BỘYTẾ
TRƯỜNG ĐẠI iiọ c Dược HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ BÍCH HỔNG
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH vụ Dược
• • • •
CỦA CÁC NHÀ THUỐC Tư NHÂN
TẠI HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Dược SỸ ĐẠI HỌC
KHÓA 2000-2005
Người hướng dẫn : TS. NGUYỄN THANH BÌNH
Nơi thực hiện : BỘ MÔN QUẢN LÝ KINH TẾ Dược
Thời gian thực hiện : 11/2004 - 5/2005
HẦ NỘI, THÁNG 5/2005
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS.Nguyễn
Thanh Bình người thầy trực tiếp hướng dẫn, đã dành nhiều công sức giúp
đỡ và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình nghiên
cứu và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp.
Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo của bộ môn Quản lý kinh tế
dược đã nhiệt tình giúp đỡ tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khoá luận.
Tôi cũng xin cảm ơn các bạn sinh viên K56 trường Đại học dược Hà
Nội và cắc nhà thuốc khảo sát đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong qua trình thực
hiện đề tà i.
Cuối cùng, tôi vô cùng cảm ơn gia đinh, bạn bè và người thân đã
động viên và hết lòng giúp đỡ để tôi hoàn thành khoá luận này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2005
Nguyễn Thị Bích Hồng
CÁC BẢNG ĐÃ SỬ DỤNG
Bảng
Tên bảng
Trang
Những lời khuyên của ngưòi bán thuốc khi hỏi
mua Amoxicilin
28
Bảng 11
Các thuốc kháng sinh mua được khi hỏi mua
Amoxicilin
28
Bảng 12
Các hướng dẫn sử dụng thuốc ở tình huống mua
Amoxicilin
29
Bảng 13
Các câu hỏi của ngưòi bán hàng khi hỏi mua
Prednisolon
29
Bảng 14
Những ỉời khuyên của người bán thuốc khi hỏi
mua Prednisolon
30
Bảng 15
Những thuốc đã bán khi hỏi mua Prednisolon
31
Bảng 16
Các hướng dẫn sử dụng thuốc ở tình huống mua
Prednisolon
31
Bảng 17
Số lượng, tỷ lệ % thuốc có SDK
32
Bảng 18
16
PHẦN 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u
21
2.1. Đối tượng nghiên cứu 21
2.2. Mẫu nghiên cứu
21
2.3. Phương pháp nghiên cứu
.
21
2.4. Phương pháp xử lý số liệu
.
. 23
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN cứu VÀ BÀN LUẬN 23
3.1. Khảo sát về cơ sở vật chất 23
3.1.1. Diện tích nhà thuốc
.
23
3.1.2. Cách sắp xếp quầy tủ 23
3.1.3. Thực hiện mặc áo blu, đeo thẻ khi bán hàng của ngưcd
bán thuốc
3.1.4. Thực hiện niêm yết giá thuốc
a. Những câu hỏi ngưòi bán thuốc đã hỏi khách hàng
29
b. Những lời khuyên của ngưòi bán thuốc
30
c. Những thuốc đã bán khi khách hàng hỏi mua Prednisolon
31
d. Hướng dẫn sử dụng thuốc trong tình huống muaPrednisolon 31
3.3.3. Chất lượng thuốc
32
a. Thuốc có số đăng ký
32
b. Hạn dùng của thuốc
33
c. Thuốc có ghi nhãn đầy đủ và có bao bì đựng
33
3.4. Bàn luận
.
34
3.4.1. Đánh giá về cơ sở vật chất của nhà thuốc
34
3.4.2. Đánh giá về trình độ chuyên môn của ngưòi bán thuốc
3.4.3. Đánh giá kiến thức và kỹ năng thưc hành của ngưcd bán
36
thuốc
.
ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ ngưcd ốm không đi khám bác sĩ mà đến
hiệu thuốc để mua thuốc tự điều trị rất cao, Vì vậy, chất lượng dịch vụ Dược
của các hiệu thuốc có vài trò rất lớn trong công tác phòng và chữa bệnh cho
nhân dân, nhưng theo khuynh hướng chạy theo lợi nhuận các nhà thuốc tư
nhiều khi không thực hiện đúng chức năng chuyên môn của mình gây ra
những tác hại không chỉ trước mắt mà cả về lâu dài đối với sức khoẻ nhân dân.
Đề tài : “ Đánh giá chất lượng dịch vụ dược của các nhà thuốc tư nhân tại
Hà Nội” được thực hiện với các mục tiêu :
- Khảo sát về cơ sở vật chất của nhà thuốc, trình độ và kiến
thức của người bán thuốc.
- Đánh giá về kỹ năng thực hành của người bán thuốc.
Từ đó:
- Đánh giá chất lượng dịch vụ dược ở các nhà thuốc tư theo
theo một số tiêu chí của thực hành nhà thuốc tốt và theo quy
định của Bộ Y Tế.
- Đưa ra một số kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng dịch
vụ dược tại các nhà thuốc .
Phầnl
TỔNG QUAN
1.1. Thuốc, vai trò của bác sĩ và dược sĩ trong chỉ định và cung ứng thuốc
Thuốc là những sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật, khoáng vật hay sinh học
được bào chế để dùng cho người nhằm : Phòng bệnh, chữa bệnh; phục hồi chức
năng cơ thể; làm giảm triệu chứng bệnh; chẩn đoán bệnh; phục hồi chức năng
hoặc nâng cao sức khoẻ; làm mất cảm giác một bộ phận hay toàn thân; làm ảnh
hưcfng đến quá trình sinh đẻ; làm thay đổi hình dáng của cơ thể [5].
Vói những đặc trưng sau [20]
+ Người sử dụng thường không có quyền lựa chọn thuốc để mua. Ngay cả khi
chúửi người sử dụng lựa chọn thuốc thì họ cũng không phải là người được đào
tạo để xác định độ an toàn, chất lượng và giá trị của thuốc,
+ Những ngưcd có chuyên môn thuần tuý( bác sĩ, dược sĩ ) cũng không có
vói Sulfonamid thì kết quả sẽ xảy ra dị ứng nghiêm trọng
Nhầm lẫn về liều lượng: Theo một nghiên cứu ở Mỹ, trong số những
lỗi về liều lượng thuốc, cho quá nhiều chiếm 41,8%, cho không đủ liều chiếm
16,5%. Vói một số thuốc như Digoxin thì liều lượng cần dựa trên trọng lượng cơ
thể lý tưởng, nhưng vói nhiều thuốc khác như Heparin thì liều lượng phải căn cứ
vào trọng lượng cơ ứiể thực sự. Nếu bệnh nhân dư cân mà cho Digoxin tửứi theo
trọng lượng cơ thể thực sự thì có khả năng quá liều. Dùng thuốc quá li ều có thể
đe doạ tính mạng còn dùng không đủ liều thì việc điều trị không có kết quả.
Nhiều sai lầm khác về liều lượng cũng có thể xảy ra khi lấy liều dùng của người
trưỏng thành dùng cho trẻ em hoặc người cao tuổi.
Đặt nhầm dấu thập phân ở hàm lượng thuốc: Có thể gây hậu quả
nghiêm trọng, ví dụ Digoxin 0,125mg lại viết nhầm là l,25mg; viết Terbutaline
2,5mg tiêm dưới da thay vì phải kê 0,25mg, sở đĩ ghi nhầm vì Terbutaline còn có
dạng viên vói hàm lượng 0,25mg.
Không nhận định đúng về dạng hàm lượng thuốc: Các dạng hàm
lượng của thuốc có tác dụng sinh học và dược động học khác nhau, do đó nếu
nhầm lẫn về dạng hàm lượng thuốc có thể dẫn đến những tác dụng tri liệu khác
nhau. Ví dụ : Hydralarine là thuốc hạ huyết áp có dạng ống tiẽm và viên uống;
khi chuyển từ dạng tiêm tĩnh mạch sang dạng uống, cần nhớ rằng dạng uống chỉ
có tác dụng sinh học vào khoảng 30-50% so vói dạng tiêm tĩnh mạch, cho nên
liều uống cần phải cao hơn mới thu được tác dụng như liều tiêm.
Nhầm lẫn về tần suất dùng thuốc trong ngày: Mặc dù dạng hàm
lượng của một thuốc quy định khoảng cách dùng thuốc trong ngày, nhưng vẫn có
thể có lỗi không thận trọng của thầy thuốc, ví dụ : cao dán Qonidine chỉ dùng
mỗi tuần một lần, nhưng lại ghi là “mỗi ngày”. Làm như vậy đã thay đổi tính
chất dược lý và dược động học của thuốc .
Viết chữ quá khó đọc, quá cẩu thả và không thận trọng khi dùng các
chữ viết tắt: Đây là lỗi rất phổ biến. Một nghiên cứu về vấn đề này có đến hơn
50% số đơn thuốc không đọc được tên thuốc, liều lượng và cách dùng. Nhiều
thầy thuốc chữ viết đã khó đọc lại viết rất cẩu thả. Tuy viết tắt giúp tiết kiệm thòi
chăm sóc sức khoẻ có vai trò quản lý, phân phối thuốc.
Để thực hiện những trọng trách này ngưòi dược sĩ phải đặt yếu tố nghề
nghiệp lên hàng đầu. Là một bộ phận của người làm công tác y tế, người hành
nghề dược không những có trách nhiệm tìiực hiện 12 điều y đửc, đồng thòi phải
có những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp riêng, đó là đạo đức hành nghề dược
để rèn luyện, tu dưỡng, phấh đấu góp phần vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức
khoẻ nhân dân [9]:
Đặt lợi ích của người bệnh và sức khoẻ của nhân dân lên trên hết.
Hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và tiết kiệm cho người bệnh
và nhân dân.
Tôn trọng và bảo vệ quyền của ngưcd bệnh, những bí mật lên quan
đến bệnh tật của người bệnh.
Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và những quy định chuyên môn,
thực hiện chúứi sách quốc gia về thuốc .
Tôn trọng và hợp tác vói các cơ quan quản lý nhà nước, kiên quyết
đấu tranh vói các hiện tượng tiêu cực trong hoạt động nghề nghiệp.
Hợp tác chặt chẽ vói các cán bộ y tế khác để thực hiện tốt nhiệm vụ
phòng chống dịch bệnh, khám chữa bệnh, nghiên cứu khoa học.
Thận trọng, tỷ mỉ, chứứi xác trong khi hành nghề. Không được vì mục
đích lợi nhuận mà làm thiệt hại sức khoẻ và quyền lợi của người bệnh, ảnh
hưởng xấu đến danh dự và phẩm chất nghề nghiệp.
Không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, kinh nghiệm
nghề nghiệp, tích cực nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ, phát
huy sáng kiến, cải tiến.
Nâng cao tinh thần trách nhiệm trong hành nghề, gương mẫu thực
hiện nếp sống văn minh, tích cực tham gia đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã
hội.
1.2. Vài nét về dịch vụ dược tư nhân ở một số nước đang phát triển
ở các nước Châu Âu có thu nhập cao ( Anh, Pháp, Thuỵ Điển ) vói truyền
thống nhân đạo của y tế đã có một hệ thống y tế do nhà nước bao cấp lấy từ quỹ
Một nghiên cứu ở 100 điểm bán lẻ tại Kathmandu, Nepan cho thấy 97%
bán thuốc kháng sinh không cần thiết cho bệnh ỉa chảy cấp, 44% bán kháng sinh
cùng Oresol. Trong khi đó, tại Camiricos tới 92% người lớn và 40% trẻ em bị ỉa
chảy cấp nhận được kháng sinh không phù hợp [23].
Để điều tra tình hình sử dụng và phân phối thuốc tại các nhà thuốc tư,
Thái Lan đã thực hiện một nghiên cứu ở Băngkok bằng phương pháp đóng vai
khách hàng với các tình huống:
Tìnhhuống 1: Đến nhà thuốc và yêu cầu mua thuốc để điều trị đau lưng nhẹ,
cấp tứứi, kết quả thu đượclà có 15,7% nhà thuốc bán Dexamethasone.
Tình huống 2: Đến nhà thuốc đưa ra túi đựng thuốc của bệnh viện trên có ghi
Dexamethasone và hỏi mua thuốc đó, kết quả thu được là có 63,5% nhà thuốc
bán.
Tình huống 3: Đến nhà thuốc đưa ra mẩu giấy có ghi Dexamethasone và hỏi
mua 5 viên, kết quả thu được là có 53,9% nhà thuốc bán.
Tình huống 4: Đến nhàthuốc đưa ra mẩu giấycó ghi Dexamethasone và hỏi
mua 50 viên, kết quả thu được có 48,7% nhà thuốc bán.
Dexamethasone là thuốc được quản lý đặc biệt, độc tính cao, hạn chế sử
dụng. Luật dượcThái Lan không cho phép các nhà sản xuất bán những thuốc
này cho những hiệu thuốc không được phép bán các thuốc cần có đơn, chỉ có
những bệnh nhân có đofn mói được mua những thuốc này tại các hiệu thuốc được
phép bán các thuốc theo đơn dưói sự giám sát của dược sĩ. Nhưng trong thực tế
trên 60% số hiệu thuốc ở Bangkok bán thuốc Steroid không cần đơn, không có
sự giárn sát của dược sĩ [26].
Nhằm đánh giá việc thực hành của các nhà thuốc tư thông qua việc phân
phối thuốc tránh ứiai đường uống. Nghiên cứu được tiến hành trên 123 nhà thuốc
ở Ghana. Theo hướng dẫn, quá trình tư vấh cho khách hàng gồm 6 bước, viết tắt
là GATHER:
G : Greeting : cách đón tiếp khách hàng.
A : Asking : hỏi bệnh.
T : Telling : nói về các tác dụng phụ có thể có của thuốc.
ngày 15/12/2004 toàn quốc có hofn 39.144 quầy bán lẻ với hơn 8.650 nhà thuốc
tư nhân ( 2003 là 7500), hơn 11.500 quầy đại lý bán lẻ ( 2003 là 10.500) góp
phần quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu thuốc phòng và chữa bệnh cho nhân
dân từ thành thị đến nông thôn , thực sự là một bộ phận quan trọng ừong hệ
thống chăm sóc sức khoẻ của nhân dân. Tiền thuốc sử dụng tính theo bình quân
đầu ngưòi / năm tăng liên tục từ 0,3 USD năm 1990 lên 3 USD năm 1995 ,
đến7,6 USD năm 2003 và 8,4 USD năm 2004 [10].
Không chỉ có thuốc nhập khẩu, thuốc sản xuất trong nước ngày càng
tăng về chủng loại và chất lượng ngày càng tốt hơn. Nhiều kỹ thuật mới đã được
áp dụng để sản xuất các dạng thuốc mói: viên nang mềm, vi nang, thuốc có tác
dụng kéo dài, thuốc tiêm đông khô, các loại dịch truyền chất lượng cao số
mặt hàng thuốc được cấp số đăng ký cho phếp lưu hành trên thị trường Việt nam
đã tăng đáng kể : thuốc nước ngoài: năm 1994 CÓ656 mặt hàng, đến năm 2004
có 7.355 mặt hàng thuốc được cấp số đăng ký lưu hành còn hiệu lực; thuốc trong
nước : năm 1994 có 1435 mặt hàng đến năm 2004 có 4.826 được cấp số đăng ký
còn hiệu lực. Chất lượng thuốc ngày càng được nâng cao, thuốc kém chất lượng
giảm từ 7,6% năm 2003 xuống còn 4,6% năm 2004; thuốc giả trên thị trường cơ
bản được ngăn chặn, tỷ lệ thuốc giả giảm dần qua từng năm , từ 7,1% năm 1990
chỉ còn 0,06% năm 2003 [10].
Hệ thống kinh doanh dược tư nhân nhanh chóng tăng về số lượng.
Phưofng thức hoạt động năng động.Theo báo cáo tổng kết 7 năm thực hiện
Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân, tmh đến 10/01/2001 , cả nước có 17.733
cơ sở hành nghề dược tư nhân trong đó có 16.605 cơ sở được cấp giấy chứng
nhận đủ tiêu chuẩn trong điều kiện hành nghề dược tư nhân , có tỉ lệ phân bổ
giữa các vùng tương đối đều : có 8.351 cơ sở hành nghề tại thị xã, thành phố,
n
khu công nghiệp (46,8%); 8.290 cơ sở hành nghề tại các vùng còn lại
(46,75%) [8].
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực trên, các cơ sở hành nghề dược
tư nhân cũng còn không ít những nhược điểm:
99
14,8
3
Người giúp việc không phép
69
10,3
4
Hành nghề không đúng địa chỉ
8
1,2
5 Có thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng
69 10,3
6
Có thuốc ngoài danh mục
21
3,1
7
Quản lý thuốc độc không đúng quy chế
36
5,4
8 Quảng cáo không đúng quy định
45
6,7
9
Sổ sách ghi chép không đầy đủ
208 41,7
10
Diện tích cở sở không đạt
5
0,7
phỏng vấn trả lcd là họ sẽ không bán Steroid, 50% nói là đó là quy định của kê
đơn và bán thuốc theo đơn .Vì sao người bán thuốc hiểu nhưng không làm? Một
lý do để các nhà thuốc bán thuốc không có đơn có thể là các nhà thuốc nghĩ
rằng hầu hết khách hàng đều được tư vẩh bởi bác sĩ lần này hoặc lần khác và bởi
vậy họ biết thuốc họ cần mua [11].
Một số nghiên cứu ở Việt Nam và các nước Qiâu Á khác cho thấy các
dược sĩ thưòng không có mặt tại các nhà thuốc mà là ngưcd không có trình độ
đứng ra điều hành nhà thuỐc.Trong nghiên cứu này một nửa số người được
phỏng vấn là dược sĩ nhưng yiệc thực hiện quy chế cũng như chất lượng phục vụ
của các nhà thuốc còn xa so vói yêu cầu.
Một lý do nữa có thể là các nhà thuốc được mở ra quá nhiều dẫn đến
cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhà thuốc muốn chiều mọi ý của khách hàng để
thu hút khách hàng [11].
Như vậy vói tác động của các quy luật của kinh tế thị trường , vấh đề lọi
nhuận đã tác động mạnh mẽ đến hành vi của thầy thuốc, người bán thuốc , có xu
hướng kê đơn thuốc và tư vấh mua nhiều thuốc, vói nhiều thuốc mới, thuốc ngoại
nhập, thuốc đắt tiền, và dùng với liều lượng cao hcm mức cần thiết, các hiện
tượng này ảnh hưởng sâu sắc đến xu hướng sử dụng thuốc ở cộng đồng , gây
lãng phí, và lạm dụng thuốc là nguyên nhân cơ bản của việc sử dụng thuốc
không hợp lý, hoàn toàn không hiệu quả kinh tế trong việc điều trị của bệnh
nhân.
1.4. Thực hành nhà thuốc tốt
Trong tuyên ngôn Tokyo năm 1993, Liên đoàn Dược phẩm quốc tế đã
đưa ra khái niệm thực hành nhà thuốc tốt như sau: Nhà thuốc thực hành tốt là
nhà thuốc không chỉ nghĩ đến lợi nhuận kinh doanh của riêng mình mà
cònquan tâm đến lọi ích chung của người mua hàng, lợi ích chung của toàn xã
hội, Sau đó Tổ chức y tế thế giói đã phối hợp vói Liên đoàn dược phẩm quốc tế
ban hành tiêu chuẩn về chất lượng dịch vụ của nhà thuốc, bao gồm các kỹ năng
thực hành và thông tin hướng dẫn sử dụng thuốc, được gọi là Q iế độ thực hnàh
nhà thuốc tốt (GPP) [25]
Thực hành nhà thuốc tốt đòi hỏi mục tiêu của mỗi dịch vụ dược phải
thích hợp vói người bệnh, phải được xác định rõ ràng và cách thức giao tiếp vối
những đối tượng có liên quan phải được tiến hành một cách có hiệu quả.
1.4.4. Tiêu chuẩn cần có của nhà thuốc thực hành tốt [13]
Có đủ vật chất và trang thiết bị cần thiết.
Quy trình thao tác khi hoạt động dịch vụ dược được tuân thủ nghiêm túc.
Nhân lực : Số lượng, trình độ đáp ứng yêu cầu hành nghề.
Nguồn cung ứng thuốc: dồi dào, đảm bảo chất lượng, giá cả hợp lý.
Nguồn thông tin: đầy đủ, hiệu lực, lưu trữ khoa học, ghi chép thường
xuyên, chu đáo, tài liệu tham khảo sẵn có, báo cáo kịp thời vói cơ quan có thẩm
quyền, phổ biến rộng rãi, tỉ mỉ cho người dân có nhu cầu.
Có mối liên hệ chặt chẽ với thầy thuốc, người bệnh trong việc kê đơn và
sử dụng thuốc.
Đảm bảo bí mật các dữ liệu liên quan đến cá nhân.
1A.5. Kỹ năng bán thuốc [1 ]
Trong thực hành nhà thuốc, giao tiếp không những thể hiện văn hoá, đạo đức y
tế mà còn là điều kiện không thể thiếu trong việc tiếp cận vói người bệnh đến
mua thuốc. Giao tiếp tốt giúp cho việc bán thuốc đạt mục tiêu sử dụng thuốc “An
toàn, hợp lý, có hiệu quả và kừứi tế nhất” đồng thòi giúp cho nhà thuốc có thể
thu hút được nhiều khách hàng. Đối vói dược sĩ và nhân viên bán thuốc, những
kỹ năng quan sát, giao tiếp và lắng nghe bệnh nhân đóng vai trò quan trọng
trong việc thu thập những thông tin cần thiết nhằm bán đúng thuốc.
Thuốc có ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ người bệnh. Vì thế khi bán thuốc
phải biết rõ bệnh, biết rõ ngưèd bệnh và khả năng kinh tế của họ nữa, phải tư vấn
và hướng dẫn phòng bệnh chu đáo để việc dùng thuốc có hiệu quả cao. Điều đó
trong thực hành nhà thuốc tốt gọi là QAT.
QAT = Hỏi + Khuyên + Bán thuốc
Người bán thuốc kiến thức càng sâu thì QAT càng phong phú, chất lượng
phục vụ càng tốt, uy tín vổi khách hàng càng cao.
Q (Q u estio n )-H ỏi
quan tâm, và trách nhiệm của người bán hàng là phải đưa ra những lòi khuyên
cụ thể và thiết thực nhất để quá trình điều trị của bệnh nhân đạt hiệu quả cao
nhất như:
- Cần tuân thủ điều trị. Với những bệnh phải điều trị thời gian dài (như
bênh lao) nhất là thời gian dùng thuốc duy trì cần khuyên bệnh nhân
không được bỏ thuốc,
- Giảm căng thẳng, dành nhiều thời gian thư giãn.
- Tập thể dục đều đặn, uống nhiều nước mỗi ngày.
- Tránh uống rượu, nên ngừng hút thuốc.
- Cần có những lời khuyên cụ thể cho từng trường hợp khác nhau.
T ( Treatm ent) - Bán hàng
Người bán thuốc thực hiện T vói hai chức năng “ Phụ thuộc” và “ Độc lập” .
Chức năng phụ thuộc: Khi ta bán thuốc theo đơn tức là phụ thuộc vào đơn,
cần hướng dẫn dùng theo đơn. Thậm chí đơn không ghi người dùng cần thực
hiện thì cần bổ sung đầy đủ và hướng dẫn cụ thể. Vói hầu hết các loại thuốc, cần
hướng dẫn bệnh nhân cách dùng cụ thể như uống vói bao nhiêu nước Ví dụ :
Aspùin pH8 cho dùng 2 viên chia 2 lần, cần hướng dẫn nuốt chửng cả viên vói
lưng cốc nước, không làm rách màng bao viên thuốc. Nếu khách hàng hỏi tại sao
lại phải uống thế thì chúng ta còn có nhiệm vụ phải giải thích để bệnh nhân cảm
thấy rõ sự cần thiết phải tuân thủ theo hướng dẫn sử dụng.
Chức năng độc lập: Người dược sĩ được phép bán thuốc cho khách hàng ở
một số bệnh thông thường bằng các thuốc OTC và chúih lúc này ta phải có đủ
những kiến thức về thuốc, về bệnh học
Khi phát hiện những điều không phù hợp trong đơn của bác sĩ cần độc lập trao
đổi và xử lý theo quy chế để đảm bảo sử dụng thuốc an toàn hợp lý.
Tạo mối quan hệ tốt với khách hàng
Thuốc là hàng hoá đặc biệt có vai ữò tối quan ừọng đối với sức khoẻ và
tính mạng của người dùng. Vì vậy, người bán thuốc phải thường xuyên thận
trọng và đặt sức khoẻ, tính mạng của người bệnh lên trên hết. Hơn nữa khách
hàng là những người bệnh đang có những đau khổ và lo lắng. Do đó người bán