Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng, phát triển và các yếu tố cấu thành năng suất của một số giống ngô nếp trồng vụ đông 2011 tại phường đồng xuân phúc yên vĩnh phúc - Pdf 30

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thúy K34D – Sinh KTNN
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đƣợc đề tài nghiên cứu, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc
tới thầy giáo T.S Nguyễn Đình Thi và Th.S Dƣơng Tiến Viện cùng các thầy
cô trong tổ bộ môn, tới gia đình và bạn bè là những ngƣời đã tạo điều kiện tốt
nhất cho em trong quá trình tiến hành nghiên cứu và hoàn thành đề tài.
Do còn hạn chế về kinh nghiệm và thời gian nên không tránh khỏi nhiều
thiếu sót. Vì vậy em mong nhận đƣợc sự góp ý của thầy cô giáo, các bạn sinh
viên để đề tài của em đƣợc hoàn chỉnh hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên

Trần Thị Thúy

Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thúy K34D – Sinh KTNN

NỘI DUNG
Trang
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô trên thế giới và Việt Nam
1.2. Nguồn gốc, phân loại và đặc tính của cây ngô nếp
1.3. Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô nếp trên thế giới và Việt
Nam
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên
2.3. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu.
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Các giai đoạn sinh trƣởng phát triển của các giống ngô nếp lai
3.2. Đặc điểm hình thái của các giống ngô nếp lai
3.3. Một số đặc trƣng hình thái bắp của các giống ngô nếp lai
3.4. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống ngô
nếp lai



35
38
38
39
40
Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐHSP Hà Nội 2
Trần Thị Thúy K34D – Sinh KTNN

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Tên bảng
1

MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Ngô là một loại ngũ cốc quan trọng cùng với lúa mì và lúa gạo là ba
cây lƣơng thực chính cổ nhất, phổ biến rộng, có năng suất cao và giá trị lớn
của loài ngƣời.
Cây ngô có tên khoa học là Zeamays Linneaeus thuộc chi Maydea họ
hòa thảo Gramineae (hoặc Poacea). Theo Vavilop (1926) và những nhà khoa
học khác, ngô bắt nguồn từ Mêhico và tổ tiên hoang dại của ngô chính là
teosin. Các kết quả khảo cổ, sự phân bố các nòi ngô và các bằng chứng khác
(nhất là cấu trúc di truyền ADN) đã chứng minh điều đó [6].
Là cây lƣơng thực, giàu dinh dƣỡng hơn lúa mì và lúa gạo, góp phần
nuôi sống gần 1/3 dân số trên toàn thế giới. Sản lƣợng sản xuất ngô ở thế giới
trung bình hàng năm từ 696,2 đến 732,3 triệu tấn (năm 2005 - 2007). Sản
lƣợng ngô xuất khẩu trên thế giới trung bình hàng năm từ 82,6 đến 86,7 triệu
tấn. Đến năm 2007 theo USDA diện tích ngô đã vƣợt qua lúa gạo, với 157
triệu ha, sản lƣợng đạt kỷ lục với 766,2 triệu tấn (theo FAOSTAT, USDA
2008). Nguyên nhân chính dẫn đến việc tăng nhanh năng suất và sản lƣợng
ngô trên thế giới trong thời gian qua, trƣớc hết là do đời sống kinh tế toàn cầu
có sự tăng trƣởng mạnh mẽ, từ đó nhu cầu về sản phẩm ngô cũng tăng theo.
Nhƣng quan trọng hơn là trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển
khoa học công nghệ chung và trong ngành nông nghiệp nói riêng, việc ứng
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã mang lại những kết quả to

thời vụ đƣợc giải quyết, thị trƣờng tiêu thụ lại sẵn có. Thậm chí ngô nếp còn
đƣợc coi nhƣ một trong những giải pháp cho vùng thiên tai bão lũ, hạn hán
cần loại cây trồng cực ngắn này, để nhanh chóng giải quyết các khó khăn
trƣớc mắt cho bà con nông dân. Với các ƣu thế trên diện tích ngô nếp ngày

3

càng đƣợc tăng lên trong những năm gần đây. Chính vì vậy, chúng tôi chọn
nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng, phát
triển và các yếu tố cấu thành năng suất của một số giống ngô nếp trồng vụ
đông 2011 tại phường Đồng Xuân - Phúc Yên - Vĩnh Phúc”.
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu ảnh hƣởng của thời vụ đến sinh trƣởng phát triển và tình hình
sâu bệnh hại của một số giống ngô nếp trồng trong vụ đông 2011 tại Vĩnh
Phúc.
1.2.2. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá một số đặc điểm sinh trƣởng, phát triển và các yếu tố cấu
thành năng suất, năng suất một số giống ngô nếp lai.
- Đánh giá khả năng chống chịu của các giống theo phƣơng pháp
chuẩn.
- Chọn ra những giống có triển vọng.
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Theo dõi, đánh giá ảnh hƣởng của thời vụ trồng đến các chỉ tiêu sinh
trƣởng phát triển và năng suất của các giống ngô nếp mới, là một công đoạn
quan trọng trong quá trình chọn tạo giống ngô mới. Qua đó các nhà chọn
giống biết đƣợc chính xác đặc tính của từng giống trong thời vụ và đƣa ra
hƣớng sử dụng thích hợp.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

2008, ngô thế giới đạt kỷ lục cả ba chỉ tiêu: diện tích 161,0 triệu ha, năng suất
51,1 tạ/ha, sản lƣợng 822,7 triệu tấn.

5

Bảng 1.1. Diện tích, năng suất, sản lƣợng ngô của thế giới giai đoạn
1961-2010
Năm
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lƣợng
(triệu tấn)
1961
104,8
1,9
204,2
2004
145,0
4,9
714,8
2005
145,6
4,8
696,3
2006
148,6
4,7
704,2

tích đa dạng di truyền, phân nhóm ƣu thế lai, tạo giống chịu hạn, chuyển gen

6

chống chịu vào các dòng thuần có khả năng kết hợp cao Đó là cơ sở tạo ra
những giống tốt góp phần tăng nhanh năng suất ngô trên thế giới.
Công tác nghiên cứu lai tạo giống ngô hiện nay đang có bƣớc chuyển
biến mới đó là ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo dòng thuần.
Trong những năm gần đây việc nghiên cứu tạo ra những dòng đơn bội kép
(Double Halpoid - DH), dòng thuần một cách nhanh chóng tiết kiệm đƣợc
hơn nửa thời gian so với việc tạo dòng bằng phƣơng pháp thông thƣờng (Ngô
Hữu Tình, 1999) [8].
Theo Ngô Hữu Tình thì 21% sản lƣợng ngô thế giới đƣợc dùng làm
lƣơng thực, 71% đƣợc dùng làm thức ăn chăn nuôi. Ở các nƣớc phát triển
phần lớn sản lƣợng ngô đƣợc dùng cho chăn nuôi: Thái Lan 96%, Bồ Đào
Nha 91%, Mỹ 76%, Trung Quốc 76%,
Trong những năm gần đây cây trồng biến đổi gen đặc biệt là cây ngô
mang lại những lợi ích ổn định và bền vững kinh tế, môi trƣờng, làm tăng sản
lƣợng nông nghiệp, cải thiện đời sống ngƣời dân cho nên ngày nay càng đƣợc
nhiều quốc gia ủng hộ và phát triển. Diện tích trồng cây biến đổi gen trên toàn
cầu năm 2004, có 81 triệu ha cây trồng biến đổi gen, trong đó ngô kháng sâu
đục thân và kháng thuốc trừ cỏ có 19,3 triệu ha (chiếm 24%). Diện tích trồng
ngô chuyển gen lớn nhất ở Mỹ, năm 2005 diện tích đƣợc trồng bằng giống
đƣợc tạo ra bằng công nghệ sinh học chiếm 52%, năng suất ngô nƣớc Mỹ đạt
hơn 10 tấn/ha trên diện tích 30 triệu ha. Năm 2007, diện tích trồng ngô
chuyển gen trên thế giới đã đạt 35,5 triệu ha riêng ở Mỹ đã lên đến 29 triệu
ha chiếm 77% trong tổng số hơn 37,9 triệu ha ngô của nƣớc này. Năm 2009,
diện tích đạt 134 triệu ha trên tổng số 25 quốc gia, trong đó diện tích trồng
ngô biến đổi gen đạt 42,0 triệu ha trên tổng số 16 quốc gia và nƣớc Mỹ có
năng suất ngô đạt hơn 10,34 tấn/ha trên diện tích 32,21 triệu ha (USDA,
8

1.1.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô ở Việt Nam
Cây ngô đƣợc đƣa vào Việt Nam từ cuối thế kỷ 17 (Ngô Hữu Tình,
1997) [6] và đã trở thành cây lƣơng thực quan trọng đứng thứ 2 sau lúa nƣớc.
Song với nền canh tác quảng canh và chủ yếu dùng ngô đá và ngô nếp địa
phƣơng, năng suất thấp nên đầu những năm 1980 vẫn chỉ đạt khoảng 1,1
tấn/ha. Thông qua sự hợp tác của CIMMYT, Việt Nam đã chọn tạo và đƣa
vào sản xuất một loạt giống thụ phấn tự do nhƣ VM1, HSB1, TH2A, TSB1,
TSB2, MSB49, Q2, CV1 đã đƣa năng suất trung bình của nƣớc ta lên 1,5
tấn/ha vào đầu những năm 1990. Nghề trồng ngô ở nƣớc ta thực sự có bƣớc
đột phá khi chƣơng trình phát triển ngô lai thành công.
Trong giai đoạn 1991- 1995: nghiên cứu lai tạo, chọn lọc bộ giống ngô
mới có thời gian sinh trƣởng khác nhau, thích hợp với cơ cấu mùa vụ, các
vùng sinh thái trong nƣớc, chống chịu các điều kiện bất thuận, có năng suất
cao phẩm chất tốt. Giai đoạn này chủ yếu là các giống ngô lai không quy ƣớc:
LS-3, LS-5, LS-6, LS-7, LS-8 Bộ giống lai này gồm những giống chín sớm,
chín trung bình, chín muộn, cho năng suất từ 3 - S7 tấn/ha và đã đƣợc mở
rộng trên phạm vi toàn quốc. Mỗi năm diện tích gieo trồng ngô tăng trên 800
ha, làm tăng năng suất trên 1 tấn/ha so với giống thụ phấn tự do (Viện nghiên
cứu ngô, 1992) [10].
Tiếp đến là những thành công trong công tác nghiên cứu giống lai quy
ƣớc, trong một thời gian ngắn các nhà nghiên cứu ngô đã tạo ra hàng loạt các
giống tốt cho năng suất cao từ 7 - 10 tấn/ha nhƣ LVN10, LVN4, LVN17,
LVN25, LVN99 các giống này không thua kém các giống của công ty nƣớc
ngoài về năng suất và chất lƣợng.
Năng suất ngô ở Việt Nam những năm 1960 - 1970 đạt 0,8 - 1 tấn/ha,
với diện tích chƣa đến 300 nghìn ha đến đầu những năm 1980 năng suất cũng
10

Bảng 1.2. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 1990-2010
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(nghìn tấn)
1990
431,8
15,5
671,0
1995
556,8
21,3
1184,2
2000
730,2
27,5
2005,9
2005
1052,6
36,0
3787,1
2006
1033,1

ngô, tiếp theo đó là kỹ thuật nuôi cấy bao phấn và tạo đƣợc một số dòng có
triển vọng nhƣ C156N, C7N, V27, V164, C152N Phần lớn các dòng thuần ở

11

viện đã đƣợc phân nhóm ƣu thế lai, giúp định hƣớng chọn tạo giống lai có
hiệu quả nhanh.
Nhƣ vậy, việc kết hợp giữa phƣơng pháp chọn tạo giống truyền thống
và công nghệ sinh học bƣớc đầu đã thu đƣợc một số kết quả có ý nghĩa và đây
là một trong những điều kiện góp phần đƣa năng suất ngô nƣớc ta lên trung
bình 5,5 đến 6,0 tấn/ha vào năm 2020.
2.2. Nguồn gốc, phân loại và đặc tính của cây ngô nếp
Porcher Michel H và cộng sự cho biết ngô nếp đã đƣợc phát hiện ở
Trung Quốc từ năm 1909, cây này biểu hiện tình trạng khác thƣờng. Các nhà
tạo giống ở Mỹ một thời gian dài sử dụng các tính trạng này là chỉ thị những
gen ẩn trong các quá trình chọn tạo giống ngô. Năm 1922 các nhà nghiên cứu
đã phát hiện nội nhũ của ngô nếp chỉ chứa amylopectin và không có amylose,
ngƣợc lại ngô thƣờng có chứa cả hai. Đến tận đại chiến thế giới thứ II nguồn
amylopectin chính là từ sắn nhƣng khi ngƣời nhật cung cấp các dòng ngô nếp
thì amylopectin đƣợc sử dụng từ ngô nếp.
Những nghiên cứu gần đây đã có những phát hiện về nguồn gốc cây
ngô nhƣ Rong - linwang, Adrian stec, Jody Hey, Lewis Lukens và John
Doebly, 1999 cho rằng ngô đƣợc thuần hóa từ loài cỏ mexican hoang dại
teosinte (Zeamays ssp. Parviglumis hoặc ssp mexicana). Những bằng chứng
khảo cổ học chứng minh rằng thời gian thuần hóa ngô vào khoảng 5000 đến
10000 năm trƣớc đây, mặc dù nguồn gốc gần đây của ngô từ teosinte điển
hình có nhánh cờ dài trên đỉnh bông cờ trong khi ngô có nhánh cờ ngắn bằng
bắp. Phân tích di truyền nhận thấy rằng teosinte branched 1 (tb1) nhƣ một gen
tƣơng hợp rộng điều khiển sự khác biệt này.
Các nhà giả thuyết cho rằng ngô nếp có nguồn gốc Đông Nam Á mà

Ngƣời ta cho rằng năng suất ngô nếp ƣu thế lai cũng nhƣ ngô có chất
lƣợng protein cao có năng suất giảm đi so với bình thƣờng. Nhƣng những

13

giống nếp lai và các giống nếp thƣờng khi nấu chín có độ dẻo, mùi vị thơm
ngon, giá trị dinh dƣỡng cao. Chính vì vậy, ngày nay ngô nếp góp phần không
nhỏ trong đời sống con ngƣời, nó đƣợc sử dụng làm lƣơng thực và thức ăn
chăn nuôi gia súc, gia cầm. Một số nƣớc Châu Á đang sử dụng thông dụng
nhƣ: Hàn Quốc, Philippin, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam và nhiều quốc
gia khác.
Tuy vậy, việc trồng ngô nếp không đơn giản nhƣ trồng ngô tẻ. Trong
những năm gần đây khi nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học và kỹ thuật
canh tác của ngô nếp trƣờng đại học Pennsylvania State University nghiên
cứu kỹ thuật trồng ngô nếp cho rằng: trồng ngô có tinh bột hoàn toàn là không
dễ dàng vì gen sáp là gen lặn. Nhƣ vậy, việc trồng ngô nếp phải cách ly với
ngô thƣờng ít nhất 20 năm. Nếu trồng lẫn một số cây ngô thƣờng trên khu
ruộng hoặc khu sản xuất có thể làm thay đổi ngay cả cách ly tốt và trong chọn
lọc hạt hoặc hạt ngô nếp đã thay đổi do trôi dạt di truyền. Chất lƣợng của ngô
nếp cao hơn hạt ngô thƣờng nhƣ Callins cho biết cao hơn khoảng 16%, độ ẩm
hạt ngô nếp cao hơn xấp xỉ 1% nhƣng khá biến động nhƣ Gallais nghiên cứu
độ ẩm hạt tinh bột ngô nếp cao hơn ngô thƣờng 2 - 3%.
1.3. Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô nếp trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô nếp trên thế giới
Sự xuất hiện phát sinh của ngô nếp bình thƣờng nhƣ những thực vật
khác trên trái đất nhƣ lúa nếp, kê và lúa mì là kết quả của chọn lọc nhân tạo
với mục đích làm lƣơng thực, đặc biệt với ngƣời dân Châu Á các giống cây
ngũ có có nội nhũ sáp đƣợc tiêu dùng và sử dụng đặc thù. Nội nhũ sáp đầu
tiên có thể xảy ra do trôi dạt di truyền, gen nội nhũ sáp có tần suất thấp ở
Châu Mỹ nhƣng có tần suất cao ở Châu Á.

nguồn ngô nếp đột biến tự nhiên hay nhân tạo nhƣ donnor. Ngoài ra, các nhà
khoa học cũng rất quan tâm đến nguồn gen cây ngô địa phƣơng trong đó có

15

nguồn gen ngô nếp phục vụ tạo giống. Từ nguồn vật liệu ban đầu, thông qua
tự phối và chọn lọc cá thể, dựa vào nội nhũ và các đặc tính nông sinh học
khác để tạo ra dòng nếp thuần. Để tạo các đồng đẳng ngô nếp từ nguồn ngô
thƣờng, ngƣời ta cho lai ngô nếp và ngô thƣờng sau đó tiến hành lai lại và
kiểm tra bằng phân tích hạt qua phản ứng với dung dịch KI. Bằng cách này,
các nhà khoa học đã tạo ra khá nhiều dòng và giống nếp lai mới. Chúng đƣợc
trồng cách ly với các loại ngô khác để đảm bảo chất lƣợng (Theo Tomob).
Ngƣời ta cho rằng ngô nếp ƣu thế lai cũng nhƣ ngô chất lƣợng protein
cao, năng suất giảm đi so với ngô ƣu thế lai thƣờng và giả thuyết cho rằng
tích lũy mật độ hạt tinh bột thấp, nội nhũ mềm và khối lƣợng hạt thấp hơn.
Năm 1990 mục tiêu chƣơng trình tạo giống ngô nếp ƣu thế lai và ngô có chất
lƣợng protein của Argentina đƣợc bắt đầu và sau đó một vài dòng thuần đƣợc
phát triển và thử khả năng phối hợp giữa các dòng tự phối tốt nhất và vụ ngô
năm 2001/2002 một số tổ hợp lai đƣợc thử nghiệm. Số tổ hợp phân thành ba
nhóm:
- Ngô nếp ƣu thế lai
- Ngô chất lƣợng protein cao
- Tổ hợp lai kép cải thiện tinh bột của ngô chất lƣợng protein
Những thử nghiệm mới đã đƣợc thực hiện ở nhiều điểm đã nhận đƣợc
những kết quả ngạc nhiên với những lai đơn mới trên cơ sở lựa chọn dòng bố
mẹ tự phối thuần nhƣ trên dã cho năng suất cao, cải thiện tinh bột, chất lƣợng
protein và thích nghi tốt.
Mặc dù đã trải qua thời gian rất dài nhƣng việc sản xuất ngô nếp
thƣơng mại vẫn gặp rất nhiều vấn đề: thiếu những dạng đối chứng cho những
dạng ngô đặc biệt tiềm năng cho năng suất cao của các giống ngô nếp lai nhìn

Bắc.

17

Theo các nghiên cứu phân loại ngô địa phƣơng ở Việt Nam tập trung
chủ yếu vào hai loài phụ chính là đá rắn và ngô nếp. Ngô nếp đƣợc phân bố ở
khắp các vùng trong cả nƣớc, với nhiều dạng màu khác nhau: trắng, vàng,
tím, nâu, đỏ Hiện nay, tại viện nghiên cứu ngô đã thu thập đƣợc và lƣu giữ
148 mẫu ngô nếp địa phƣơng. Trong đó 111 nguồn nếp trắng, 15 nguồn nếp
vàng, 22 nguồn nếp tím, nâu, đỏ (Nguyễn Thị Nhài, 2005) [4].
Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc trên thế giới, những nghiên cứu chủ yếu
vẫn là ngô tẻ, các nghiên cứu về ngô nếp rất hạn chế. Cho tới nay, chỉ có một
số công trình đƣợc công bố:
Viện khoa học kỹ thuật Việt Nam dùng phƣơng pháp chọn lọc chu kỳ
từ tổ hợp lai giữa hai giống nếp tổng hợp nhập nội từ Philippin đã tạo ra giống
nếp trắng ngắn ngày S - 2, năng suất trung bình 20 - 26 tạ/ha, đƣợc công nhận
năm 1989.
Tác giả Ngô Hữu Tình và Nguyễn Thị Lƣu [7] đã chọn thành công
giống nếp trắng tổng hợp đƣợc công nhận giống quốc gia năm 1989, giống
này có thời gian thích ứng rộng, đƣợc trồng khá phổ biến ở miền Bắc.
Các tác giả Ngô Hữu Đống, Phan Đức Trực, Nguyễn Văn Cƣơng ở
viện di truyền nông nghiệp và Ngô Hữu Tình ở viện nghiên cứu ngô đã gây
đột biến bằng tia gama, kết hợp với xử lý Diethyoulphat ở ngô nếp thu đƣợc
một số dòng biến dị có các đặc tính nông sinh học quý so với giống ban đầu
(Nguyễn Hữu Đống và cộng sự, 1997) [1].
Tác giả Phan Xuân Hào và cộng sự đã chọn tạo thành công giống ngô
nếp trắng VN2, đƣợc công nhận giống quốc gia năm 1997. VN2 đƣợc chọn
tạo từ các giống ngô nếp ngắn ngày, năng suất khá, chất lƣợng tốt, có nguồn
gốc khác nhau: nếp Tây Ninh, nếp Quảng Nam - Đà Nẵng, nếp Thanh Sơn -
Phú Thọ và nếp S - 2 từ Philippin. Đây là giống ngắn ngày, chất lƣợng dinh


19

CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Gồm 4 giống ngô do Viện nghiên cứu ngô Trung ƣơng cung cấp: NL1,
NL5, NL9 và giống Wax44 (giống đối chứng) đƣợc gieo trồng trên địa bàn
phƣờng Đồng Xuân - Phúc Yên - Vĩnh Phúc.
Giống ngô nếp lai W44 đƣợc công nhận chính thức từ năm 2006 và
đƣợc bảo hộ bản quyền từ năm 2008 [13].
- Chủ bảo hộ: Công ty TNHH Sygenta Việt Nam.
- Những đặc tính chủ yếu:
Wax44 có thời gian sinh trƣởng ngắn 58 - 66 ngày, có độ đồng đều rất
cao, cây cao 2 - 2,2m, thân mập, sinh trƣởng khỏe, chiều cao đóng bắp 65 -
75cm, chiều dài bắp 15 - 18cm, trọng lƣợng trung bình 300 - 350 g/bắp, khả
năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận tốt, khả năng phục hồi sau
ngập úng rất nhanh, bị nhiễm bệnh đốm lá, ít bị khô vằn, thối thân, cháy lá, gỉ
sét.
- Hƣớng sử dụng và yêu cầu kỹ thuật:
Có thể trồng đƣợc nhiều vụ trong năm trên chất đất chủ động tƣới tiêu.
Nhƣợc điểm của Wax44 là nếu thu già thì ăn hơi rắn, vì thế cần chú ý thu
hoạch khi râu ngô chuyển sang thâm râu nhƣng vẫn còn tƣơi. Tùy điều kiện
thời tiết, mùa vụ để tiến hành thu hoạch khi ngô phun râu đƣợc 16 - 20 ngày.
2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm tại phƣờng Đồng Xuân - Phúc Yên - Vĩnh Phúc.
2.2.2. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu ở vụ ngô đông từ tháng 9/2011 - 1/2012.

Trích đoạn Bố trí thí nghiệm Các chỉ tiêu theo dõ KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status