Đề án
BẢO TỒN, KHAI THÁC, PHÁT TRIỂN BẢN SẮC VĂN HOÁ CÁC DÂN TỘC TỈNH LÀO CAI GIAI ĐOẠN 2001 - 2005 và đến
2010
Đề án đã được UBND tỉnh phê duyệt theo quyết định số 54/QĐ - UB ngày 18/2/2002
Nội dung của đề án
I. Mục tiêu cụ thể của đề án:
- Khảo sát, nắm rõ kho tàng di sản văn hoá ở 16 dân tộc Lào Cai: Mông,
Dao, Tày, Thái, Nùng, Giáy, Lào, Bố Y, Hà Nhì, Phù Lá, Kháng, La Ha,
La Chí, Kinh, Mường, Hoa.
- Lựa chọn một số di sản văn hoá đặc trưng tiêu biểu để bảo tồn, đặc biệt
di sản của một số dân tộc có xu thế mai một nhanh như các dân tộc:
Kháng, La Ha, La Chí, Bố Y, Xa Phó, Mông, Pa Dí, Thu Lao.
- Khai thác và nghiên cứu các di sản văn hoá phục vụ cho sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội và ngành du lịch tại địa phương.
II. Nhiệm vụ của đề án:
1. Tổng điều tra, kiểm kê di sản văn hoá các dân tộc:
- Thời gian thực hiện: Tiến hành trong 2 năm 2002-2003.
- Đối tượng: Lào Cai có 27 dân tộc (theo điều tra dân số 1/4/1999), trong
đó có một số dân tộc có từ 1 đến vài chục người không sống thành cộng
đồng làng, nên khó bảo tồn bản sắc. Vì vậy đối tượng của đề án tập trung
vào 23 dân tộc và ngành là đối tượng của đề án, cụ thể như: Dân tộc
Mông (có ngành Mông Trắng, Mông Lềnh, Mông Đen, Mông Xanh), dân
tộc Dao (có ngành Dao Đỏ, DaoTuyển, Dao Họ), dân tộc Thái (có ngành
Thái Trắng, Thái Đen), dân tộc Tày (có thêm ngành Pà Dí, Thu Lao), dân
tộc Bố Y, dân tộc Nùng, dân tộc Gáy, dân tộc Lự, dân tộc Lào, dân tộc
Kháng, dân tộc La Ha, dân tộc La Chí, dân tộc phù Lá (có ngành Xá
Phó), dân tộc Hà Nhì…
- Địa bàn: Mỗi dân tộc, mỗi ngành trong dân tộc đều cư tru tập trung
từng làng. Vì vậy lựa chọn mỗi dân tộc có khảo sát điểm 1 làng, khảo sát
diện 2 làng để so sánh. Tổng số làng khảo sát trong 2 năm 2002 và 2003
là 69 làng thuộc 9 huyện.
- Làng văn hoá các dân tộc ở Lào Cai tại khu vực thành phố Lào Cai giai
đoạn 2005-2010).
Mỗi làng văn hoá dân tộc đều phục dựng lại các ngôi nhà từng tộc người
có đặc trưng văn hoá riêng, còn giữ yếu tố cổ truyền, có các công trình
tôn giáo (miếu thờ, nơi thờ đá, thờ rừng và các cơ sở sản xuất nghề thủ
công tiêu biểu, có khuôn viên tổ chức các sinh hoạt văn hoá). Trong đó
coi trọng các kiểu nhà sàn người Thái, Tày, nhà nửa sàn nửa đất của
người Dao, nhà đất tường chình lợp Pơ mu của người Mông, nhà đất có
gác lửng của người Nùng, Gáy, nhà đất mái tròn theo kiểu pháo đài của
người Hà Nhì
2.3. Bảo tồn 8 nghề thủ cống truyền thống ở làng cố truyền:
- Các nghề bảo tồn giai đoạn 2001-2005.
+ Nghề trồng lanh, dệt vải lanh, thêu hoa văn, in hoa văn sáp ong của
người Mông ở làng Cát Cát (Sa Pa), Bản Phố (Bắc Hà).
+ Nghề làm đồ mộc, sản xuất thùng đựng nước, đồ gỗ của người Mông
láng Cát Cát, Bản phố.
+ Nghề rèn đúc, chạm khắc bại, sản xuất đồ trang sức của người Mông ở
làng Cát Cát, Bản Phố.
+ Nghề làm giấy, tranh cắt giấy của người Dao Tả Phìn.
+ Nghề trồng bông, trồng dâu nuôi tằm, dệt thổ cẩm của người Tày ở Bản
Dền.
+ Nghề đan lát của người Xá Phó ở làng Nậm Sang xã Nậm Sài huyện Sa
Pa.
+ Nghề nấu rượu cổ truyền ở Bản Phố (Bắc Hà), San Lùng (Bát Xát).
+ Nghề sản xuất nhạc cụ dân tộc.
- Mục đích bảo tồn: Nhằm giữ gìn bản sắc nghiên cứu, phục vụ du lịch là
chủ yếu.
2.4. Bảo tồn trùng tu tôn tạo các di tích quốc gia đã được công nhận
và đầu tư nghiên cứu quy hoạch hệ thống di tích xếp hạng văn hoá,
danh lam thắng cảnh đề nghị xếp hạng di tích cấp tỉnh, và di tích Quốc
Mông, Dao, Giáy, Bố Y, Hà Nhì. . .
+ Giai đoạn 2006-2010 lựa chọn lập hồ sơ khoa học bảo tồn 50 di sản.
văn hoá phi vật thể, sản xuất và phát hành các bộ đĩa dân ca các dân tộc
Kháng, La Ha, Phù Lá (cả ngành Xá Phó), Nùng, Tày, Thái, Lự, La Chí.
3. Sưu tầm các di sản văn hoá
3.1. Sưu tầm các hiện vật, di vật, cổ vật, bổ sung bảo tàng tỉnh và bảo
tàng chuyên ngành Trung ương:
- Đối tượng sưu tầm: Sưu tầm các bộ sưu tập về công cụ sản xuất, săn
bắn, hái lượm, các nhạc cụ cổ truyền, các bộ y phục, đồ trang sức, các
sách cổ, tranh thờ cổ… của các dân tộc, các ngành trong từng dân tộc:
- Chỉ tiêu:
+ Giai đoạn năm 2001-2005 tập trung sưu tầm toàn bộ các bộ trang phục
cổ truyền, các bộ nhạc cụ, các loại sách cổ, tranh thờ cổ, các công cụ cổ
truyền có xu hướng mai một (84 bộ trang phục, 11 bộ nhạc cụ 10 bộ
tranh thờ cổ, 23 bộ công cụ, 1.000 cuốn sách cổ).
+ Giai đoạn 2006-2010 sưu tầm toàn bộ di sản vật thể còn lại:
3.2. Sưu tầm các di sản văn hoá phi vật thể bằng phương pháp quay ca
mê ra, ghi âm, chụp ảnh kỹ thuật số, in đĩa CD-ROM, lưu vi tính, quản
lý bằng công nghệ tin học nhằm bảo quản lâu dài, khoa học.
Đối tượng sưu tầm: Sưu tầm các sinh hoạt lễ - tết - hội, các di sản dân
ca, dân vũ, văn học dân gian, nghệ thuật tạo hình, hoa văn, các phong tục
tập quán liên quan đến việc sinh đẻ, nuôi con, làm nhà mới, cưới xin, ma
chay, bảo vệ rừng, nguồn nước, các phong tục liên quan đến cây trồng,
vật nuôi chủ yếu…
- Chỉ tiêu sưu tầm:
+ Giai đoạn từ năm 2001-2005 tập trung sưu tầm 10 lễ - tết - hội, 20
phong tục tập quán, toàn bộ kho tàng văn hoá dân gian của 6 dân tộc và
ngành có số dân ít, có nhiều khả năng mai một nhanh chóng di sản văn
hoá như người Bố Y, người Kháng, La Ha, dân tộc Dao và ngành H'mông
Xanh dân tộc H'mông, ngành Xá Phó dân tộc Phù Lá, La Chí.
đấu thể thao dân tộc. Đồng thời trao truyền, phổ biến các trò chơi.
- Đầu tư sưu tầm, ghi âm, sản xuất các băng video, băng catset về dân ca,
độc tấu nhạc cụ các dân tộc được nâng cao phát hành rộng rãi đến từng
vùng dân tộc, từng thôn bản.
5. Xây dựng các môi trường trao truyền, làm giàu bản sắc văn hoá
dân tộc:
Bản sắc văn hoá dân tộc được trao truyền tử thế hệ này đến thế hệ khác,
được tiếp thu làm giàu thêm sắc thái là nhờ ở các môi trường văn hoá
như gia đình, dòng họ, làng bản Vì vậy tập trung nghiên cứu xây dựng
các gia đình, dòng họ, làng bản trở thành môi trường bảo tồn gìn giữ bản
sắc văn hoá dân tộc Chỉ tiêu phân đấu đến năm 2005 có 80% hộ gia
đình, 50% số thôn đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, làng bản văn hoá.
Đồng thời đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hoá ở khu dân cư.
6. Xây dựng một số thiết chế bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc:
Giai đoạn từ 2001 - 2005:
+ Tập trung xây dựng Bảo tàng tổng hợp tỉnh Lào Cai trở thành một
trung tâm bảo quản, trưng bày, nghiên cứu khoa học về các sưu tập hiện
vật, di vật cổ vật văn hoá các dân tộc.
+ Xây dựng phòng trưng bày văn hoá dân tộc tại Sa Pa và Bắc Hà.
+ Xây dựng Nhà văn hoá tỉnh - một trung tâm tổ chức các hoạt động văn
hoá và đào tạo, tập huấn, hướng dẫn bảo tồn, khai thác, phát huy các di
sản văn hoá dân tộc.
+ Xây dựng làng văn hoá các dân tộc ở Sa Pa
- Giai đoạn 2006 - 2010:
+ Xây dựng làng văn hoá các dân tộc tại thành phố Lào Cai.
Về đầu tra ng
III. Các giải pháp:
l. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền:
Phải tạo sự chuyển biến về nhận thức và sự đổi mới trong công tác lãnh
2.2. Củng cố và phát triển các chi hội văn nghệ dân gian, chi hội văn học
nghệ thuật dân tộc thiểu số, chi hội dân tộc học nhằm tập hợp lực
lượng đẩy mạnh công tác nghiên cứu, sưu tầm, phổ biến di sản văn hoá
các dân tộc.
2.3. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng hệ thống các cán, bộ nghiệp
vụ và quản lý ở cấp huyện và cơ sở về kiến thức vãn hoá các dân tộc.
Đặc biệt thường xuyên mở các lớp tập huấn về phương pháp nghiên cứu,
sưu tầm phổ biến, quản lý di sản văn hoá dân tộc cho đội ngũ cán bộ văn
hoá, đội ngũ các nghệ nhân, cộng tác viên ở các cơ sở.
2.4. Đẩy mạnh liên kết với các viện nghiên cứu, các trường đại học, các
hội chuyên ngành ở Trung ương tổ chức nghiên cứu, sưu tầm bảo tồn
khai thác, phát huy các di sản văn hoá ở Lào Cai.
3. Có cơ chế chính sách phù hợp:
3. 1. Vấn đề nghiên cứu sưu tầm, bảo tồn, phát huy di sản văn hoá các
dân tộc là lĩnh vực đòi hỏi lao động sáng tạo, đầu tư chất xám. Xem xét
vận dụng thông tư Liên bộ Tài chính - Khoa học Công nghệ và Môi
trường số 45/2001/TTLT/BTC - KHCNMT ngày 18/6/200/ cho chi tiêu
đối với các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn, phát huy các.di sản
văn hoá.
3.2. Xây dựng chế độ thù lạo hợp lý đối với các nghệ nhân cung cấp
thông tin, truyền dạy, phổ biến tri thức di sản văn hoá phi vật thể. Đặc
biệt coi trọng việc khuyến khích các nghệ nhân truyền dạy văn hoá phi
vật thể cho thế hệ trẻ.
3.3. Xây dựng một số chính sách về bảo tồn di sản văn hoá:
- Các di tích lịch sử - văn hoá là các công trình đền, chùa, miếu khi
trùng tu tôn tạo sẽ thành lập quỹ trùng tu di tích. Quỹ kêu gọi sự ủng hộ,
giúp đỡ vốn đối với các nhà hảo tâm, các doanh nghiệp. Các công trình
này có bia khắc tên ghi cộng tập thể, cá nhân ủng hộ theo quy chế.
- Các di tích có nguồn thu được trích một phần kinh phí thu được cho cơ
sở có di tích phục vụ vào việc bảo vệ, chi phí quản lý di tích, nhằm gắn
5. Hình thành hệ thống thiết chế văn hoá - thể thao với những hoạt động
phong phú, đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc tạo thêm những nguồn thu
ngân sách phục vụ yêu cầu phát triển của tỉnh nhà.