Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ 4
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGẮN HẠN
VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại 7
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại 7
1.1.2 Vai trò của tín dụng ngắn hạn trong Ngân hàng thương mại 8
1.1.3 Đặc điểm của tín dụng ngắn hạn trong Ngân hàng thương mại 11
1.2 Chất lượng tín dụng và tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng
thương mại 12
1.2.1 Khái niệm về chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại 12
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại 14
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại
19
1.2.4 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại 26
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG
TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA 31
2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa 31
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công thương – Chi nhánh Đống
Đa 31
2.1.2 Bộ máy tổ chức của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa 36
2.1.3 Khái quát tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Công thương – Chi nhánh Đống Đa
giai đoạn 2010 – 2012 39
2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng Công thương – Chi nhánh Đống Đa
48
2.2.1. Tình hình huy động vốn ngắn hạn tại chi nhánh 48
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
DANH MỤC VIẾT TẮT
STT Viết tắt Diễn giải
1 TMCP Thương mại cổ phần
2 NHNN Ngân hàng Nhà nước
3 NHTM: Ngân hàng thương mại
4 XHCN: Xã hội chủ nghĩa
5 VietinBank
:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
6 NSNN: Ngân sách Nhà nước
7 XNK: Xuất nhập khẩu
8 CPI: Chỉ số gía tiêu dùng
9 DN: Doanh nghiệp
10 FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
11 GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
12 ADB: Ngân hàng phát triển Châu Á
SV: Lê Thị Loan Lớp: Tài chính Công 51
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ
1. Bảng:
Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn từ các nguồn huy động (2010 – 2012) 42
Bảng 2: Giá trị và tỷ trọng nợ vay theo kỳ hạn của chi nhánh
(2010 - 2012) 44
Bảng 3: Thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ 46
Bảng 4: Huy động vốn ngắn hạn qua các năm 48
Bảng 5: Hoạt động tín dụng ngắn hạn tại NHCT Đống Đa năm 2010 - 2012 50
Bảng 6: Doanh số cho vay và doanh số thu nợ qua năm 2010 – 2012 51
ổn định và bền vững thì đòi hỏi hệ thống NHTM Việt Nam cần tiếp tục đổi
mới hơn nữa.
Hòa nhịp đổi mới hệ thống ngân hàng Việt Nam. Chi nhánh Đống Đa
thuộc Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam cũng có những đổi mới đáng
khích lệ. Tuy nhiên, nhìn vào kết quả hoạt động trong những năm gần đây có
thể thấy một số vấn đề phải khắc phục trong thời gian tới, đó là tình trạng dư
nợ tín dụng ngắn hạn tăng trưởng chưa nhiều, hiệu suất sự dụng vốn giảm, nợ
xấu gia tăng, nợ quá hạn mới còn phát sinh, tình trạng khoanh nợ chiếm tỉ
trọng cao trong tổng nợ quá hạn. Để bắt kịp với sự đổi mới thì nâng cao chất
lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh Đống Đa là điều hết sức cần thiết để
chi nhánh phát triển vững chắc.
SV: Lê Thị Loan Lớp: Tài chính Công 51
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
Xuất phát từ hoàn cảnh phát triển nền kinh tế và thực trạng hoạt động
tín dụng của chi nhánh Đống Đa, em đã nghiên cứu và tìm hiểu về tình hình
hoạt động tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam –
Chi nhánh Đống Đa với đề tài: “Nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa” với mong
muốn tìm hiểu và đưa ra một vài giải pháp về vấn đề này.
Mục đích nghiên cứu
• Góp phần hoàn thiện những lý luận cơ bản về chất lượng tín dụng
ngắn hạn của Ngân hàng thương mại.
• Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa, từ đó đánh giá kết quả
đạt được cũng như hạn chế và tìm ra những nguyên nhân của hạn chế này.
• Đóng góp giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đống Đa.
• Kết cấu của chuyên đề:
Chương I: Tổng quan về tín dụng ngắn hạn và chất lượng tín dụng
việc cung ứng Tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng chiếm phần lớn tín dụng của
NHTM. NHTM cũng cung cấp Tín dụng trung và dài hạn cho khách hàng, tuy
nhiên loại hình tín dụng này tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn. Vậy tín dụng ngắn hạn là
gì và tại sao lại cho rằng nó có độ an toàn cao hơn các loại hình tín dụng khác.
Thực tế, tín dụng ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn từ 1 năm trở
xuống và được sử dụng chủ yếu để bù đắp sự thiếu hụt về vốn lưu động của
doanh nghiệp, các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân.
Theo quyết định 324 của Thống đốc NHNN Việt Nam, tín dụng ngắn
hạn là hình thức mà tổ chức tín dụng cho khách hàng vay ngắn hạn nhằm đáp
ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Thời hạn đối
SV: Lê Thị Loan Lớp: Tài chính Công 51
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
với TDNH được thỏa thuận tối đa là 12 tháng,được xác định phù hợp với chu
kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng .
Tín dụng ngắn hạn có độ an toàn cao hơn là do khi cung cấp tín dụng
ngắn hạn, ngân hàng có thể dự kiến, kiểm soát khoản cho vay của mình dễ
dàng hơn so với việc dự kiến, kiểm soát tín dụng trung và dài hạn nếu trong
trường hợp nền kinh tế có nhiều biến động về kinh tế, thị trường, chính sách,
…
Thứ hai, quy mô tín dụng ngắn hạn thường nhỏ hơn rất nhiều so với
quy mô tín dụng trung và dài hạn, do đó thời gian Ngân hàng thu hồi vốn sẽ
nhanh hơn vốn có thể quay vòng nhiều hơn. Và giả sử có xảy ra tổn thất thì
tín dụng ngắn hạn Ngân hàng thường chịu tổn thất ít hơn do quy mô của tín
dụng ngắn hạn thường không lớn như cho vay trung và dài hạn.
Thứ ba, thường thì tín dụng ngắn hạn hay tín dụng trung và dài hạn đểu
phải có tài sản đảm bảo, trong thời gian ngắn thì việc quản lý tài sản đảm bảo
sẽ dễ dàng hơn trong thời gian dài do biến động giá cả của thị trường, hao
mòn của tài sản.
Tóm lại, tín dụng ngắn hạn sẽ ít rủi ro hơn và an toàn hơn so với tín
thi, lợi nhuận đủ cao để có thể trả nợ ngân hàng. Ngoài ra, doanh nghiệp
muốn có được vốn vay ngân hàng thì phải hoàn thiện năng lực tổ chức quản
lý sản xuất kinh doanh để đảm bảo kinh doanh có hiệu quả. Thêm vào đó,
trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng tín dụng, ngân hàng sẽ thực hiện quy
trình giám sát, kiểm tra, kiểm soát trong và sau khi cho vay, thông qua việc
làm đó ngân hàng giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn của doanh nghiệp, buộc
các doanh nghiệp phải thực hiện đúng những điều khoản như đã thoả thuận
trong hợp đồng, sử dụng vốn đúng mục đích để đem lại hiệu quả cao nhất
• Đối với doanh nghiệp: Vốn vẫn luôn là vấn đề gây khó khăn nhất
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của họ, tình trạng thiếu vốn của các
doanh nghiệp là phổ biến và nghiêm trọng. Do vậy, Thông qua các hoạt động
cho vay của mình ngân hàng đã đảm bảo cho các doanh nghiệp nói chung,
doanh nghiệp nhà nước nói riêng không chỉ duy trì sản xuất kinh doanh mà
còn tái sản xuất mở rộng.
SV: Lê Thị Loan Lớp: Tài chính Công 51
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
• Tín dụng ngắn hạn bổ sung vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tín dụng ngắn hạn là hình thức tốt nhất để đáp ứng nhu cầu vốn lưu
động hoặc sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp bởi tính
linh hoạt của nó. Tín dụng ngắn hạn không chỉ còn là nguồn vốn bổ sung nữa
mà đã dần trở thành một nguồn vốn chủ yếu, quan trọng trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Tín dụng ngắn hạn giúp cho các doanh
nghiệp không bỏ lỡ thời vụ làm ăn, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh liên
tục, quá trình lưu thông được thông suốt, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
trong toàn xã hội.
Mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao
chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh được thị trường để
thực hiện được các khoản đầu tư đó doanh nghiệp không chỉ cần có vốn lưu
nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện
cơ chế quản lý kinh tế, chế độ hạch toán kế toán, mà còn phải không ngừng
cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi sử dụng vật liệu mới,
mở rộng qui mô sản xuất một cách thích hợp. Những hoạt động này đòi hỏi
một khối lượng lớn vốn đầu tư nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự có của
doanh nghiệp. Giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp có thể tìm đến ngân
hàng xin vay vốn thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình. Thông qua hoạt động tín
dụng, ngân hàng là chiếc cầu nối doanh nghiệp với thị trường, nguồn vốn tín
dụng ngắn hạn cấp cho các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, giúp doanh
nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường, theo kịp với nhịp độ phát triển chung, từ
đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.
1.1.3 Đặc điểm của tín dụng ngắn hạn trong Ngân hàng thương mại
• Lãi suất thường thấp: Lãi suất cho vay được hiểu khoản chi phí mà
người đi vay phải trả để có quyền sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của
người cho vay.Chính vì rủi ro mang lại của khoản vay thường không cao nên
lãi suất ngắn hạn thường thấp hơn so với lãi suất trung, dài hạn. Vốn tín dụng
ngắn hạn mà Ngân hàng cấp cho khách hàng thường được khách hàng dùng
SV: Lê Thị Loan Lớp: Tài chính Công 51
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
để mua nguyên vật liệu, trả lương, bổ sung vốn lưu động nên số vốn vay
thường là nhỏ.
• Rủi ro tín dụng ngắn hạn thường thấp: Do khoản vay chỉ được cung
cấp trong thời gian ngắn nên ít chịu ảnh hưởng bởi sự biến động của nền kinh
tế như tín dụng trung và dài hạn .
• Thời gian thu hồi vốn nhanh, vòng quay vốn tín dụng lớn: Vốn tín
dụng ngắn hạn thường được sử dụng để bù đắp những thiếu hụt trong ngắn
hạn như đảm bảo cân bằng ngân quỹ, đối phó với chênh lệch thu chi ngắn
hạn,…Thông thường những thiếu hụt này chỉ mang tính tạm thời hay mang
ngân hàng, hay chất lượng tín dụng là kết quả tổng hợp của những thành tựu
hoạt động tín dụng thể hiện ở sự phát triển ổn định, vững chắc của nền kinh tế
quốc dân
Chất lượng tín dụng có thể được nhìn nhận dưới các góc độ kinh tế
khác nhau, từ phía ngân hàng, từ phía doanh nghiệp, từ phía nền kinh tế.
• Từ phía doanh nghiệp : Do nhu cầu vốn vay được đáp ứng để doanh
nghiệp thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh bù đắp được chi phí sản
xuất, trả nợ ngân hàng và có lãi nên chất lượng tín dụng ngân hàng đứng trên
giác độ doanh nghiệp chỉ đơn giản là thỏa mãn nhu cầu vay vốn của doanh
nghiệp và làm cho đồng vốn sử dụng có hiệu quả.
• Từ phía ngân hàng : Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi mức độ,
giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực
của bản thân ngân hàng, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi .
• Xét từ góc độ nền kinh tế – xã hội : Tín dụng ngân hàng phản ánh sự
năng động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế thị trường. Tín dụng phải
huy động mức tối đa vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế xã hội để
cung ứng cho các doanh nghiệp, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển.
Chất lượng tín dụng thể hiện ở tính an toàn cao của hệ thống ngân
hàng. Tín dụng ngân hàng đảm bảo được chất lượng thì khả năng thanh toán
chi trả cao, tránh được rủi ro hệ thống. Nâng cao chất lượng tín dụng làm cho
hệ thống ngân hàng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu quản lí kinh tế vĩ mô, thúc
đẩy nền kinh tế phát triển hòa nhập với cộng đồng quốc tế.
SV: Lê Thị Loan Lớp: Tài chính Công 51
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
Tóm lại, chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể vừa trừu
tượng, là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp. Để có chất lượng tín dụng thì hoạt
động tín dụng phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải được thiết lập trên cơ
sở sự tin cậy và uy tín của ngân hàng. Hiểu đúng bản chất và phân tích, đánh
giá đúng chất lượng tín dụng, cũng như xác định chính xác các nguyên nhân
ước lượng được.Do vậy khi đánh giá chất lượng tín dụng người ta thường sử
dụng kết quả từ việc phân tích này
Doanh số cho vay ngắn hạn:
Đây là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàng đối với
nền kinh tế, là chỉ tiêu phản ánh về hoạt động cho vay trong một thời gian dài,
cho thấy được khả năng hoạt động tín dụng qua các năm. Do đó nếu kết hợp
doanh số cho vay của các thời kỳ liên tiếp thì có thể thấy được xu hướng hoạt
động tín dụng của NHTM.
Tổng dư nợ ngắn hạn:
Chỉ tiêu này phản ánh khối lượng tiền cấp cho nền kinh tế tại một thời
điểm nhất định. Tổng dư nợ bao gồm: cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài
hạn. Tổng dư nợ thấp chứng tỏ ngân hàng không có khả năng mở rộng được
mạng lưới khách hàng, hoạt động tín dụng kém, khả năng tiếp thị khách hàng
kém, không sử dụng được nguồn lực sẵn có….Tuy nhiên, điều đó cũng không
có nghĩa là tỷ lệ này càng cao thì chất lượng hoạt động tín dụng càng tốt bởi
lẽ khi ngân hàng cho vay vượt quá mức giới hạn cũng là lúc ngân hàng bắt
đầu chấp nhận những rủi ro về tín dụng. Chỉ tiêu tổng dư nợ phản ánh quy mô
tín dụng của ngân hàng đồng thời đây cũng là chỉ tiêu phản ánh uy tín của
ngân hàng. Khi so sánh tổng dư nợ của ngân hàng với thị phần tín dụng của
ngân hàng sẽ cho ta biết được dư nợ của ngân hàng là cao hay thấp.
• Tỷ lệ nợ quá hạn:
Theo điều 10 của Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của
Thống đốc NHNN, các khoản nợ được phân loại như sau:
Nợ nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn
Nợ nhóm 2: Nợ cần chú ý
SV: Lê Thị Loan Lớp: Tài chính Công 51
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
Nợ nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn
Nợ nhóm 4: Nợ nghi ngờ
khó, khoản vốn của ngân hàng lúc này không còn là rủi ro nữa mà đã gây thiệt
hại cho ngân hàng. Đây là kết quả trực tiếp biểu hiện chất lượng của khoản tín
dụng cấp cho khách hàng. Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao chứng tỏ chất
lượng tín dụng của ngân hàng là rất thấp và lúc này cần xem xét toàn bộ hoạt
động tín dụng của mình nếu không hậu quả khó lường trước được.
• Hiệu suất sử dụng vốn
Hiệu quả sự dụng vốn vay = Tổng dư nợ cho vay / Tổng nguồn vốn huy
động x100
Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cho ta biết trong một đồng vốn huy động
được thì bao nhiêu đồng được sử dụng để cho vay. Đây là chỉ tiêu để phản
ánh quy mô, khả năng tận dụng nguồn vốn trong cho vay của các NHTM.
Hiệu suất sử dụng càng cao thì hoạt động kinh doanh ngày càng hiệu quả và
ngược lại.
• Vòng quay vốn tín dụng ngắn hạn
Vòng quay vốn tín dụng = Doanh thu thu nợ / Dư nợ bình quân
Đây chỉ là chỉ tiêu đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và
đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Hệ này phản ánh vòng chu chuyển của vốn
tín dụng , vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ nguồn vốn vay của ngân
hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông
hàng hóa. Với số vốn nhất định, nhưng nếu vòng quay vốn tín dụng nhanh thì
ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầu vốn của các doanh nghiệp và có vốn
để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác. Như vậy, hệ số này càng tăng nhanh
thì tình hình tổ chức vốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng càng cao.
• Chỉ tiêu mức sinh lời của tín dụng ngắn hạn:
Mức sinh lời của tín dụng = Thu nhập từ tín dụng / Dư nợ cho vay bình
quân x 100%
Chỉ tiêu này đánh giá hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh của
ngân hàng. Chi tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được trên một đồng tín
dụng. Mức sinh lời cao cho thấy hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao. Nhất
SV: Lê Thị Loan Lớp: Tài chính Công 51
điều lệ và cấc quĩ, tỉ lệ nợ quá hạn nhỏ hơn hoặc bằng 5% tổng dư nợ
SV: Lê Thị Loan Lớp: Tài chính Công 51
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
Các nhóm chỉ tiêu trên có được thực hiện hay không là tùy thuộc vào ý
thức chấp hành thể lệ tín dụng, qui trình kĩ thuật cho vay.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngắn hạn của
Ngân hàng thương mại
Kinh doanh tín dụng Ngân hàng là nghề kinh doanh tiền tệ, liên quan
đến hầu hết mọi ngành, mọi lĩnh vực, mọi yếu tố kinh tế xã hội và luôn chứa
đựng nhiều rủi ro. Chất lượng và hiệu qủa tín dụng ngắn hạn bị ảnh hưởng bời
nhiều nhân tố như các nhân tố thuộc về phía Ngân hàng, các nhân tố thuộc về
khách hàng, các nhân tố khách quan, chủ quan khác,…
• Các nhân tốc thuộc về NHTM
Chiến lược kinh doanh của NHTM
Bất cứ một doanh nghiệp nào muốn kinh doanh có hiệu quả thì phải
đưa ra được một chiến lược kinh doanh đúng đắn, kinh doanh tín dụng ngắn
hạn của Ngân hàng cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trong chiến lược kinh
doanh các nhà quản lý đề ra các định hướng, nguyên tắc hoạt động, các mục
tiêu cần đạt và phương pháp tiến hành, nó được cụ thể hóa bằng các kế hoạch
hoạt động. Nếu không có chiến lược, các Ngân hàng sẽ rơi vào tính thế bị
động, không biết giải quyết như thế nào với những tình huống bất ngờ xảy ra.
Một chiến lược kihn doanh hiệu quả sẽ giúp Ngân hàng có một phương hướng
phát triển nhất quán, giúp cho Ngân hàng khai thác tốt nhất năng lực có của
Ngân hàng và đồng thời nó giúp cho Ngân hàng có thể thích ứng một cách
nhanh chóng với những biến động của môi trường kinh doanh. Trên cơ sở
chiến lược kinh doanh đúng đắn, Ngân hàng mới có những kế hoạch đúng đắn
cho các bộ phận trong từng thời kỳ để đảm bảo thực hiện mục tiêu đề ra,
trong đó có bộ phận tín dụng. Một chất lượng tín dụng đúng đắn trên cơ sở là
một chiến lược kinh doanh phù hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng tín
thành công hay thất bại của dự án đầu tư.
Thẩm định dự án đầu tư giúp Ngân hàng phần nào dự báo được hiệu
quả tài chính và tính khả thi của từng dự án để có thể chọn lọc được các cơ
hội đầu tư tốt, có hiệu quả, có khả năng thu hồi vốn và do đó có thể hạn chế
SV: Lê Thị Loan Lớp: Tài chính Công 51
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
được rủi ro phát sinh. Cũng từ việc thẩm định, Ngân hàng có thể tham gia góp
ý cho chủ đầu tư, đồng thời làm cơ sở để xác định số tiền vay vốn, thời gian
cho vay, mức thu lợi hợp lý, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động có
hiệu quả, trái lại, việc thẩm định kém có thể dẫn đến một quyết định cho vay
sai lầm, ảnh hưởng rất lớn đến cả Ngân hàng, chủ đầu tư, thậm chí toàn xã
hội. Đặc biệt là các khoản tín dụng ngắn hạn thường có quy mô đầu tư lớn
diễn ra trong một thời gian dài luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn không
lường trước được, việc thẩm định kém sẽ gây ra những hậu quả vô cùng
nghiêm trọng. Do vậy, làm tốt công tác thẩm định tín dụng, Ngân hàng sẽ lựa
chọn được những khách hàng tốt và dự án đầu tư có hiệu quả cao. Là điều
kiện để nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng.
• Nhân tố thuộc về khách hàng
Khách hàng là người trực tiếp nhận các khoản tín dụng của Ngân hàng,
do đó trong các yếu tổ ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân
hàng không thể không tính đến các yếu tố thuộc về phía khách hàng. Kinh
doanh tín dụng, Ngân hàng luôn đi liền với hoạt động kinh doanh của khách
hàng, yếu kém của khách hàng sẽ tác dụng trực tiếp ngay đến chất lượng, hiệu
quả của tín dụng Ngân hàng, chất lượng tín dụng ngắn hạn ít nhiều phụ thuộc
vào các nhân tố thuộc về phía khách hàng.
Năng lực thị trường của doanh nghiệp
Năng lực thị trường của doanh nghiệp biểu hiện ở khối lượng sản phẩm
tiêu thụ, vị trí của doanh nghiệp trên thị trường, khả năng phát triển của lĩnh
vực mà doanh nghiệp đang hoạt động, mối quan hệ với các bạn hàng đối tác,…
trình sản xuất, tổ chức bán hàng,…nghiên cứu năng lực sản xuất của doanh
nghiệp giúp Ngân hàng đánh giá được khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường
về chất lượng, giá cả, khả năng sinh lời và khả năng mở rộng sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. biểu hiện cụ thể và rõ nét nhất của năng lực sản xuất
là doanh nghiệp phải sản xuất ổn định và có lãi. Điều đó tạo điều kiện cho
doanh nghiệp trả nợ gốc và lãi ngắn hạn cho Ngân hàng theo đúng quy định
trong hợp đồng tín dụng, đảm bảo chất lượng tín dụng.
Quyền sở hữu tài sản và khả năng đáp ứng các biện pháp đảm bảo
SV: Lê Thị Loan Lớp: Tài chính Công 51
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
Khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng của doanh nghiệp sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Bởi vì nếu khách
hàng không đáp ứng được các điều kiện của Ngân hàng thì ngân hàng không
thể cho vay, điều đó làm giảm khối lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng
nhưng không ảnh hưởng gì tới chất lượng của khoản tín dụng. Mặt khác, khi
khách hàng gặp rủi ro thì Ngân hàng có thể thu hồi được phần nào vốn nhờ
thanh lý tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, đó chỉ là tính thế bắt buộc, không Ngân
hàng nào muốn thu hồi nợ thông qua tài sản đảm bảo. Nhờ có tài sản đảm bảo
mà Ngân hàng có thể hạn chế bớt rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng.
• Nhân tố khách quan
Môi trường kinh tế
Chu kỳ kinh tế:
Có ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng tín dụng của một ngân hàng. Cụ
thể, khi một nền kinh tế đang tăng trưởng, thu nhập dân cư tăng, dẫn đến tiết
kiệm tăng và ngân hàng dễ dàng hơn trong việc huy động vốn, ngoài ra, khi
thu nhập tăng thì tiêu dùng dân cư tăng, nhu cầu về các sản phẩm xã hội tăng,
nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp tăng, ngân hàng có khả năng mở rộng
tín dụng và chất lượng của các khoản tín dụng sẽ được nâng lên. Ngược lại,
khi nền kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, khi đó chất lượng
Môi trường quốc tế:
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay thì hội nhập kinh tế quốc tế là điều
tất yếu đối với bất kỳ quốc gia nào. Những năm qua, Việt Nam đã từng bước
hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, đó là Hiệp định AFTA, hiệp
định thương mại Việt- Mỹ, và gia nhập WTO,…Hội nhập kinh tế quốc dân,
bên cạnh cơ hội cho các ngân hàng trong nước tiếp cận với công nghệ hiện
đại, phong cách làm việc,văn hóa kinh doanh, cách thức quản lý và áp lực
cạnh tranh với các tập đoàn tài chính khổng lồ của thế giới. Vấn đề đặt ra với
các ngân hàng là phải phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, nâng cao
năng lực tài chính, và quan trọng hơn cả là nâng cao chất lượng tín dụng để
tồn tại và phát triển.
• Nhân tố chủ quan
SV: Lê Thị Loan Lớp: Tài chính Công 51
24
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
Chính sách tín dụng:
Chính sách tín dụng là hệ thống các chủ trương đường lối, các quy định
hướng cho hoạt động tín dụng của các ngân hàng, nhằm sử dụng một cách có
hiệu quả nhất nguồn vốn để tài trợ cho khách hàng theo quy định của NHNN
Việt Nam.
Bất cứ một ngân hàng nào muốn có chất lượng tín dụng tốt cũng đều
phải có chính sách tín dụng khoa học, phù hợp với thực tế của ngân hàng
cũng như của thị trường. Chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút khách hàng
và đảm bảo khả năng sinh lời. Chính sách tín dụng xây dựng thiếu chặt chẽ,
thiếu đồng bộ và không hợp lý rất dễ bị các cán bộ tín dụng lợi dụng để gian
lận, ảnh hưởng xấu tới chất lượng tín dụng. Có thể nói, chính sách tín dụng là
kim chỉ nam hướng dẫn mọi hoạt động của các cán bộ tín dụng trong công tác
tín dụng, quyết định chất lượng tín dụng ngân hàng.
Quy trình tín dụng:
Quy trình tín dụng là tập hợp các quy định, nguyên tắc của ngân hàng