BỘYTẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
• • • •
TỐNG^^ :uẤN
u . ĩ o
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIA KẾT QUẢ ĐlỂU TRỊ
TRONG GIAI ĐOẠN TÂN CÔNG
VÀ NỔNG ĐỘ RIFAMPICIN HUYẾT TƯƠNG
BỆNH NHÂN LAO PHỔl AFB (+)
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DUỢC s ĩ KHOÁ 2000 - 2005)
Người hướng dẫn : ThS. Lê Thị Luyến
Nơi thực hiện : Bệnh viện Lao và bệnh phổi Hà Nội
Trường Đại học Dược Hà Nội
Thời gian thực hiện : 07/2004 - 03/2005
HÀ NỘI, THÁNG 5 - 2005.
.
'
Mời eảm ổn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.s Lê Thị Luyến -Trường Đại
học Dược Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận tốt
nghiệp.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đơn vị:
• Bộ môn Dược lâm sàng - Trường Đại học Dược Hà Nội
• Ban giám đốc Bệnh viện lao và bệnh phổi Hà Nội
• Phòng kế hoạch tổng hợp - Bệnh viện lao và bệnh phổi Hà Nội
• Phòng khám lao các quận huyện trên địa bàn Hà Nội
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN c ú u 21
2.1.1. Số lượng bệnh nhân 21
2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ bệnh nhân
21
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ ư 21
2.2.1. Loại hình nghiên cứu và nội dung nghiên cứu 21
2.2.2. Phương pháp tiến hành 22
2.2.3. Phương pháp thống kê xử lý số liệu
24
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN cứ u VÀ BÀN LUẬN 25
3.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐỂM CỦA BỆNH NHÂN NGHIÊN c ứ u 25
3.1.1. Phân bố theo nhóm tuổi của bệnh nhân nghiên cứu
25
3.1.2. Phân bố theo giới tính
26
3.1.3. Thể lao 27
3.1.4. Phác đồ điều trị lao 27
3.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG SAU 2 THÁNG ĐlỀU TRỊ
TẤN CÔNG 28
3.2.1. Sự cải thiện về các triệu chứng lâm sàng
28
3.2.2. Sự cải thiện về vi sinh 29
3.2.3. Những tác dụng không mong muốn biểu hiện trên lâm sàng 30
3.3. NỒNG ĐỘ RIFAMPICIN TRONG HUYÊT TƯƠNG BỆNH NHÂN .30
3.3.1. Nồng độ rifampicin trên bệnh nhân ở thời điểm 2 giờ
31
mắc và tử vong hàng đầu trong các bệnh nhiễm trùng trên thế giới. Vói sự ra
đời của hàng loạt các thuốc chống lao, y học hoàn toàn có khả năng chống lại,
khống chế và thanh toán bệnh lao. Tuy nhiên hiện nay bệnh lao vẫn không
giảm mà còn có chiều hướng gia tăng mạnh mẽ không chỉ ở các nước đang
phát triển mà còn quay trở lại cả ở những nước tưởng chừng đã thanh toán
được bệnh lao. Trong cuộc chiến chống lại bệnh lao, hoá trị liệu đóng vai trò
hết sức quan trọng. Năm 1995, phác đồ hoá trị liệu ngắn ngày được phổ biến
trong phạm vi toàn cầu cho phép rút ngắn thời gian điều trị, âm hoá nhanh vi
khuẩn trong tổn thương, tăng tỷ lệ khỏi bệnh, tỷ lệ tái phát giảm, hạn chế phát
sinh các chủng vi khuẩn kháng thuốc, làm tăng thuận lợi cho người bệnh và
những cơ hội hợp tác giữa thầy thuốc và người bệnh sẽ tốt hofn.
Theo báo cáo “Kiểm soát lao toàn cầu năm 2003” của WHO, có
155/210 nước trên thế giới thực hiện DOTS, 61% dân số thế giới được cung
cấp dịch vụ của DOTS, ở Việt Nam, đến năm 2000, 100% dân cư đã được bao
phủ bởi DOTS. Thực tế hiện nay vấn đề giám sát sử dụng thuốc của bệnh nhân
chưa tưoỉng xứng với tầm quan trọng của nó. Việc đánh giá kết quả điều trị
trong hai tháng tấn công có vai trò trong việc dự đoán sófm nguy cơ thất bại
điều trị. [13]
Rifampicin là một trong các thuốc chống lao thiết yếu, nhiều ưu thế
nhất trong hoá trị liệu bệnh lao [9]. TCYTTG và Hiệp hội bài lao và bệnh phổi
quốc tế (lUATLD) khuyến cáo nên dùng rifampicin dưới dạng thuốc chống
lao kết hợp do các ưu điểm đơn giản hóa được công tác kê đơn và điều trị lao,
làm bệnh nhân dễ tuân thủ yêu cầu điều trị và giảm phát triển chọn lọc chủng
Mycobacterium tuberculosis kháng rifampicin. Tuy nhiên, rifampicin có đặc
điểm là khác biệt rất lớn về nồng độ hấp thu được giữa các cá thể và nguy cơ
giảm sinh khả dụng trong những chế phẩm thuốc viên hỗn hợp cố định liều.
Nguy cơ nồng độ rifampicin thấp sẽ dẫn tới tỷ lệ tái phát và đcfn kháng cao
[15].
Một số nghiên cứu trên thế giới [15], [16], [18], [19], [20] đã tiến hành
định lượng rifampicin huyết tương bệnh nhân. Cho đến nay ờ Việt Nam, có
giới). Bệnh lao là bệnh của người nghèo, lây lan nhanh chóng trong cộng đồng
có điều kiện sống chật chội, thiếu vệ sinh, thông khí và dinh dưỡng kém. [2]
Do đó khoảng 95% số bệnh nhân mới và 98% số người chết do bệnh lao thuộc
các nước nghèo, các nước đang phát triển. Mức độ nặng nề của bệnh lao đã
ảnh hưởng tới thu nhập quốc dân và chỉ số phát triển con người của các quốc
gia. [2]
Hơn 33% số bệnh nhân lao trên thế giới thuộc các nước Đông Nam Á. Dự
báo tình hình dịch tễ lao toàn cầu sẽ tăng nhanh nếu công tác chống lao chỉ ở
mức độ hiện thời. Đặc biệt, bệnh lao có xu hướng tăng nhanh do ảnh hưởng
của đại dịch HIV/AIDS và tình trạng lao kháng thuốc như hiện nay [2].
TCYTTG đã đưa ra bốn nguyên nhân cho tình trạng bệnh lao quay trở lại
trên toàn cầu:
• Do đại dịch HIV: Một người bình thường nếu bị nhiễm lao sẽ có nguy
cơ 5 - 10% mắc bệnh lao trong cuộc đời. Nhưng một người nhiễm lao đồng
thời nhiễm HIV thì nguy cơ đó là 20 - 30%.
• Đối với các nước công nghiệp phát triển, có nguyên nhân do từ những
nơi có lưu hành lao cao tới.
• Do tình hình bùng nổ dân số thế giới khiến cho số lượng bệnh nhân
tuyệt đối không ngừng gia tăng, mặc dù tỷ lệ mắc lao tỷ đối có thể giảm.
• Sự lơ là của xã hội và chính phủ nhiều quốc gia, kèm vód việc tổ chức
CTCLQG kém cỏi ít hiệu quả [1].
Đại dịch HIV và bệnh lao là hai người bạn đồng hành và có tác động hỗ
trợ rất đắc lực cho nhau. Vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng ở các nước
đang phát triển, do khả năng khống chế hai căn bệnh này là vô cùng khó
khăn.[l], [2]
1.1.2. ở Việt Nam
Theo thống kê của WHO, Việt Nam là nước đứng thứ 13 trong 22 nước
có số người mắc bệnh lao cao trên ũiế giới. Trong khu vực Tây Thái Bình
Dương, Việt Nam đứng thứ 3 về số lượng bệnh nhân lao sau Trung Quốc (hofn
450.000 bệnh nhân) và Philippin (hcfn150,000 bệnh nhân) [2], [13].
đến một mức nhất định thì có một số vi khuẩn lao phát triển khác thưòỉng đột
biến và trở nên kháng thuốc. Những vi khuẩn này gọi là vi khuẩn lao đột biến
kháng thuốc. Quần thể vi khuẩn lao càng lớn thì khả năng đột biến kháng
thuốc tự nhiên càng lófn. Tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc lao tự nhiên khác nhau
tuỳ theo từng loại thuốc chống lao: RMP (1.10'*), INH (1.10'^), SM (1.10'®),
EMB (I.IO '^). Sự hiện diện của vi khuẩn lao kháng thuốc tự nhiên có ý nghĩa
quan trọng trong điều trị lao, đây là nguyên nhân của thất bại điều tri và lý do
cần phải phối hợp thuốc trong điều trị lao [3], [12].
1,2,13, Các quần thể vi khuẩn lao
Vi khuẩn lao là những vi khuẩn ái khí, chúng phát triển mạnh và tích
cực chuyển hoá trong môi trưòỉng có áp lực oxy và pH thích hợp. Điều kiện lý
tưởng cho sự phát triển của vi khuẩn lao là pH = 7,4 và áp lực oxy 110 - 140
mmHg [8]. Đặc điểm trong môi trường mà vi khuẩn lao tồn tại là cơ sở để
thiết lập phác đồ điều trị phối hợp các thuốc chống lao và thời gian điều trị.
Các quần thể lao gồm:
• Quần thể A: các vi khuẩn chuyển hoá tích cực và phát triển nhanh
Quần thể này có số lượng nổi bật nhất là 10^- 10® vi khuẩn. Các vi khuẩn này
dễ được phát hiện do được bài tiết ra ngoài (bằng ho khạc đờm). Những vi
khuẩn này nằm ngoài tế bào và cư trú ở vách hang lao, có pH và áp lực oxy lý
tưởng, thuận lợi cho phát triển của vi khuẩn. Quần thể này bị tiêu diệt nhanh
bởi thuốc chống lao RMP, INH, SM. Độ mạnh của phác đồ điều trị để loại trừ
quần thể vi khuẩn này liên quan đến tác dụng diệt khuẩn của thuốc, được đánh
giá bằng kết quả nuôi cấy âm tính sau 2 tháng tấn công.
• Quần thể B: các vi khuẩn trong môi trường acid
Gồm những vi khuẩn lao bị đại thực bào thôn tính, vi khuẩn nằm trong tế bào
có pH toan do đó vi khuẩn phát triển chậm. Chỉ có pyrazinamid có tác dụng
trong môi trường toan mới có tác dụng diệt vi khuẩn, RMP cũng có tác dụng,
INH rất ít tác dụng, SM không có tác dụng vói loại vi khuẩn này.
• Quần thể C: các vi khuẩn phân chia không thường xuyên
Gồm những vi khuẩn lao nằm trong ổ bã đậu, môi trường yếm khí nên vi
yếu), có chỉ số điều trị cao, ít tác dụng không mong muốn hơn :
isoniazid, rifampicin, pyrazinamid, ethambutol và streptomycin.
• Nhóm 2: là những thuốc ít dùng hơn, chỉ dùng để thay thế khi vi khuẩn
lao kháng thuốc, phạm vi điều trị hẹp và có nhiều tác dụng không mong
muốn: ethinamid, para-amino salicylic (PAS), cycloserin, amikacin,
kanamycin, capreomycin, thioacetazone, quinolon, rifabutin
I.2.2.2. Các đặc điểm của thuốc kháng lao tốt
Một thuốc kháng lao tốt khi có các đặc điểm sau đây:
• Khả năng diệt khuẩn mạnh.
• Thuốc có nồng độ ức chế tối thiểu thấp.
• Có tỷ lệ đột biến kháng tíiuốc thấp.
• Nồng độ đạt được trong huyết thanh cao (đặc biệt là trong tổ chức).
• ít có tác dụng không mong muốn khi dùng riêng và khi phối hợp với
các thuốc khác.
• Rẻ tiền dễ sử dụng.
1.2.23. Các thuốc chống lao chủ yếu
Hiệu lực của thuốc chống lao
Hiệu lực của thuốc chống lao được tính theo mức độ sinh sản của vi
khuẩn. Theo Grosset (1995) hiệu lực của thuốc chống lao được thể hiện ở bảng
1.1.
Bảng 1.1 : Hiệu lực của thuốc chống lao
Thuốc
chống lao
Tác dụng diệt khuẩn
Sinh sản
mạnh
Sinh sản chậm
Vi khuẩn
ngủ
pH acid
Mạnh
Rifampicin
Diệt khuẩn
Tiệt khuẩn
Vi khuẩn trong tế bào
Vi khuẩn ngoai tế bào
Vi khuẩn trong các chất cặn bã
Mạnh
Pyrazinamid
Diệt khuẩn
Tiểt khuẩn
Vi khuẩn trong tế bào
Yếu
Streptomycin Diệt khuẩn
Vi khuẩn ngoài tế bào
Yếu
Ethambutol
Kìm khuẩn
Vi khuẩn trong tế bào
Vi khuẩn ngoai tế bào
Yếu
Sơ đồ hoá tác dụng của các thuốc trên ta có:
Khả năng diệt khuẩn [13]
Manh
Rifampicin
Isoniazd
Pyrazinamid
Streptomycin
Ethambutol
Yếu
15(12-18)
1.2 2.4 Rifampicin ti'ong hoá trị liệu bệnh lao
a) Lịch sử phát triển và đặc điểm
Năm 1957, hãng lepetit đã phân lập được 1 chủng Streptomyces ký hiệu
ME/83, sau đó đặt tên là Streptomyces medỉterranei từ mẫu đất lấy từ một
vưòỉn cây thân gỗ gần vùng Saint Raphael (Pháp). Từ loại nấm này, Oppolzer
và cộng sự đã chiết xuất ra một vài loại rifamycin, trong đó có rifamycin s và
rifamycin SV. Rifamycin SV chỉ được sử dụng theo đường tiêm truyền vì hấp
thu kém khi dùng theo đường uống. Rifampicin là kháng sinh bán tổng hợp,
dẫn chất của rifamycin B. Rifampicin dạng bột tinh thể có màu nâu đỏ, ít tan
trong nước [4, 14], ổn định trong dimethyl sulfoxid, tương đối ổn định trong
nước. Dễ tan trong cloroform, dimethylsulfoxid, tan trong ethyl acetat,
methanol, tetrahydrofuran, tan it trong nước (pH < 6), aceton,
carbontetraclorid, dễ bị phân huỷ bởi nhiệt độ và ánh sáng. Các chế phẩm
thường dùng dạng viên đơn hoặc viên hỗn họfp với isoniazid và pyrazinamid
ngoài ra trên thị trường còn có thể có dạng bột pha tiêm có chứa natri
formaldehyd sulfoxylat.
b)Tác dụng, cơ chế tác dụng và cơ chế đề kháng
i) Tác dụng
Rifampicin có hoạt tính với các Mycobacteria, đặc biệt là M.
tuberculosis, M. leprae và các Mycobacterium khác như M. avium, M. bovis.
Nồng độ ức chế tối thiểu invitro đối với vi khuẩn lao là 0,1 - 2 |Lig/ml [4].
Rifampicin có tác dụng với những vi khuẩn lao nội bào và ngoại bào đặc biệt
có tác dụng với những vi khuẩn lao phát triển chậm.
Rifampicin còn là một kháng sinh phổ rộng, có tác dụng tốt với vi
khuẩn gram dương như s. aureus. Bacillus anthracis và gram âm như N.
megingitidis, H. influenzae, Brucella melỉtensỉs, Legionella pneumophyla,
riêng với các cầu khuẩn ruột chưa khẳng định chắc chắn hiệu quả lâm sàng.
Rifampicin có tác dụng rất tốt đối với tụ cầu (cả s. aureus, và s. epidermỉdỉs),
kể cả các chủng đã kháng penicillin. Nồng độ ức chế tối thiểu của tụ cầu là
bố rộng rãi vào các mô và dịch cơ thể, khuếch tán vào dịch não tuỷ khi màng
não bị viêm. Thuốc vào cả nhau thai và sữa mẹ. Nồng độ trong thành hang lao,
nhu mô phổi và thận cao hơn so với trong huyết tương, nồng độ trong màng
phổi, xưoỉng thấp hơn trong huyết tương. Khả năng thấm vào dịch não tuỷ và
chất bã đậu rất kém chỉ đạt 20% so với trong huyết tương [4, 14]. Nồng độ
rifampicin huyết tương phụ thuộc nhiều vào quá trình sản xuất chế phẩm. Nếu
thay đổi kích thước phân tử hay tá dược, mặc dù cùng hàm lượng như nhau
nhưng nồng độ thuốc hấp thu vào máu khác nhau. Sự giảm sinh khả dụng hay
xảy ra với dạng chế phẩm hỗn hợp cố định liều.
Rifampicin chuyển hoá ở gan, thuốc bị khử acetyl nhanh thành chất
chuyển hoá có hoạt tính 25-0-desacetyl-rifampicin. Các chất chuyển hoá khác
không còn hoạt tính là: rifampin quinon, desacetyl rifampin quinon và 3-
formyl-rifampin. Rifampicin thải trừ qua mật, nước tiểu dưới dạng không
chuyển hoá, chất chuyển hóa và trải qua chu trình ruột - gan. 60-65% liều
dùng thải trừ qua mật và được bài tiết qua phân, 10% thuốc thải trừ ở dạng
không biến đổi trong nước tiểu, 15% chất chuyển hoá còn hoạt tính
25-0-desacetyl-rifampicin và 7% dẫn chất 3-formyl-rifampin không hoạt tính.
Thời gian bán thải của rifampicin là 3 - 5 giờ sau khi uống liều đầu, khi uống
lặp lại là 2 - 3 giờ. Thời gian bán thải kéo dài ở người suy gan.[4]
d) Tác dụng không mong muốn
Bảng 1.4: Các tác dụng không mong muốn của rifampicinl4]
Thường gặp
(>5%)
ít gặp (>1%0 - 1%)
Hiếm g ặ p (< l% o )
* Gan: tăng
transaminase,
phosphatase kiềm,
bilirubin huyết thanh.
* Tiêu hoá: buồn
Tăng bilirubin huyết thanh cao hơn giới hạn bình thưcmg ngay trong
những ngày đầu điều trị nhưng sẽ trở về bình thường trong vòng 2 tuần.
Phản ứng miễn dịch toàn thân như sốt, rét run hiếm gặp trong thời gian
điều trị liên tục. Nếu có ban hoặc xuất huyết hoặc đột ngột giảm chức năng
thận thì cần dùng rifampicin ngay (hay gặp trong điều trị cách nhật).
Giảm chức năng thận trước khi dùng rifampicin không cản trở việc điều
trị (tuy nhiên cần giảm liều hoặc tăng khoảng cách đưa thuốc).
Với bệnh nhân cao tuổi hoặc nghiện rượu hoặc bị các bệnh gan sẽ tăng
nguy cơ độc với gan nhất là khi rifampicin phối họfp với isoniazid
e) Chỉ định
Rifampicin tác dụng với rất nhiều loại vi khuẩn, nhưng hiện nay
sử dụng ưu tiên trong điều trị lao phong. Qiỉ sử dụng rifampicin để điều trị các
nhiễm khuẩn khác khi thật cần thiết
- Điều trị tất cả các thể lao bao gồm cả lao màng não và nhiễm
M. avium thường phải phối hợp với các thuốc chống lao khác như isoniazid,
pyrazyamid, ethambutol, Streptomycin để phòng trực khuẩn đột biến kháng
thuốc.
- Điều trị phong: đối vód thể phong ít vi khuẩn theo phác đồ kết
hợp 2 thuốc, phối hợp rifampicin với dapson. Đối với thể phong nhiều vi
khuẩn, theo phác đồ 3 thuốc phối họfp rifampicin vói dapson và clofazimin
- Một số chỉ định khác: Phòng viêm não do H. influenzae, N.
meningitidis cho những người tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân chắc chắn
mắc bệnh đó.
- Điều trị các nhiễm khuẩn nặng do các chủng Staphyloccocus, kể
cả các chủng đã kháng methicillin và đa kháng (phối hợp với các thuốc chống
tụ cầu) như viêm nội tâm mạc, viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết và viêm tuỷ
xương. [4]
f) Chống chỉ định và thận trọng
- Chống chỉ định
* Mẫn cảm với rifampicin
erythromycin, cloramphenicol, haloperidol
* Các thuốc bị giảm hấp thu gồm: co — trimoxazol
* Một số thuốc dùng cùng với rifampicin sẽ làm giảm hấp thu của
rifampicin: Các kháng acid, clofazimin. Khắc phục bằng cách uống cách nhau
8 -12 giờ.
* Ngoài ra isoniazid và các thuốc độc với gan dùng phối họfp với
rifampicin sẽ làm tăng nguy cơ gây độc tính với gan, nhất là người đã bị suy
gan.[4]
1.2.3. Các nguyên tắc cơ bản trong điều trị bệnh lao
Dựa trên cơ sở vi khuẩn học và dược lý học để đưa ra các nguyên tắc
điều trị lao:
1) Phối hợp các thuốc chống lao: ít nhất là 3 loại thuốc trở lên trong
giai đoạn tấn công. Những nơi có bệnh nhân kháng thuốc ban đầu cao cần
phối hợp 4 loại thuốc trong giai đoạn tấn công sau đó dùng 2 hoặc 3 loại thuốc
trong giai đoạn duy trì.
2) Thuốc phải dùng đúng liều trong ngày và cả trong quá trình điều trị:
các thuốc chống lao có tác dụng hiệp đồng, mỗi thuốc có một nồng độ tác
dụng nhất định, nếu dùng liều thấp sẽ không hiệu quả và dễ tạo ra chủng vi
khuẩn kháng thuốc, dùng liều cao dễ gây tai biến đặc biệt là đối với gan và
thận.
3) Thuốc phải dùng đều đặn: các thuốc phải được tiêm và uống cùng
một lúc, cố định giờ trong ngày để có thể đạt được nồng độ đỉnh trong huyết
thanh, thuốc phải được uống xa bữa ăn (trước hoặc sau) để đạt được hấp thu tối
đa.
4) Dùng thuốc đủ thời gian để tránh tái phát
5) Điều trị theo 2 giai đoạn duy trì và tấn công
* Giai đoạn tấn công kéo dài 2 - 3 tháng: mục đích giảm nhanh số
lượng vi khuẩn lao trong các vùng tổn thương để ngăn chặn đột biến kháng
thuốc.
* Giai đoạn duy trì kéo dài 4 - 6 tháng: mục đích tiêu diệt các vi khuẩn
ngày
II
Bệnh nhân lao phổi có kết quả soi đờm
dương tính đã từng được điều trị:
- bị tái phát
- điều trị bị gián đoạn
- điều trị thất bại
2 HRZES/1HRZE
5HRE
III
Bệnh nhân lao phổi, kết quả soi đờm
âm túih (trừ bệnh nhân nhóm 1)
Bệnh nhân lao ngoài phổi mức độ nhẹ
2HRZE
4 HR hoặc 6
HE
dùng hàng
ngày
IV
Bệnh nhân lao đa kháng thuốc (kết quả
soi đờm dương túứi sau khi điểu trị lại
có kiểm soát)
Phác đồ được thiết kế phù hợp cho
từng bệnh nhân
Dùng hàng ngày hoặc 3 lần/tuần
1.3. MỘT SỐ NGHIÊN cú u VÊ KẾT qu ả ĐIỀU trị sau 2
THÁNG TẤN CÔNG VÀ NồNG ĐỘ RIFAMPICIN HUYẾT TƯƠNG
BỆNH NHÂN LAO
Một số nghiên cứu trên thế giới theo dõi kết quả điều trị sau 2 tháng tấn
công bằng 2SHRZ/6HE, kết quả âm hoá đờm cao, dao động từ 64,1 - 98% [7].
độc.
Một số kết quả nghiên cứu của các tác giả [15], [16], [18], [19], [20] ừên
thế giói cho thấy kết quả nồng độ rifampicin dao động lớn giữa các cá thể và
một số nghiên cứu lại cho thấy nồng độ của thuốc thấp trên đa số bệnh nhân
nghiên cứu.
Tại Việt Nam, những nghiên cứu đầu tiên về nồng độ rifampicin huyết
tương đã được công bố.
Lê Thị Luyến và cộng sự [10] nghiên cứu đánh giá sinh khả dụng của
rifampicin trong viên hỗn hợp 2 và 3 thành phần đang sử dụng tại Việt Nam,
được tiến hành trên 12 người tình nguyện lấy máu tại 13 điểm cho kết quả như
sau:
Bảng 1.6; Sinh khả dụng tương đối của rỉýampỉcin trong viên RH, RHZ
so với viên đơn lẻ và các thông số dược động học [10]
Chế phẩm
Cmax
(ng/ml )
Tmax
(giờ)
Sình khả dụng
tương đối (%)
Viên đơn lẻ
10,44 + 2,10
1,04 ±0,30
100
RH
6,48 ± 1,85 2,38 ± 0,93
63,3
RHZ
5,59 ± 1,86
3,33 ± 0,98