ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
[TRẦN THỊ THU HIỀN TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT CỦA
PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI TRẦN
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 03 01 LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học
: GS.TS. NGUYỄN HÙNG HẬU
Hà Nội – 2014
LỜI CẢM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
Trần Thị Thu Hiền
MỤC LỤC
LỜI CẢM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 7
Chương 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT CỦA PHẬT GIÁO
VIỆT NAM THỜI TRẦN 7
1.1. Một vài nét về Phật giáo và tư tưởng giải thoát trong Phật giáo 7
1.1.1. Một vài nét về Phật giáo 7
1.1.2. Tư tưởng giải thoát của Phật giáo và vị trí của nó trong giáo lý Phật giáo
20
1.2. Cơ sở hình thành tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần. 25
1.2.1. Cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội để hình thành tư tưởng giải thoát Phật
giáo Việt Nam thời Trần. 25
1.2.2 Cơ sở văn hóa, tư tưởng hình thành tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt
Nam thời Trần 29
Tổng kết chương 1: 32
Chương 2: NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT CỦA PHẬT
GIÁO VIỆT NAM THỜI TRẦN 33
2.1. Nội dung tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần 33
2.1.1. Chủ thể, phương tiện, cách thức giải thoát 33
2.1.2. Mục đích của giải thoát 47
2.2. Đặc điểm tư tưởng giải thoát của Phật giáo Việt Nam thời Trần. 48
2.2.1. Giải thoát là gắn liền với tư tưởng nhập thế cứu đời, không xa rời cuộc
sống. 48
2.2.2. Giải thoát gắn liền với cứu nước, cứu dân, đánh đuổi quân xâm lược,
giải phóng dân tộc. 62
2.2.3. Giải thoát gắn liền với ổn định trật tự xã hội và phát triển đất nước. 71
Để giải thoát con người đã sử dụng rất nhiều phương cách khác nhau, nhưng
tựu chung lại có hai khuynh hướng cơ bản : Khuynh hướng thứ nhất là đấu tranh
hướng ngoại với việc trống lại mọi áp bức, bất công trong xã hội, cải tạo thực tiễn,
chinh phục tự nhiên, tự giải thoát mình khỏi chính những trói buộc, rào cản trong
hiện thực cuộc sống để đi tới sự phát triển. Khuynh hướng thứ hai là hướng nội,
quay về trực diện bản tâm, với quá trình thực nghiệm tâm linh và trau dồi đạo đức,
2
trí tuệ đi tới sự giải thoát. Tuy nhiên dù theo khuynh hướng nào thì cũng đòi hỏi
con người luôn phải cố gắng nỗ lực hết mình mới đi tới sự giải thoát. Do môi
trường sống với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử khác nhau, cùng với nhân tố chủ quan
và yếu tố khách quan khác nhau mà con đường giải thoát của mỗi con người, mỗi
quốc gia dân tộc lại có sự khác nhau. Chính sự khác biệt đó đã tạo nên những đặc
thù riêng biệt trong mỗi cá nhân con người cũng như mỗi quốc gia dân tộc và thậm
trí trong mỗi giai đoạn, thời kỳ lịch sử xã hội cũng có sự khác nhau.
Nhìn lại chặng đường phát triển của lịch sử Việt Nam, đó là chặng đường
dài với những trang sử hào hùng vẻ vang, nhưng cũng đầy gian khổ trong những
cuộc chiến tranh xây dựng và bảo vệ, phát triển đất nước. Tuy nhiên người Việt Nam
với ý chí, nghị lực, bản lĩnh phi thường, đã không ngừng nỗ lực đấu tranh để giải thoát
mình, giải phóng dân tộc khỏi mọi khổ đau của những ách áp bức, bóc lột nô dịch của
các thế lực ngoại xâm để tiến tới sự phát triển. Thời đại nhà Trần chính là một minh
chứng điển hình tiêu biểu.
Giai đoạn nhà Trần, đây là giai đoạn đã để lại trong lịch sử dân tộc một thời
kỳ vàng son với những thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, bảo vệ, phát
triển đất nước. Triều đại nhà Trần, một giai đoạn có khá nhiều những biến động
trong lịch sử với những bước ngoặt mang tính đột phá, điều này thể hiện ngay cả
trong sự ra đời của nhà Trần và sự chuyển giao quyền lực chính trị giữa hai tộc
quyền Lý - Trần. Rồi những thắng lợi vĩ đại trong lịch sử, ba lần đánh thắng quân
Nguyên Mông và các thế lực xâm lược, đã khiến tinh thần Đông A hừng hực khí
thế, đưa dân tộc bước vào một kỷ nguyên mới của độc lập tự chủ phát triển. Không
những thế vua quan nhà Trần không chỉ là “Vua minh, binh hùng tướng mạnh” oai
vệ, xây dựng, phát triển đất nước thời bấy giờ. Nói tới Phật giáo thời Trần cũng đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học. Tựu chung lại tác giả tạm chia thành
bốn nhóm:
Nhóm thứ nhất nghiên cứu Phật giáo Việt Nam thời Trần dưới góc độ lịch
sử, gồm có: “Việt Nam Phật Giáo Sử Lược” của tác giả Thích Mật Thể (Tổng hội
tăng ni Bắc Việt, Hà Nội, 1942); “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Tài
Thư(Nxb. Khoa học xã hội, 1988); “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn
Lang(Nxb. Văn học, Hà Nội, 1992) “Lược sử Phật giáo Việt Nam” của Thích Minh
4
Tuệ(Thành hội Phật giáo Tp Hồ Chí Minh, 1993); “Lịch sử Phật giáo Việt Nam của
Lê Mạnh Thát(Nxb Thuận hóa, Huế, 1999); “Thuyết Trần- Sử nhà Trần” của Trần
Xuân Sinh(Nxb Hải Phòng, 2006) Các công trình này chủ yếu nghiên cứu Phật
giáo thời Trần dưới góc độ lịch sử trong sự hình thành và phát triển của Phật giáo
Việt Nam.
Nhóm thứ hai nghiên cứu Phật giáo thời Trần dưới góc độ tôn giáo bao gồm
các tác phẩm như “Tư tưởng Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Duy Hinh(Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1999); “Thiền học đời Trần” của nhóm tác giả Thích Thanh Từ,
HT.Thích Minh Tuệ, TT Thích Phước Sơn, Minh Chi, Trần Lê Nghĩa, Nguyễn Thế
Đăng, Ngô Văn Lệ (Nxb Tôn giáo, Hà Nội) Các tác phẩm này đi sâu vào nghiên cứu,
phân tích những tư tưởng Phật giáo thời Trần trên lập trường tôn giáo.
Nhóm thứ ba nghiên cứu Phật giáo thời Trần dưới góc độ triết học như tác
phẩm “Lịch sử triết học” của GS, TS Nguyễn Hữu Vui( Nxb Chính trị Quốc Gia
HN, 2004; “Đại cương lịch sử triết học Việt Nam” của GS, TS Nguyễn Hùng
Hậu(Nxb.Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2010) Cùng với rất nhiều các tác phẩm, các
bài báo và các công trình nghiên cứu khoa học khác của nhiều tác giả được in ấn và
đăng trên các tạp chí Tôn giáo, Triết học cũng đề cập tới tư tưởng Phật giáo thời
Trần. Những công trình này đã nêu ra được những vấn đề mang tính triết học trong tư
tưởng của Phật giáo Việt Nam thời Trần cùng vai trò, sự ảnh hưởng của nó trong sự
phát triển xã hội thời bấy giờ.
Nhóm thứ tư nghiên cứu Phật giáo thời Trần thông qua tư tưởng của các
5. Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Cơ sở lý luận:
+ Cơ sở lý luận của luận văn là trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin.
+ Những luận giải của các nhà nghiên cứu về tư tưởng Phật giáo Việt Nam.
- Cơ sở thực tiễn: Luận văn dựa trên sự khảo sát những tư liệu lịch sử, các
công trình nghiên cứu khoa học về thời Trần cùng văn hóa Phật giáo Việt Nam và
thơ văn thời Trần.
6. Phương pháp nghiên cứu
-Về phương pháp luận chung: Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử.
-Về phương pháp cụ thể bao gồm có :
+ Phương pháp lịch sử cụ thể.
6
+ Phương pháp phân tích – tổng hợp.
+ Phương pháp văn bản học, các tư liệu lịch sử.
+ Phương pháp nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học.
+ Phương pháp logic – lịch sử.
+ Phương pháp khái quát hóa – trừu tượng hóa.
7. Đóng góp của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu cho việc nghiên cứu và giảng dạy triết học và
các công trình nghiên cứu tôn giáo học, góp phần trang bị thế giới quan khoa học
cho sự nhận thức và vận dụng trong thực tiễn của con người.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu nghiên cứu tham khảo, nội
dung luận văn gồm 2 chương 4 tiết.
7
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT CỦA
PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI TRẦN
thông qua một hệ thống các Kinh tạng, Luật, Luận, tạo nền móng vững chắc cho
Đạo Phật, đưa Đạo Phật trở thành một hệ thống tôn giáo – triết học lớn, có ảnh
hưởng to lớn ở Ấn Độ, và từ đó lan ra khắp các quốc gia, khu vực trên của thế giới.
Khi du nhập vào các quốc gia, khu vực khác nhau, Phật giáo được chia thành
nhiều tông phái với những hình thức tu tập khác nhau, trong đó có ba tông phái cơ
bản là Tịnh độ tông, Mật tông, Thiền tông.
Đạo Phật cũng được chia thành hai trường phái : Tiểu thừa và Đại thừa:
Phái Tiểu thừa, theo Phật giáo đó là cỗ xe nhỏ, thực hiện hình thức tu tập,
giải thoát theo Phật giáo nguyên thủy, mang tính cá nhân.
Phái Đại thừa, là ‘cỗ xe lớn’, với lối tu tập, giải thoát mang tính đại chúng và
có sự cải biến. Phái Đại thừa chủ chương cứu mình, cứu người dựa trên tư tưởng tha
nhân “từ bi, cứu khổ, cứu nạn, phổ độ chúng sinh”, dưới sự tương hỗ trợ lực lẫn
nhau giữa hàng ngũ tăng ni Phật tử và các tín đồ, cùng với tha lực, sự gia hộ của
Phật, các thiên nhân, nhờ hình thức tu tập tụng kinh, niệm Phật, ăn chay, giữ giới.
Tư tưởng Phật giáo được thể hiện trong những quan điểm về thế giới quan và
nhân sinh quan. Trong đó chủ yếu đề cập tới vấn đề nhân sinh quan khi đi sâu vào
lý giải về cuộc đời con người cùng những nguyên nhân nỗi khổ trong cuộc đời con
người, qua đó chỉ ra con đường cách thức diệt khổ, giúp con người có được sự an
lạc trong cuộc sống. Với những tư tưởng mang đậm tính nhân văn sâu sắc, Phật giáo
ngày càng phát triển và có sự ảnh hưởng lớn tới con người và các quốc gia, khu vực
trên thế giới, trở thành một tôn giáo lớn của thế giới.
b, Nội dung tư tưởng Phật giáo
Tư tưởng của Phật giáo được thể hiện trong hệ thống kinh điển đồ sộ, gồm
ba bộ phận gọi là Tripitaka (Tam tạng) bao gồm:
Kinh tạng (Sutra) là những lời Đức Phật thuyết pháp được ghi chép lại
Luật tạng(Vinaya) là các giới luật mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo
9
Luận tạng(Sastra), là các tác phẩm luận giải các vấn đề Phật giáo của các
cao tăng, học giả.
Về thê giới quan, Phật giáo quan niệm bản chất sự tồn tại của thế giới là “vô
hình thành các yếu tố thất tình lục dục “hỷ, nộ, ai, lạc, ái, ố” trong trạng thái tâm lý
với cảm giác hạnh phúc hay đau khổ, vui, buồn, giận hờn, tức giận, ai oán, do tâm
chịu tác động ngoại cảnh. Hai thành phần ấy là kết quả của tan - hợp, hợp - tan từ
Ngũ uẩn, nên nó cũng vô thường, chỉ là ảo ảnh, phù du.
Với quan điểm cuộc đời con người là kiếp sống nhân sinh đầy đau khổ ‘đời
là bể khổ’, Đức Phật nói “Nước mắt chúng sinh trong ba ngàn thế giới, tích lại còn
nhiều hơn nước ngoài bốn bể"
Để lý giải cuộc đời con người và nổi khổ con người, Đức Phật đã đề ra Tứ
Diệu Đế, đó là bốn chân lý tuyệt diệu về cuộc sống con người, bao gồm: Khổ Đế;
Nhân Đế; Diệt Đế; Đạo Đế.
Khổ đế: là các nỗi khổ của con người phải ghánh chịu. Theo quan điểm của
Phật giáo, con người sinh ra đã khổ và cuộc sống con người là khổ. Nỗi khổ của con
người được tóm lược trong “bát khổ” - là 8 nỗi khổ cơ bản mà con người phải
ghánh chịu. Ngoài bốn nỗi khổ theo chu kỳ của đời người là Sinh – Lão – Bệnh –
Tử của quy luật tự nhiên, con người còn phải chịu thêm bốn nỗi khổ khác như:
Ái thụ biệt ly: yêu thương mà chia lìa, xa cách, biệt ly.
Oán tăng hội khổ: Ghét nhau mà phải sống gần nhau.
Sở cầu bất đắc: mong muốn mà không đạt được.
Thụ ngũ uẩn: khổ về sự tồn tại thân tâm.
Nhân Đế ( Samudaya-satya), còn gọi là Tập đế với 12 nhân duyên gây
nên nỗi khổ con người. Phật giáo lý giải nguồn gốc nỗi khổ của con người xuất
phát từ Vô minh là sự ngu muội, si mê, ám độn do không hiểu rõ chân lý, chấp
vào danh sắc, bám chấp vào sự sống và thân xác, dẫn tới sự ham muốn dục vọng,
làm khởi hành 12 nhân duyên “Duyên Hành, duyên Thức, duyên Danh – Sắc,
duyên Lục nhập, duyên Xúc, duyên Thụ, duyên Ái, duyên Thủ, duyên Hữu,
duyên Sinh, duyên Lão- Tử”. Khiến tạo cơ duyên cho sinh - trụ - dị - diệt, gây
11
nên những nỗi khổ cho con người và khiến con người chịu khổ đau trong lục đạo
luân hồi.
Để giúp chúng sinh giải thoát khỏi vòng luân hồi đau khổ, Phật đã đề ra
cao độ, giúp phát huy trí tuệ, tư duy còn người, làm nảy sinh tuệ giác và sự sáng tạo.
Tuệ là tuệ giác, là trí tuệ con người được phát sinh từ sự tập chung tư tưởng
và quá trình tu tập thiền định, hành trì bát chính đạo. Tuệ gồm có chính kiến, chính
tư duy, chính tinh tiến.
Ngoài ra do nỗi khổ của con người xuất phát từ đời sống vật chất và tinh
thần, nên Phật giáo còn chủ trương diệt nỗi khổ vật chất, sinh lý bằng con đường tuệ
giác; diệt nỗi khổ tinh thần, tâm lý bằng con đường đạo đức với “tứ vô lượng tâm”
(từ, bi, hỷ, xả) và “ngũ giới”, “thập thiện” để tránh ba nghiệp ác của thân, bốn nghiệp
ác của khẩu, ba nghiệp ác của ý (tham, sân, si). Nội dung của các phương pháp đó là thực
hiện “Tam quy”, “ Ngũ giới” và “Lục độ”.
Tam quy : Là quy y Phật, Pháp, Tăng để học đạo và được gia hộ, qua đó noi
theo gương sáng của Đức Phật mà tu tập để giác ngộ chân lý, không bị lầm lạc,
không phải chịu khổ.
“Ngũ giới” nghĩa là năm giới cấm mà Phật bảo các Phật tử phải tuân theo để
có được an lành hạnh phúc.
1. Bất sát: Không sát sinh, không hại vật
2. Bất đạo: Không trộm cắp, không làm điều phi nghĩa
3. Bất dâm: Không tà dâm, không quan hệ bất chính.
4. Bất vọng ngữ: Không không nói dối, không nói lưỡi hai chiều, không nói
lời hung dữ và không bịa đặt vu oan giá họa làm khổ người, hại mình.
5. Bất tửu: Không uống rượu khiến vô minh, ngu muội.
“Lục độ” : là 6 con đường hành thiện và là phép tu trì để đi đến giải thoát”:
Bố thí; Trì giới; Nhẫn nhục; Tinh tiến; Thiền định; Bát nhã.
Ngoài Tam quy, Ngũ giới và Lục độ, những người học đạo cần phải giữ
Thập Thiện- tức 10 điều thiện trong Thân- Khẩu- Ý.
Đối với hàng tu tại gia ( Ưu bà tắc, Ưu bà di), Phật chế định 5 giới luật: Bất
13
sát; Bất đạo; Bất tà dâm; Bất vọng ngữ; Bất tửu.
Còn đối với hàng ngũ xuất gia tu đạo thì ngoài việc thực hành Ngũ giới, Lục
độ, Thập thiện cơ bản trên còn phải tuân thủ nhiều những giới luật hết sức nghiêm
14
Con đường thứ hai là bằng đường bộ, từ Vân Nam Trung Quốc xuống vào
khoảng thế kỷ V-VI
Con đường thứ ba, cũng theo đường bộ từ Đông Bắc Ấn Độ, qua vùng Tây
Tạng, dọc theo triền sông Mê công vào Việt Nam khoảng Tk XIII.
- Các giai đoạn của Phật giáo Việt Nam trước thời Trần
Theo các tư liệu lịch sử, các nhà học giả đều nhất trí cho rằng Phật Giáo Ấn Độ
vào Việt Nam ở những thế kỷ đầu, qua đường biển, do các thương nhân và các tăng sĩ
Ấn Độ du nhập, gây ảnh hưởng tác động lớn tới đời sống văn hóa tinh thần Việt Nam,
dẫn tới sự hình thành và ra đời trung tâm Phật Giáo Luy Lâu tại Giao Chỉ.
Ngay khi vào tới Việt Nam, Đạo Phật đã nhanh chóng thích nghi với nền văn
hóa Việt và được người bản địa đón nhận một cách tự nhiên, cởi mở và trở thành
yếu tố tinh thần, một phần tất yếu trong nếp sống, tư duy văn hóa của người Việt.
Phật Giáo Luy Lâu thời kỳ này là sự kết hợp hài hòa, dung hợp những yếu tố
Nho, Phật, Lão và theo khuynh hướng tư tưởng Phật Giáo Đại thừa. Giai đoạn này
đã xuất hiện một số Thiền phái như Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông
Theo Thiền Uyển Tập Anh, Tì Ni Đa Lưu Chi là người Nam Thiên Trúc
sang Việt Nam năm 580, và thiết lập dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi, kéo dài cho đến tận
cuối thời Lý, đầu thời Trần, trong vòng sáu thế kỷ, gồm 19 thế hệ và 28 vị Thiền Sư
với hệ thống kinh điển phong phú như: kinh Tượng đầu, Tổng trì( Mật giáo), Kinh Kim
Cương, Bát Nhã, Pháp Hoa. Các nhà sư trong Thiền Phái Tì Ni Đa Lưu Chi, phần lớn
tu theo hạnh đầu đà(Dhuta), một lối tu khổ hạnh trong con mắt người thường.
Năm 820, thiền sư Vô Ngôn Thông từ Trung Hoa sang Việt Nam, dẫn tới sự
ra đời thiền phái Vô Ngôn Thông, một dòng thiền thứ hai ở Việt Nam, mang mầu
sắc thiền tông Trung Quốc, tồn tại từ năm 820 đến khoảng những năm 30 của Tk
XIII và kéo dài cho đến Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; tồn tại trong vòng 479 năm
gồm 15 thế hệ và 38 thiền sư (trừ sư tổ Vô Ngôn Thông). Thiền phái Vô Ngôn
Thông có đặc điểm là các thiền sư đều chú tâm vào đạo, với lối sống trong sạch,
giản dị, đơn sơ, và chỉ chú tâm vào thiền với những phương pháp, đường lối,
nguyên tắc để đi tới sự giác ngộ.
về kinh tế, chính trị, tư tưởng trong các giai đoạn, các thời kỳ khác nhau, với vai trò
của các thiền sư, những vị chân sư nổi tiếng một thời.
Sự du nhập Phật Giáo vào Việt Nam đã dẫn tới sự ra đời, phát triển Phật giáo
Việt Nam sau này và có sự ảnh hưởng lớn tới công cuộc trị nước, bảo vệ đất nước,
đặc biệt dưới thời đại Lý - Trần.
Dưới thời Lý, Phật giáo đã phát triển rất mạnh, các vua nhà Lý đã lấy Phật
giáo làm nền tảng đời sống tinh thần xã hội, nên đã cho xây dựng nhiều chùa chiền
và biên chép, soạn dịch rất nhiều kinh điển phổ biến trong xã hội.
Trên tinh thần từ bi, hỷ xả của Đạo Phật, các vua Lý cũng sử dụng nhân tâm
trong thuật trị nước, thể hiện nền chính trị mang tính nhân bản sâu sắc. Tuy nhiên
giai đoạn hậu Lý thì lại trở nên suy vi do các vua quan chỉ chú trọng tới thụ hưởng,
không còn quan tâm tới triều chính nữa.
d, Phật giáo Việt Nam thời Trần
*Sự hình thành phát triển các tông phái
Đến đời Trần với sự kế thừa những giá trị văn hóa thời Lý, Phật giáo càng
phát triển hơn nữa dẫn tới sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trên cơ sở kết
hợp Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo với sự kết hợp yếu tố của Thiền Tông, Mật
Tông và Tịnh Độ Tông, tạo nên sự hỗn dung tôn giáo. Đây chính là một nét đặc sắc
của Phật giáo Việt Nam thời Trần.
Thời kỳ này đã có 3 phái Thiền du nhập từ Trung Quốc sang, đó là Tỳ Ni Đa
Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường. Bên cạnh đó còn có một số dòng Phật
giáo khác cũng du nhập vào Việt Nam như Tịnh Độ Tông và Mật Tông. Như vậy
đến thời Trần thì Phật giáo Việt Nam đã thể hiện làm hai dòng cơ bản:
Dòng Phật giáo dân gian: Đây là sự dung hòa tư tưởng Phật giáo với những
tín ngưỡng dân gian bản địa tạo nên mầu sắc huyền bí trong những câu chuyện cổ
tích, thần thoại như Thánh Gióng, Tấm Cám, Chử Đồng Tử và Tiên Dung, phản
ánh những tư tưởng, khát vọng của con người trong cuộc sống muốn hướng thiện và
được sự che trở giúp đỡ của ông Bụt, ông Trời, các Thần Thánh. Dòng Phật giáo
17
này được thể hiện ở tầng lớp bình dân trong xã hội với xu hướng niềm tin tín
Tử, sau này trở thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam, với các vị tổ sư như Phật Hoàng
Trần Nhân Tông(1258-1308); Pháp Loa(1284-1330; Huyền Quang ( 1254 – 1334).
So với các thời trước đó, đặc biệt dưới triều Lý thì Phật giáo Việt Nam của
thời Trần có những nét đặc sắc riêng biệt. Thời đại nhà Trần với tư tưởng nhập thế cứu
đời, các thiền sư và các vua Trần đã đưa những tinh hoa Phật giáo lên tới đỉnh cao trong
tư tưởng giải thoát. Tiêu biểu là Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng
Sỹ, thiền sư Pháp Loa, thiền sư Huệ Quang.
* Sự phát triển Phật giáo Việt Nam thời Trần.
Dưới triều đại nhà Trần với vai trò của Trần Thái Tông, Phật Hoàng Trần
Nhân Tông (hiệu là Trúc Lâm), Phật giáo phát triển rất mạnh thâm nhập ngày càng
sâu rộng trong đời sống nhân dân. Giai đoạn này các vua Trần rất quan tâm đến việc
truyền bá đạo Phật nên việc xây dựng hệ thống kinh điển rất được chú tâm. Năm
1295, vua Anh Tông sai sứ thần sang Trung Hoa thỉnh bản Đại Tạng Kinh mới nhất,
sau đó cho in ấn lưu hành. Năm 1319 (Kỷ Mùi) các tăng sỹ và cư sỹ đã hiến máu để
in và khắc bản Đại Tạng Kinh, một bộ Kinh vĩ đại với hơn 5000 quyển. Trong Đại
Tạng Kinh, vua Anh Tông đã cho viết và khắc bản các tác phẩm của Trúc Lâm như
Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Trúc Lâm Hậu Lục, Đại Hương Hải Ấn Thi Tập,
Thạch Thất Mị Ngữ và Tăng Già Toái Sự, ngoài ra các tác phẩm của Trần Thái
Tông như Khóa Hư Lục, Thiền Tông Chỉ Nam, Kim Cương Tam Muội Kinh, Lục
Thì Sám Hối Khoa Nghi cũng được in, tác phẩm của Tuệ Trung như Tuệ Trung
Thượng Sỹ Ngữ lục cũng được đưa vào Đại Tạng Kinh. Bản Đại Tạng Kinh là một
công trình đồ sộ và vĩ đại của triều đại nhà Trần do thiền sư Pháp Loa và Bảo Phác
chủ trì. Ngoài ra các vua Trần và các thiền sư đã cho in rất nhiều kinh sách khác.
Như Tham Thiền Yếu Chỉ, Kim Cương Trường Đà La Ni Chú Tuy nhiên rất tiếc
khi nhà Minh sang xâm chiếm Đại Việt đã thu góp toàn bộ sách cổ quý chở về Kim
Lăng và thiêu hủy đi rất nhiều sách quý của ta, chỉ còn lại một số rất ít, đây là sự
thiệt hại rất lớn đối với nền văn hóa Việt.
Dưới thời Trần, với sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm, số người xin xuất
gia và ra nhập giáo hội Trúc Lâm ngày một đông. Tháng 9/1313 năm Quý Sửu, Pháp
19
20
nước. Đời vua Minh Tông cũng có vị tăng Mật giáo Ấn Độ tên Bồ Đề Thất Lý sang
cũng có thể nổi trên mặt nước. Với những yếu tố kỳ bí nên các vua chúa, quan lại
rất ưa chuộng Mật Giáo. Vua Anh Tông cũng được Pháp Loa làm lễ quán đỉnh năm
1320, một nghi lễ của Mật Giáo. Ngoài ra rất nhiều người như Văn Huệ vương và
Uy Huệ vương cũng xin làm lễ quán đỉnh.
Có thể nói sự hưng thịnh của Phật giáo thời Trần là một tất yếu khi mà
những người đứng đầu một quốc gia dân tộc là các vua Trần đã giác ngộ và thấy
được những giá trị nhân văn cao cả của Phật giáo nên đã lấy Phật giáo làm nền tảng
hệ tư tưởng xã hội, đồng thời cũng chắt lọc những tinh hoa trong Nho giáo, Đạo
giáo để xây dựng phát triển đất nước. Các vua Trần chính là hình ảnh tiêu biểu
trong con đường “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” để tạo nên một thời kỳ thái
bình thịnh trị với những trang sử hào hùng dân tộc.
Sự hưng thịnh, phát triển của Phật giáo thời Trần còn thể hiện qua những
truyền thống văn hóa của dân tộc, mà sau này nó đã ăn sâu, bám rễ vào tâm thức
người Việt và trở thành thói quen tất yếu, như tập quán đi lễ chùa cầu may vào các
dịp lễ tết và ngày rằm mùng một, lễ Vu Lan báo hiếu trong ngày rằm tháng bảy, lễ
Phật Đản, lễ vía Phật Quan Thế Âm Bồ Tát, …Những hoạt động văn hóa đó không
chỉ phản ánh mầu sắc tín ngưỡng, văn hóa tâm linh mà còn là những nét tinh hoa
văn hóa của người Việt, có giá trị bồi đắp thêm nhân cách con người Việt, biết đoàn
kết, yêu thương nhau và sống có tình có nghĩa, biết nhớ tới cội nguồn, sống luôn
hướng thiện, chân thành cởi mở, hòa đồng với cuộc sống với thiên nhiên, tâm hồn
khoáng đạt, viên dung.
1.1.2. Tư tưởng giải thoát của Phật giáo và vị trí của nó trong giáo lý Phật giáo
a, Khái niệm giải thoát
Giải thoát theo tiếng Phạn là Moksha, mukti( mộc xoa, mộc đề). “Giải”
nghĩa là gỡ ra, cởi ra, chia tách ra hay giải thích cho rõ; “Thoát” nghĩa là vượt ra
khỏi sự trói buộc, sự ràng buộc
.[2,tr 45].