ sản. Năm 2006 - 2007 được sự
quan tâm của Bộ thuỷ sản, UBND tỉnh Bắc Giang Trung tâm được đầu tư
nâng cấp mở rộng sản xuất. Trung tâm hiện có 2 cơ sở sản xuất chính và 1 cơ
sở nhỏ trực thuộc.
xuất mới.
* Cơ sở 3: Là cơ sở trực thuộc Trung tâm; đóng tại xã Xương Giang,
Thành phố Bắc Giang. Là cơ sở nhỏ với hơn 1,5 ha diện tích tự nhiên trong
đó có 0,8 ha diện tích mặt nước sản xuất chủ yếu là ương nuôi cá giống
6
Nhà xưởng, điều kiện về địa điểm mặt bằng của trung tâm
Trung tâm có đầy đủ trang thiết bị về văn phòng, nhà điều hành, nhà
xưởng và mặt bằng phục vụ các nội dung của dự án. Tổng diện tích đất sử
dụng tại cơ sở 1 là 13 ha. Trong đó có 7,2 ha là mặt nước với các ao được bê
tông hóa, 2 ha đất đã xây dựng các khu điều hành, nhà kho, nhà xưởng, phòng
thí nghiệm. Diện tích đất còn lại còn dùng để tiếp tục mở rộng quy mô sản
xuất; đặc biệt là nhà xưởng, nhà chế biến thức ăn tự chế.
+ Trung tâm có nguồn nước tự chảy, sạch được dẫn từ hồ Cấm Sơn về.
Nguồn nước này luôn duy trì tự chảy 10 tháng/ năm. Nguồn nước chỉ bị hạn
chế vào những tháng 11,12 hàng năm.
+ Trung tâm có 01 trạm biến áp riêng, đảo bảo lượng điện cho hoạt
động sản xuất hiện tại của trung tâm và xưởng chế biến thức ăn.
+ Hiện tại trung tâm có 01 xe bán tải loại 0,5 tấn và 01 xe tải loại 2,5
tấn đảm bảo phục vụ dự án tốt nhất
1.1.3.2. Cơ cấu tổ chức quản lý
Ban giám đốc : 01 Giám đốc
01 phó giám đốc
Phòng kỹ thuật : 01 trưởng phòng
07 nhân viên
Phòng hành chính: 01 trưởng phòng
02 kế toán
02 nhân viên
Ngoài ra tổ sinh sản và phục vụ sản xuất gồm: 30 nhân viên.
1.1.3.3. Các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiếp nhận và triển khai công
nuôi trồng thủy sản I từ năm 2008. Kết quả đã sản xuất được trên 10.000 con
cá Lăng chấm giống trong năm 2009. Trung tâm tiếp tục mở rộng quy mô sản
xuất cá Lăng chấm trong những năm tiếp theo. Hiện nay trung tâm có trên
300kg cá Lăng chấm bố mẹ phục vụ cho kế hoạch sinh sản nhân tạo loài cá
này trong những năm sau.
+Tiếp nhận và triển khai dự án bảo tồn, lưu giữ và phát triển các loài cá
quý hiếm như Lăng chấm, Anh vũ, Chày mắt đỏ, Cua gia,…và các đối tượng
đặc hữu khác từ trường Cao đẳng thủy sản từ năm 2009.
8
+ Nghiên cứu và cho sinh sản nhân tạo thành công cá Anh vũ trong
năm 2009 - 2010. Hiện tại đã sản xuất được 10.000 con giống cá Anh vũ.
+Tiếp nhận và triển khai dự án bảo tồn, lưu giữ và phát triển các loài cá quý
hiếm như Lăng chấm, Anh vũ, Chày mắt đỏ và các đối tượng đặc hữu khác.
+ Năm 2010 - 2011, chủ trì dự án: “Ứng dụng tiến bộ KH&CN để nuôi
cá Lăng chấm hàng hoá trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”.
+ Năm 2011-2012: “Ứng dụng tiến bộ KH&CN để nuôi cá Rô đầu
vuông hàng hoá trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”.
+ Năm 2012 - 2013, Trung tâm thực hiện chuyển giao khoa học công nghệ
sản xuất cá Lăng chấm cho tỉnh Lào Cai.
1.1.4. Đánh giá chung
1.1.4.1. Thuận lợi
- Ban lãnh đạo luôn quan tâm chú ý, đầu tư sản xuất, đáp ứng công tác
đào tạo ngày càng tốt hơn, đồng thời nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân
viên của Trung tâm.
- Trung tâm giống thuỷ sản cấp I Bắc Giang có diện tích đất đai tương
đối rộng, thuận lợi cho việc phát triển sản xuất giống để cung cấp giống cho
địa phương và cho các tỉnh lân cận.
- Đường xá đi lại qua trung tâm đã được nhựa hoá nên việc đi lại phục
vụ cho việc chuyển giao con giống cũng như việc chuyển giao khoa học công
1.2.2. Phương pháp tiến hành
Để thực hiện tốt các nội dung trên, trong thời gian tiến hành đề tài nghiên cứu và
hoàn thiện công tác phục vụ sản xuất tôi đã đề ra một số biện pháp sau:
- Lập thời gian biểu và lên kế hoạch cho từng nội dung nghiên cứu, sắp xếp
nội dung công việc hợp lý cho từng ngày.
-Kết hợp công việc phục vụ sản xuất với công tác phục vụ nghiên cứu
phù hợp tình hình sản xuất của phòng kỹ thuật.
- Chịu khó quan sát, tư duy, học hỏi cán bộ, các kỹ thuật viên của Trung tâm.
-Tham gia trực tiếp và nhiệt tình các hoạt động nghiên cứu và sản xuất
của phòng.
-Tích cực học hỏi kinh nghiệm của các anh chị cán bộ trong phòng.
- Tích cực, hăng làm việc, luôn luôn học hỏi, rèn luyện tay nghề xác định
động lực làm việc, không ngại khó khăn vất vả.
- Luôn luôn giám sát, theo dõi tình hình chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý
dịch bệnh và xử lý kịp thời khi xảy ra.
- Làm việc cẩn thận, nghiêm túc và có tinh thần trách nhiệm, tinh thần
làm việc cao bảo đảm cho nhu cầu sản xuất.
10
- Thường xuyên học hỏi, xin ý kiến cán bộ của trung tâm. Luôn theo dõi và
bám sát tình hình thực tế.
- Xác định các yếu tố liên quan, ảnh hưởng đến nội dung đề tài nghiên
cứu, công việc sản xuất và trong quá trình nuôi dưỡng chăm sóc để từ đó có
biện pháp hợp lý hoàn thành tốt nội dung công tác phục vụ sản xuất.
1.3. Kết quả phục vụ sản xuất
Trong thời gian thực tập tôi được sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn, các
cán bộ, công nhân viên của Trung tâm giống thuỷ sản cấp I Bắc Giang tạo
điều kiện cho tôi có kiến thức thực tế.Và đã thu được kết quả như sau:
1.3.1. Công tác cải tạo lại ao nuôi
Được thực hiện theo quy trình của sơ đồ dưới đây:
Phơi ải (3 ngày)
Tháo nước vào ngâm
Sử dụng
- pH đất cao thì
lượng vôi ít
- pH đất thấp thì vôi
nhiều hơn bình
thường
11
-Kết quả thu được trong công tác cải tạo ao:
+Cải tạo được 2 ao B1,B2 để ghép giai rô phi bố mẹ với tổng diện tích
3600 m
2
.
+ Cải tạo được 4 ao B3, A1, A2, A3 để thả cá bột rô phi với tổng diện
tích 7200 m
2
.
+ Cải tạo ao C1 để thả Rô đầu vuông với diện tích 1800 m
2
.
1.3.2. Cho cá chép đẻ
- Kỹ thuật sinh sản cá chép
+ Chọn cá chép
Chọn cá cái có bụng mềm, phần phụ sinh dục màu hồng. Hạt trứng rời nhau,
căng đều, màu sáng trắng.
Cá đực được chọn là những cá thể khi vuốt nhẹ bụng gần phần phụ sinh dục
+ Đợt 1 (24/02/2012): Cho đẻ 46 cặp với tổng khối lượng cá cái 107,2 kg
thu được 2,05 triệu cá bột.
+ Đợt 2(27/02/2012): Cho đẻ 26 cặp với tổng khối lượng cá cái 136,3kg
thu được 2,85 triệu cá bột.
+ Đợt 3 (01/03/2012): Cho đẻ 46 cặp với tổng khối lượng cá cái 192,8 kg
thu được 4,79 triệu cá bột.
1.3.3. Cho cá trắm cỏ sinh sản
-Kỹ thuật cho cá trắm cỏ sinh sản
+ Chọn cá trắm cỏ
Chọn cá cái có bụng mềm, phần phụ sinh dục màu hồng. Hạt trứng rời
nhau, căng đều, màu sáng trắng.
Cá đực được chọn là những cá thể khi vuốt nhẹ bụng gần phần phụ sinh
dục thấy có sẹ màu trắng sữa.
+ Kích dục tố
Kích dục tố là LRH-A kết hợp với DOM. Cá cái được tiêm kích dục tố 2 lần.
Lần 1 tiêm 1/4- 1/5 lượng thuốc cần tiêm, sau khoảng 6 đến 8 giờ tiêm
hết số thuốc còn lại. Cá đực chỉ tiêm 1 lần, trước khi tiêm lần 2 cho cá cái
khoảng 2 giờ.
+Sau khi tiêm xong thả cá bố mẹ vào bể cho cá sinh sản quan sát tới khi
cá đẻ trứng rồi dùng vợt cho vào bể vòng thu trứng rồi chuyển trứng vào bể
vòng để ấp trứng.
-Kết quả thu được:
+ Đợt 1 (10/05/2012): Cho đẻ 6 cặp với tổng khối lượng cá cái 23 kg và
thu được 1,1 triệu cá bột.
+ Đợt 2 (28/05/2012): Cho đẻ 9 cặp với tổng khối lượng cá cái 41,5 kg
và thu được 2,5 triệu cá bột.
13
1.3.4. Cho cá rô đầu vuông đẻ
- Kỹ thuật cho cá rô đầu vuông sinh sản
Cho cá
chép đẻ
24/02/2012
1
46 cặp
107,2
2,05
27/02/2012
2
26 cặp
136,3
2,85
01/03/2012
3
46 cặp
192,8
4,79
Cho cá trắm
cỏ đẻ
10/05/2012
1
6 cặp
23
1,1
28/05/2012
2
9 cặp
41,5
2,5
Cho cá Rô
Qua bảng kết quả công tác phục vụ sản xuất cho thấy trong công tác
sản xuất của trung tâm bao gồm rất nhiều mảng khác nhau song kết quả đạt
được vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân là do:
- Thời gian thực tập có hạn.
- Trình độ tay nghề còn kém.
Vì vậy, tôi đã đi sâu tìm hiểu những kỹ thuật và làm việc, học hỏi
những kinh nghiệm của các cán bộ công nhân kỹ thuật tại trung tâm để nâng
cao hơn nữa những hiểu biết nghề nghiệp cũng như nâng cao trình độ tay
nghề cho bản thân và cũng đã thu được một số kết quả sau:
- Nắm được kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi, cá chép,
- Gắn kết được lý thuyết đã học vào thực tế sản xuất.
- Tiếp cận được với những tiến bộ khoa học mới.
- Học hỏi được cách giao tiếp, ứng xử không chỉ trong công việc mà
còn cả trong cuộc sống hằng ngày.
- Biết được cách phòng và điều trị một số bệnh cho đàn cá bố mẹ, cho cá
giống, trong quá trình ấp trứng, đặc biệt là các bệnh thường sảy ra khi xử lý
cá rô đơn tính ở 21 ngày tuổi.
- Hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp của mình.
1.4.2. Đề nghị
- Mỗi một mảng công việc riêng của trung tâm như: mảng chuyên cá rô
đầu vuông, mảng chuyên cá rô phi, cần có những kỹ sư chuyên về mảng đó
để đạt được hiệu quả cao hơn trong công việc.
- Nâng cấp lại hệ thống ao mương đang bị rò rỉ.
- Bỏ bớt lớp bùn đáy ao quá dày để giảm bớt lượng khí độc tích tụ ở
đáy ao.
- Cần trang bị thêm một số dụng cụ phục vụ trong quá trình sản xuất.
- Phải luôn luôn kiểm soát dịch bệnh, chất lượng nước trong các hoạt
động nuôi trồng thủy sản, định kỳ kiểm tra các chỉ tiêu lý hóa học của môi
trường nuôi.
16
nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I đã tiếp thu công nghệ xử lý cá rô phi đơn
tính đực bằng hormone, từ Học Viện Công nghệ châu Á. Phương pháp xử lý
bằng hoocmone vừa dễ áp dụng hiệu quả lại cao tỷ lệ đực đạt tới 95% - 100%
(Nguyễn Tường Anh, 2005) [1], chất lượng con giống ổn định.Vì vậy, tôi tiến
hành thực hiện đề tài:“Đánh giá khả năng chuyển đổi giới tính trên cá rô phi
bằng hormone 17α- Metyltestosteroltại Trung tâm giống thủy sản cấp I
Bắc Giang”
2.1.2. Mục tiêu của đề tài
- Tiếp cận kiến thức từ thực tế để củng cố kinh nghiệm cho bản thân.
- Thành thạo qui trình sản xuất giống cá rô phi đơn tính đực bằng
hormone 17α- Metyltestosterol.
2.2. Tổng quan tài liệu
2.2.1. Cơ sở khoa học
2.2.1.1. Đặc điểm sinh học
* Vị trí phân loại Hình 2.1. Cá Rô phi vằn Oreochromis niloticus
Bộ cá vược: Perciformes
Bộ phụ: Percoidae
Họ: Cichlidae
Giống:Oreochromis
Loài: O. niloticus
Cá rô phi có tên gọi chung của khoảng 80 loài cá và căn cứ vào đặc
điểm sinh sản, các nhà nghiên cứu đã phân loại thành 3 giống chính.
17
Bảng 2.1. Đặc điểm sinh sản và những loài rô phi quan trọng trong nuôi
* Môi trường sống
Do có nguồn gốc ở châu Phi nên khả năng chịu lạnh của cá rô phi kém
hơn so với khả năng thích nghi ở nhiệt độ cao. Cá rô phi có thể chịu đựng
được ở nhiệt độ 40
0
C và chết nhiều khi nhiệt độ xuống dưới 10
0
C (Capili,
1995) [16].
Cá rô phi là loài rộng muối, có khả năng sống được trong môi trường
nước sông, suối, đập tràn, hồ ao nước ngọt, nước lợ và nước mặn từ 0 - 40‰.
Môi trường có pH từ 6,5 - 8,5 là thích hợp cho sự phát triển và sinh
trưởng của cá rô phi.
Hàm lượng oxy thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá rô phi
từ 5- 8 mg/lit.
18
* Đặc điểm dinh dưỡng
Tính ăn của cá rô phi thay đổi theo từng loài, từng giai đoạn phát triển
và môi trường nuôi. Khi còn nhỏ cá rô phi ăn sinh vật phù du như tảo và
động vật phù du nhỏ là chủ yếu. Khi trưởng thành, cá ăn mùn bã hữu cơ lẫn
các loại tảo lắng ở đáy ao, ăn ấu trùng côn trùng, thực vật thuỷ sinh
(KhoaThuỷ sản trường Đại học Cần Thơ, 1994) [13]. Tuy nhiên trong nuôi
công nghiệp cá cũng ăn các loại thức ăn chế biến từ cá tạp, cua, ghẹ, ốc, bột
cá khô, bột ngô, bột sắn, khoai lang, cám mịn, bã đậu tương, bã lạc.
Trong tự nhiên cá rô phi chủ yếu kiếm mồi vào ban ngày, cá có thể bắt
mồi hầu hết các giờ trong ngày. Ruột cá rô phi thích nghi với việc thu nhận
thức ăn từng ít một. Do vậy trong quá trình nuôi hoặc chuyển giới tính đực
cần phải chia lượng thức ăn thành nhiều lần trong ngày sẽ thuận lợi cho việc
theo dõi thức ăn thừa, quản lý được chất lượng nước và giai xử lý đơn tính
bị bệnh nên hao nhiều tỷ lệ sống chỉ đạt được khoảng 10 - 30%.
Bảng 2.2. Phân biệt cá đực, cá cái qua các đặc điểm hình thái
Đặc điểm
Cá đực
Cá cái
Đầu
To và nhô cao
Nhỏ, hàm dưới trề do ngậm
trứng và con
Màu sắc
Vây lưng và vây đuôi có
màu sắc sặc sỡ
Màu nhạt hơn
Lỗ sinh dục
2 lỗ: Lỗ niệu sinh dục
và lỗ hậu môn
3 lỗ: Lỗ niệu, lỗ sinh dục, lỗ
hậu môn
Hình dạng huyệt
Đầu thoát lỗ niệu sinh
dục dạng lồi, hình nón
dài và nhọn
Dạng tròn hơi lồi và không
nhọn như cá đực
Hình 2.2. Hình ảnh cá đực và cá cái
20
Dựa vào phương pháp giải phẫu tuyến sinh dục: Khi cá đạt cỡ 3-5 gam,
mổ lấy tuyến sinh dục sau đó nhuộm dung dịch Aceto-Carmin, dùng kính hiển
Philippine, Đài Loan, Brazil và Việt Nam ứng dụng. Phương pháp ngâm bằng
hormone triển khai tại miền Bắc Việt Nam chỉ mang tính nghiên cứu khoa học
chứ không áp dụng vào thực tế được vì thời tiết miền bắc thay đổi thất thường
không ổn định nên hiệu quả chuyển giới tính không cao, nhất là thời điểm đầu
vụ xuân và cuối vụ thu. Phương pháp trộn hormone với thức ăn cho thấy ổn
định về chuyển giới tính đực nhưng đầu vụ xuân và cuối vụ thu tỷ lệ sống còn
quá thấp không đạt như mong muốn.
- Tạo quần đàn đơn tính đực bằng lai giữa hai loài thuộc giống
Oreochromis một số nước như Israel, Đài Loan, Trung Quốc đã và đang ứng
dụng một số công thức lai cho quần đàn đơn tính đực.
-Tạo cá đơn tính đực bằng cá siêu đực (YY) cho sinh sản với cá cái
thường cho phép tạo một lượng lớn cá giống trong cùng một thời gian.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi, trên thế giới có khoảng 80 loài cá
thuộc ba giống: Tilapia, Sarotherodon và Oreochromis, nắm trong họ
Cichlidae, bộ phụ Percoidae thuộc bộ cá vược Perciformes. Cá rô phi được du
nhập và nuôi rộng rãi ở hơn một trăm nước trên thế giới (Tilapia Culture,
1994) [22] và là một trong những nhóm cá được nghiên cứu kỹ nhất phục vụ
cho nuôi trồng thuỷ sản.
Mặc dù được nuôi và khai thác ở hơn một trăm nước nhưng sản lượng
cá rô phi của thế giới chỉ tập chung ở hơn 10 nước, trong đó Trung Quốc, Ai
Cập, Thái Lan, Philippin, Đài Loan, Indonesia đang là những nước đứng đầu
thế giới về sản lượng rô phi nuôi (Rana K, 2001) [21].
Trung Quốc chỉ mới phát triển nuôi cá rô phi từ giữa thập niên 80 của
thế kỷ trước. Tuy nhiên, chỉ sau hơn một thập kỷ Trung Quốc đã trở thành
nước sản xuất rô phi số một thế giới với sản lương nuôi 1999 đạt 562.000 tấn
(FAO,2004) [24], chiếm 51% sản lượng cá nuôi trên thế giới và chỉ nuôi một
loài rô phi O.niloticus.
23
đã tiến hành chương trình chọn giống dòng cá này, nhằm làm tăng sức sinh
trưởng và khả năng chịu lạnh. Sau ba năm thực hiện, đến năm 2000 đã chọn
được đàn cá rô phi có sức sinh trưởng cao hơn 16,6% so với đàn cá dòng
GIFT thường (Nguyễn Công Dân và ctv, 2000) [5]. Chương trình chọn giống
này vẫn đang được tiến hành ở Viện NCNTTS 1.
Từ năm 2000 đến nay dòng GIFT chọn giống đã được công nhận là ưu
việt và được phát tán nuôi trong cả nước. Trong năm 2002, Viện NCNTTS 1
đã cung cấp hơn 70 vạn cá GIFT giống thế hệ con giống thứ 3 cho 25 tỉnh để
nuôi dưỡng thành cá bố mẹ, sản xuất giống cung cấp cho người nuôi. Cùng
với chương trình chọn giống, công nghệ điều khiển giới tính cá rô phi đã được
áp dụng thành công tại Viện NCNTTS 1. Công nghệ sản xuất giống cá rô phi
đơn tính đực bằng hormone 17α- Metyltestosterone, thu trứng trong giai thưa
được Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 nhập từ Học Viện công nghệ
châu Á. Công nghệ tương đối đơn giản, dễ áp dụng kết quả ổn định, tạo đàn
cá có tỷ lệ đực đạt 95 - 100%, trong điều kiện quản lý và chăm sóc tốt.
Trước năm 2000, cá rô phi chưa được trú trọng phát triển và vẫn được
coi là loài cá nuôi thứ yếu trong cơ cấu đàn cá nuôi nước ngọt. Gần đây cá rô
phi đã phát triển nhanh ở một số tỉnh miền Bắc như Hà Nội, Hải Dương,
Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang. Khu vực phía phía Nam cá rô phi được nuôi
chủ yếu trong lồng bè trên sông Tiền và sông Hậu.
Từ năm 2002, phong trào nuôi cá rô phi đang có xu hướng phát triển
mạnh, góp phần làm tăng nhanh sản lượng cá nuôi và tăng tỷ trọng xuất khẩu
thuỷ sản từ nuôi nước ngọt. Nuôi cá rô phi trong nước lợ là biện pháp giúp cải
tạo môi trường ao nuôi, đặc biệt là những vùng nuôi có nguy cơ ô nhiễm và
suy thoái cao (Phạm Anh Tuấn, 1998) [11]. Tuy nhiên, trên thực tế người sản
xuất đang dùng nhiều loài cá rô phi tạp giao có chất lượng thấp. Ở các tỉnh
miền Bắc nuôi cá rô phi còn ở mức độ phân tán, chưa tổ chức được vùng nuôi
tập trung, thiếu sự gắn kết giữa người nuôi cá và thị trường tiêu thụ, đặc biệt
- Sinh trưởng của cá bột
- Tỷ lệ chuyển đổi giới tính
25
2.3.4. Phương pháp nghiên cứu
2.3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu
Quy trình sản xuất cá rô phi đơn tính đực 21 ngày tuổi bằng hormone
17α- Metyltestosterone Hình 2.3. Sơ đồ quy trình sản xuất cá rô phi đơn tính đực 21 ngày tuổi
* Tuyển chọn và nuôi vỗ cá bố mẹ
- Chuẩn bị ao
Ao nuôi vỗ cá bố mẹ được chuẩn bị theo tiêu chuẩn ngành: 28TCN - 64 – 79.
+ Ao cho cá bố mẹ sinh sản và thu trứng trực tiếp có mực nước sâu từ
0,8-1,0m.
+ Diện tích từ 500 - 800 m
2
.
+ Mật độ cá bố mẹ nuôi trong ao khoảng 2 - 4 con/m
2.
.
- Tuyển chọn cá bố mẹ