TRIẾT LÝ NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI LÝ – TRẦN LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC - Pdf 11

VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ NGÂY
TRIẾT LÝ NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO
VIỆT NAM THỜI LÝ – TRẦN
Chuyên ngành : Tôn giáo học
Mã số : 62 22 90 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1.GS.TS. Nguyễn Hùng Hậu
2.TS. Nguyễn Quốc Tuấn
HÀ NỘI – 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các nội dung, số liệu nêu trong luận án là trung
thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đỗ Ngây
ii
MỤC LỤC
Bìa phụ i
L I CAM OANỜ Đ ii
M C L CỤ Ụ iii
A. M UỞĐẦ 1
I. T NH C P THI T C A TÀIÍ Ấ Ế Ủ ĐỀ 1
II. M C CH VÀ NHI M V NGHIÊN C UỤ ĐÍ Ệ Ụ Ứ 4
III. I T NG VÀ PH M VI NGHIÊN C UĐỐ ƯỢ Ạ Ứ 5
IV. C S LÝ LU N VÀ PH NG PHÁP NGHIÊN C UƠ Ở Ậ ƯƠ Ứ 5
V. ÓNG GÓP M I C A LU N ÁNĐ Ớ Ủ Ậ 5
VI. Ý NGH A C A LU N ÁNĨ Ủ Ậ 6

A. MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phật giáo nói riêng và các tôn giáo trên thế giới nói chung trong quá
trình phát triển luôn phải đối đầu với những mâu thuẫn: thần thánh-thế tục,
thiêng liêng hóa-giải thiêng liêng, xuất thế-nhập thế v.v Những mối quan hệ
này tiềm ẩn, xuyên suốt, là nhựa sống và là mắt xích nối kết giữa tôn giáo –
thế tục, giữa cái tục và cái thiêng. Và chúng sẽ dâng lên cao trào khi bối cảnh
xã hội tạo áp lực ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong thì hai chỉnh thể này sẽ
hợp thành một luồng sức mạnh đoàn kết, hòa nhập để cùng tồn tại và phát
triển tạo nên những nét son lịch sử (Như vậy, những mâu thuẫn này thường
nổi lên, trở thành nhu cầu cấp bách khi quan hệ tôn giáo và xã hội thế tục có
vấn đề ảnh hưởng tới sự sống còn của tôn giáo). Và mỗi lần như vậy, hình
như tôn giáo và xã hội thế tục lại càng hiểu nhau, nhích lại gần nhau hơn. Sự
chủ động nhích lại gần, tiếp cận thực tế sống động và vận dụng tư tưởng tôn
giáo vào giải quyết các vấn đề của xã hội thế tục của tôn giáo được gọi là
nhập thế; và cả tôn giáo và xã hội thế tục đều phải tham gia bàn bạc và hành
động.
Một mặt, tôn giáo không tự sinh ra mà là kết quả của chính nhu cầu tinh
thần của xã hội thế tục. Là hình thái ý thức của xã hội, không tôn giáo nào có
thể tồn tại và phát triển mà tách rời khỏi xã hội thế tục. Mặt khác, tôn giáo
luôn khẳng định tính siêu việt (khoảng cách) của nó đối với xã hội thế tục
bằng quá trình thần thánh hóa, thiêng liêng hóa của mình, song tính thiêng
liêng ấy không thể tự thân nó chiêm ngưỡng mà phải tạo được sức hấp dẫn
đối với xã hội thế tục (thế gian); thậm chí, ở mức độ tích cực tôn giáo (nếu
tôn giáo có quan hệ tốt với xã hội thế tục,) có thể chia sẻ, bù đắp và góp phần
giải quyết tốt nhiều vấn đề của thế tục thì uy tín, vai trò và sức lan tỏa của tôn
giáo càng được củng cố, phát huy.
1
Với Phật giáo nói chung, tư tưởng nhập thế đã có rất sớm ngay từ thời
đức Phật. Riêng Phật giáo Việt Nam, thời Lý - Trần một đỉnh cao trong việc

tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, bắt kịp sự phát triển
của thời đại…[23,tr.4].
Để thực hiện được mục tiêu này, cần có sự quan tâm và tham gia của
mọi thành phần dân tộc, mọi tầng lớp xã hội, trong đó, các tôn giáo, đặc biệt
là các tôn giáo dân tộc, đóng một vai trò quan trọng.
Với lịch sử hơn 2000 năm gắn bó, thăng trầm cùng dân tộc Việt Nam,
Phật giáo luôn đóng góp những gì tinh túy nhất cho đất nước trong mọi lãnh vực
như: chính trị, giáo dục, nghệ thuật, y học, tâm linh… và đặc biệt là với nền văn
hóa dân tộc. Nối tiếp truyền thống hộ quốc an dân của tiền nhân, Phật giáo có thể
đóng góp giải quyết nhiều vấn nạn mà xã hội Việt Nam đang phải đối mặt như:
sự xuống cấp về đạo đức và lối sống tha hóa của một bộ phận không nhỏ các
thành phần xã hội; sự lạm dụng thái quá vật chất để thỏa mãn nhu cầu cá nhân,
đề cao chủ nghĩa tiêu thụ; sự lãng phí và phá hủy trong khai thác tài nguyên
thiên nhiên; sự vị kỷ, mất đoàn kết dẫn đến sự vô tâm với quyền lợi cộng đồng…
bằng triết lý nhập thế tích cực để góp phần vào công cuộc phát triển đất nước
bền vững, trong đó, Phật giáo chú trọng đến việc xây dựng con người thông qua
Năm nguyên tắc đạo đức căn bản và triết lý Trung đạo.
Với những nguyên tắc đạo đức trên và vị trí văn hóa của mình, Phật
giáo hoàn toàn có thể góp phần vào việc định hướng tư duy và điều chỉnh
hành vi của cộng đồng xã hội nếu biết vận dụng những phương thức phù hợp
theo tinh thần nhập thế. Trên thực tế, Phật giáo Việt Nam đã và đang bền bỉ
dấn thân vào nhiệm vụ xây dựng con người nói trên thông qua các hoạt động
3
nổi bật, điển hình như các Khóa tu mùa hè dành cho thanh thiếu niên, chủ
nhân tương lai của đất nước; những lớp học đạo đức tại chùa; những chương
trình từ thiện xã hội v.v trên khắp ba miền của Tổ quốc. Những hoạt động
này đang được triển khai ngày càng sâu rộng trên khắp mọi miền Tổ quốc và
đã đạt được nhiều thành quả.
Tinh thần nhập thế của Phật giáo đã được thể hiện từ những ngày đầu
Phật giáo du nhập vào Việt Nam, mà rõ nét nhất là vào hai thời đại Lý – Trần.

- Giá trị và bài học lịch sử của triết lý nhập thế
IV. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng.
Luận án có sử dụng phương pháp liên chuyên ngành khoa học xã hội:
Tôn giáo học, sử học, văn học, đạo đức học, triết học kết hợp với các phương
pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, đối chiếu.
V. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Thứ nhất, luận án đã khảo sát, phân tích bức tranh tổng quan về bối
cảnh lịch sử, chính trị, văn hóa Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ
IX. Qua đó, chúng tôi phân tích và phân kỳ lịch sử Phật giáo đồng hành với
dân tộc, từ đó, làm tiền đề cho cơ sở lý luận để hình thành triết lý nhập thế
của Phật giáo Việt Nam thời Lý – Trần.
Thứ hai, luận án đã phân tích, làm rõ một số cơ sở thực tiễn của xã hội
thời Lý – Trần, qua đó, tác giả đưa ra sự ảnh hưởng sâu đậm về triết lý nhập
5
thế của Phật giáo trong từng giai đoạn, thông qua sự dấn thân của các vị thiền
sư đối với dân tộc và vua quan có tâm mộ đạo.
Thứ ba là, từ cơ sở lý luận và thực tiễn trong triết lý nhập thế của Phật
giáo Việt Nam thời Lý – Trần. Tác giả đưa ra một số đặc điểm cơ bản trong
giáo lý nhà Phật về lý tưởng giác ngộ và tinh thần triết lý nhập thế, tác giả làm
sáng tỏ lý tưởng người thực chứng được Thiền – Mật – Tịnh, làm nổi bậc
được hành động lợi ích thiết thực cho cộng đồng và dân tộc của các bậc cao
tăng chứng ngộ triết lý nhập thế trong giai đoạn Lý – Trần.
Thứ tư, tác giả phân tích tinh thần bình đẳng đối với mọi tầng lớp trong
xã hội, xây dựng đại đoàn kết dân tộc và dấn thân phụng sự nhân dân thông
qua hành trạng của các vị Thiền sư và chư vị tiền bối để làm nổi bậc nội dung
triết lý nhập thế của thời đại này.
Thứ năm, từ sự phân tích hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn đến đặc
điểm và nội dung của triết lý nhập thế của Phật giáo Việt Nam thời Lý – Trần,

Lê Mạnh Thát (chủ biên), (2008), Phật giáo nhập thế và phát triển,
Nxb Tôn giáo.
Phân Viện nghiên cứu Phật học (1999), Đại tạng kinh Việt Nam, Nxb
Tp Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng một số tư liệu đáng tin cậy khác từ
các nguồn như tư liệu các kỳ hội thảo lớn như: Hội thảo liên hữu Phật giáo
quốc tế tổ chức trong 3 ngày từ ngày 18 – 20 tháng 12 năm 2006, tại số 750
7
Nguyễn Kiệm, Phú Nhuận, Tp. HCM tại hội trường của Học Viện Phật Giáo
Vạn Hạnh tại TP. HCM, với sự tham dự hơn 200 chư tôn đức Tăng Ni, các
nhà học giả và Phật tử từ quốc tế đến với chủ đề:“ Phật giáo nhập thế trong
thế kỷ XXI”, Ngoài ra, chúng tôi sử dụng tài liệu qua Đại Lễ Phật Đản Liên
Hợp Quốc 2008 tại Việt Nam, Trung Tâm Hội Nghị Quốc Gia, 13 – 17 tháng
5 năm 2008, Vesak Chương Trình Đại Lễ Và Hội Thảo, Học viện Phật giáo
Việt Nam tại Tp HCM xuất bản.
Những tài liệu này, phong phú, công phu, nghiêm túc; là đối tượng
chúng tôi căn cứ triển khai một cách triệt để, xây dựng triết lý nhập thế của
Phật giáo nói chung, theo lập trường lý tưởng giác ngộ của Phật Đà.
1.1.2. Tư liệu về lịch sử Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là lịch sử thời
kỳ Lý – Trần
Để xác chứng lại tư liệu sử, để có cái nhìn tổng quan về bối cảnh lịch sử
Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ, để thể nghiệm sự song hành và gắn bó với
dân tộc, ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống tâm linh của con người Việt Nam từ
khi du nhập hình thành và phát triển đến ngày nay. Lịch sử Phật giáo gắn liền
với lịch sử dân tộc Việt Nam. Tác giả đã tham khảo các công trình như sau:
Mật Thể, (1943), Việt Nam Phật giáo sử lược.
Trần Văn Giáp, (do Tuệ sỹ dịch), (1968), Phật giáo Việt Nam từ khỏi
nguyên đến thế kỷ 13, Nxb, tu thư Vạn Hạnh.
Lê Mạnh Thát, (1999), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập I, từ khỏi
nguyên đến thời Lý Nam Đế, Nxb Thuận Hóa – Huế.

Viện văn học,(1978),Thơ văn Lý – Trần, Tập III. Quyển hạ. Nxb Khoa
học Xã hội, Hà nội, 1978.
9
Lê Mạnh Thát,(2001, 2002), Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam, tập
I, II và III, Nxb Tp Hồ Chí Minh.
Lê Mạnh Thát,(1999), Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, Nxb Hồ Chí Minh.
Lê Mạnh Thát,(2010), Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb Phương Đông.
Lê Mạnh Thát, (2004), Toàn Tập Trần Thái Tông, Nxb Tổng Hợp Tp Hồ
Chí Minh.
Lý Việt Dũng, (dịch giải),(2003), Tuệ Trung Thượng Sĩ, Ngữ Lục, Nxb
Cà Mau.
Nguyễn Đăng Thục, (1996), Thiền học Trần Thái Tông, Nxb Văn hóa Thông.
Thích Thanh Từ,(PL,2535 - 1992), Thiền sư Việt Nam, Nxb Tp Hồ Chí Minh.
Thích Thanh Từ,(PL,2541 - 1997), Tham đồ hiểu quyết và thi tụng các
Thiền sư đời Lý, Nxb Tp Hồ Chí Minh.
Nhất Hạnh, (1998), Thiền sư Tăng Hội (sơ tổ của thiền tông Việt Nam
thiền tập tại Giao Châu đến thế kỷ thứ ba), Nxb Lá Bối giữ bản quyền.
Ngoài ra còn có các tác phẩm như: Thiền uyển tập anh, Tam tổ thực lục,
Thánh đăng ngữ lục. Khi trích dẫn chúng tôi tham khảo các bản dịch khác có
liên quan.
Tài liệu này, từ các tác phẩm văn học nêu trên đã khá bổ biến trong giới
nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, các tác phẩm phần lớn chú trọng tư tưởng
Thiền học và văn học. Thông qua đó, chúng tôi kiến giải sự ảnh hưởng của triết
lý nhập thế Phật giáo thời Lý – Trần tác động vào đường lối xây dựng chính trị,
ngoại giao cũng như xây dựng nền độc lập chủ quyền quốc gia.
1.1.4. Tư liệu về tư tưởng Phật giáo Việt Nam, đặc biệt tư tưởng
Phật giáo thời Lý – Trần
Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Hùng Hậu, Nxb
KHXH, Hà Nội. Bằng phương pháp luận triết học, tác giả trình bày tư tưởng
Việt Nam qua từng giai đoạn từ du nhập đến dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi,

linh của con người, nhằm mục đích phục vụ cho sự phát triển và góp phần bảo
vệ nền độc lập dân tộc Việt Nam nói chung và Phật giáo Việt Nam thời Lý –
Trần nói riêng.
1.2. Các vấn đề đã được nghiên cứu
Nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã quan tâm nghiên cứu lịch
sử, triết lý và vai trò của Phật giáo đối với dân tộc Việt Nam, trong đó, triết lý
nhập thế, tuy là chủ đề không mới, nhưng để bàn sâu về nó thì còn nhiều việc
phải làm. Riêng về triết lý nhập thế Phật giáo Việt Nam thời Lý – Trần thì chưa
có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào được công bố. Trước hết, chúng tôi
lược khảo tổng quan tư liệu bàn về nhập thế Phật giáo nói chung và Phật giáo
Việt Nam thời Lý – Trần nói riêng từ những công trình đi trước có liên quan
đến mục đích và nhiệm vụ đặt ra cho đề tài luận án này, có thể tạm phân chia
thành một số nhóm vấn đề như dưới đây.
1.2.1. Lịch sử nghiên cứu về nhập thế Phật giáo nói chung
Phùng Hữu Lan, Lịch sử triết học Trung Quốc, do Lê Anh Minh, (dịch,
2010), Nxb Đại học Sư phạm Tp HCM. Tác giả đưa ra vấn đề xuất thế và
nhập thế trong lịch sử triết học Trung Quốc, bàn về các trường phái triết lý
Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo nói chung (từ trang 21 đến trang 26). Từ
quan điểm về triết học xuất thế là:
…sự lìa bỏ cái gọi là tấm lưới ràng buộc của trần thế; và do đó, nếu
thành tựu tối cao của một thánh nhân cần phải thực hiện, thì ngài phải
lìa bỏ xã hội, thậm chí phải dứt bỏ sự sống. Chỉ như thế thì họ mới đạt
được giải thoát sau cùng” và triết học nhập thế là: “…chú trọng
những gì hiện hữu trong xã hội, chẳng hạn như nhân luân (human
relations) và nhân sự (human affairs). Thứ triết học này chỉ nói về các
12
giá trị đạo đức, và không thể hoặc không muốn nói tới các giá trị siêu
đạo đức”, tác giả đi đến nhận định: “Xét từ quan điểm của triết học
nhập thế thì triết học xuất thế thật quá lý tưởng, không thực dụng, và
tiêu cực. Xét từ quan điểm của triết học xuất thế thì triết học nhập thế

giáo Tp Hồ Chí Minh, Ấn hành, (PL. 2536 – 1993). Đây là tác phẩm chủ yếu
viết về tổng quan bức tranh lịch sử Phật giáo Việt Nam. Tuy không phải là tác
phẩm chú trọng viết về nhập thế Phật giáo mà chỉ trình bày sơ lược (từ trang
474 đến 480) về các thiền sư và vua quan trên phương diện nhập thế để bảo
vệ nền độc lập dân tộc nhưng tác giả cũng đã liệt kê tương đối đầy đủ những
nhân vật nổi bật của Phật giáo từ khởi nguyên cho đến 1975. Theo tác giả:
Các thiền sư luôn luôn có quan điểm quần chúng. Với tinh thần
“nhập thế”, thiền sư tham dự các mặt hoạt động của đất nước, nhân
dân. Kể từ các triều đại từ Đinh, Lê, Lý, Trần trở về sau, tinh thần
nhập thế của Phật giáo Việt Nam vô cùng rõ nét. Các nhà tu vừa là
thiền sư, vừa là nghệ sĩ, vừa là nhà chính trị ngoại giao, vừa là người
nông dân chít khăn mỏ quạ, xuống đồng cày cấy…[89,tr.476-477].
Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo, số 8, (2008), Nguyễn Thị Minh Ngọc viết
“Phật giáo dân gian: Con đường nhập thế của Phật giáo Việt Nam”, tác giả
trình bày khái quát vấn đề dựa trong Hội thảo liên hữu Phật giáo quốc tế tổ
chức trong 3 ngày từ ngày 18 – 20 tháng 12 năm 2006, tại số 750 Nguyễn
Kiệm, Phú Nhuận, Tp. HCM tại hội trường của Học Viện Phật Giáo Vạn
Hạnh tại TP. HCM với chủ đề: “Phật giáo nhập thế trong thế kỷ XXI”. Bên
cạnh việc liệt kê lại các ý tưởng tham luận trong cuộc hội thảo, tác giả đặc
biệt chú trọng đến Phật giáo dân gian như một hình thức phổ biến trong sinh
hoạt tín ngưỡng của số đông người dân Việt Nam ngày nay với những thống
14
kê và nhận định khá lý thú và cởi mở. Bài viết chỉ ra nhiều hình thức của Phật
giáo tế tự, một trong các phương diện nhập thế của Phật giáo để đáp ứng nhu
cầu tín ngưỡng và tâm linh của quần chúng như một cách giới thiệu.
Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo số 3, (2001), nhà nghiên cứu Phật học Minh
Chi viết: “Về xu thế thế tục hóa và dân tộc hóa của Phật giáo”. Trong cả bài, dù
tác giả không đề cập đến nhập thế hay xuất thế nhưng đã minh định một cách rõ
nét tinh thần nhập thế của Phật giáo, đặc biệt là Phật giáo Việt Nam thời hiện
đại. Các ý tưởng và phương thức mà tác giả đưa ra về vấn đề đạo Phật dấn thân

socialement)”. Quan điểm trên của tác giả đã phần nào khái quát được sự
khác biệt giữa nhập thế Phật giáo Việt Nam với sự thế tục hóa ở phương Tây.
Đó chính là một nét đặc thù của nhập thế Phật giáo Việt Nam. Chúng tôi, căn
cứ với quan điểm này nhằm mục đích phát huy và hình thành quan điểm cụ
thể về mặt triết lý cũng như ứng dụng hiện nay.
1.2.2. Lịch sử nghiên cứu về nhập thế Phật giáo thời Lý – Trần
Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo, số 11, (2009), GS.TS. Nguyễn Tài Thư
viết: “Xu thế nhập thế trong tư tưởng Phật giáo Trần Nhân Tông”. Thông qua
bài viết này, tác giả làm toát lên triết lý nhập thế của Trần Nhân Tông với
phương châm “đạo pháp dân tộc” trong quá trình xây dựng bảo vệ nền độc
lập và chủ quyền quốc gia, trong đó Phật giáo có vai trò quan trọng. Rồi tác
giả đúc kết về vua Trần Nhân Tông:
… Nhưng ở các nhân vật này hàm chứa hai con người riêng
biệt: con người triều thần và con người Phật tử. Lúc ra giúp việc triều
đình thì con người triều thần xuất hiện, lúc trở về tu hành thì con người
Phật tử hiện ra. Hai mặt đó chưa thống nhất trong một con người. Còn
16
Trần Nhân Tông thì lúc làm vua vẫn mang tư tưởng Phật giáo, lúc đã
xuất gia vẫn mang nặng nỗi niềm nhập thế.
Đây là một nhận định lôi cuốn và mới mẻ về Trần Nhân Tông khi tác
giả nhìn nhận về cả hai vai trò quan trọng trong cuộc đời ông: vừa là vua vừa
là nhà tu hành. Một điểm đáng chú ý trong bài viết này là dường như tác giả
muốn chính trị hóa các hoạt động của Trần Nhân Tông, do đó, mọi hoạt động
của ông đều được nhìn nhận dưới nhãn quan theo chiều hướng chủ quan của
tác giả. Theo chúng tôi, đó là một cách nhìn đúng nhưng chưa đủ. Nguyên
nhân của vấn đề này đến từ việc tác giả cố gắng lý giải những quan niệm và
hoạt động của Trần Nhân Tông theo cách thông thường nhất. Với việc ông bỏ
ngôi vua, truyền ngôi cho con để làm Thái thượng hoàng
1
, tác giả cho rằng

có một Phật giáo “mong tìm được sự giải thoát ở cõi Niết Bàn thanh tịnh siêu
phàm” như tác giả nhận xét vì Phật giáo, đặc biệt là Phật giáo thời đức Phật,
chủ trương sự giải thoát hay Niết-bàn không phải ở một nơi trừu tượng nào
mà phải ở chính trên thế gian này. Giáo lý đức Phật mục đích là đưa con
người giác ngộ - giải thoát chính tự thân, từ đó, giúp mọi người cùng giải
thoát. Do vậy, hành trạng của các thiền sư dấn thân vào đời cần phải được
hiểu là “giúp mọi người giải thoát”. Ở vào trình độ tâm linh đó thì việc các
thiền sư “gia nhập vào cuộc sống” hay “xa lệch cuộc sống phàm tục” cũng
không ảnh hưởng gì thêm đến sự giác ngộ của họ.
Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 4, (1998), Dương Thúy Mỹ viết: “Tìm hiểu
tư tưởng nhập thế qua một vài bài kệ của Thiền sư Vạn Hạnh”. Bằng văn
phong khá lôi cuốn cùng sự hiểu biết về Phật học, tác giả đã phác họa một
bức tranh toàn cảnh về đường truyền Phật giáo từ Ấn Độ đến Việt Nam, thời
Vạn Hạnh thiền sư. Tuy nhiên, nội dung của bài viết này có lẽ thích hợp hơn
với chủ đề: “Tìm hiểu một vài bài kệ của Thiền sư Vạn Hạnh” vì tác giả chủ
18
yếu phân tích và nhận định về các bài thơ của Vạn Hạnh thiền sư chứ không
đặt trọng tâm vào “Tìm hiểu tư tưởng nhập thế” như chủ đề ngoài một ý: “…
ông đã thể hiện tinh thần nhập thế tích cực” [153,tr.44] trong khi phân tích ý
thơ. Do vậy, chúng tôi thấy không có gì để phân tích thêm về bài viết này.
Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 5, (1999), Nguyễn Thị Hương (NCS K13
– Học viện CT - QG Hồ Chí Minh) viết “Triết lý nhập thế nét đặc sắc của
Thiền tông Việt Nam thời Lý – Trần” (từ trang 26 đến 29). Tác giả đã khái quát
được tinh thần nhập thế từ thời đức Phật, và trình bày mối quan hệ thời Lý –
Trần, từ đó, so sánh và đưa ra quan niệm Thiền tông nói chung và Thiền tông
Việt Nam nói riêng. Dù vậy, những phân tích về Phật giáo và Thiền tông như:
Theo Thiền tông ai cũng có thể thành Phật, nếu làm điều thiện,
dứt điều ác. Với chủ trương luân hồi, nghiệp báo – Phật giáo đã đẩy
lùi sự cứu độ, giải thoát chúng sinh ở những tiền kiếp khác nhau, còn
thiền tông không chấp nhận chủ trương bi quan đó. Bằng quan niệm

Tá(chủ biên) (2010), trang 464, tác giả Phước Tâm viết đề tài “Tư tưởng nhập
thế của Tuệ Trung qua bài “Phật Tâm Ca”. Bài viết này đã đi đúng trọng tâm
trên tinh thần nhập thế, tác giả đã giải quyết được nguyên nhân hình thành và
kết quả của triết lý nhập thế Phật giáo với phương châm phụng sự đạo pháp
và dân tộc:
Tuệ Trung một đời chuyên tâm tham thiền học đạo, không màng
đến những phù hoa thế gian, nhưng gặp những lúc đất nước nguy
nan(tức lúc bấy giờ, giặc Nguyên Mông xâm chiếm bờ cõi nước
Nam),ông tích cực tham gia kháng chiến ở cả ba trận chiến
(1257,1285,1288)?. Vì bảo vệ quốc thổ, ông đã lập nên nhiều chiến
công hiển hách, do thế đã được triều đình khen thưởng. Tuy nhiên, ông
20
đối với chốn quan trường không chút hứng thú, ngày ngày lấy thiền
duyệt làm vui. Ông không xuống tóc xuất gia, mà lấy thân phận cư sĩ,
tích cực tham gia hoạt động Phật sự, cứu đời, giúp người như các nhà
xuất gia đích thực, và cuối cùng ông đắc pháp với thiền sư Tiên Dao.
…. và đồng thời càng hiểu rõ thêm tư tưởng nhập thế của Phật giáo
thời nhà Trần Việt Nam[87,tr.465-466] .
Trên tinh thần từ bi – vô ngã – vị tha, vô chấp, chúng tôi, tiếp thu quan
điểm này để phát huy một cách hệ thống tư tưởng trong triều đại Lý – Trần.
Từ đó, làm nổi bật triết lý nhập thế hơn.
Bên cạnh, những đề tài được nêu trên, từ năm 2006 đến nay, nhiều hội
thảo khoa học về thời kỳ Lý – Trần đã được tổ chức tại nhiều địa phương:
Năm 2006, trường Đại học khoa học xã hội nhân văn Thành phố Hồ
Chí Minh tổ chức hội thảo với chủ đề: “Tư tưởng Việt Nam thời Lý Trần”.
Năm 2008, Viện khoa học xã hội Việt Nam cùng Giáo hội Phật giáo
Việt Nam tổ chức hội thảo với chủ đề: “Đức Vua - Phật Hoàng Trần Nhân
Tông, cuộc đời và sự nghiệp, kỷ niệm 700 năm ngày nhập Niết Bàn 1308 -
2008” tại tỉnh Quảng Ninh.
Năm 2010, tại Bái Đính, tỉnh Ninh Bình , Viện Nghiên cứu Tôn giáo

mình và người, sống tốt không chỉ hiện tại và cho cả tương lai.
Cho nên, khi nghiên cứu triết lý là tìm hiểu về giá trị “chủ trương, quan
niệm” được lặp đi lặp lại mang tính hành động hiện thực trong suốt chiều dài
lịch sử của dân tộc đó, thể hiện trong dân gian bao gồm những ẩn dụ, ca dao,
tục ngữ,văn thơ, danh ngôn, điểm tích v.v… là biểu hiện lên hình ảnh để diễn
tả lên triết lý. Triết lý thể hiện chân lý đúng thông qua hành động, thái độ của
con người, như các vị vĩ nhân, Thiền sư, các vị anh hùng dân tộc. Ngoài ra,
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status