Lời mở đầu
Ngày nay trong xu thế hội nhập và phát triển, đời sống của người dân
ngày càng được nâng cao. Nhu cầu về hàng hoá cũng phong phú, đa dạng và
phức tạp hơn. Cách ăn mặc, tiêu dùng sản phẩm cũng có sự phân biệt rõ rệt
theo mục đích sử dụng, tính chất công việc, trình độ, nghề nghiệp…Đặc biệt
là sự tiện lợi của nó trong tiêu dùng. Với những điều kiện thuận lợi về tài
nguyên thiên nhiên, nguồn nhân công rồi dào và không đòi hỏi trình độ quá
cao là cơ hội cho ngành dệt may và dày da nước ta phát triển trong nhiều năm
trở lại đây và đã tạo được chỗ đứng vững chắc trên thị trường nhiều nước
quốc tế. Hàng năm các khoản thuế do lĩnh vực này đem lại chiếm tỷ lệ lớn
trong ngân sách nhà nước, trong đó cũng có một phần đóng góp của công ty
TNHH Minh Tiến thương hiệu “Miti”. Sản phẩm chính của công ty là các mặt
hàng: túi xách, cặp công sở, cặp học sinh, balo du lịch, vali phục vụ nhu cầu
của đông đảo khách hàng trên cả nước. Với nhiều cố gắng trong việc sáng tạo
ra các mẫu sản phẩm khác nhau trong nhiều năm qua sản phẩm của công ty đã
đáp ứng được nhu cầu của khách hàng cả nước về thẩm mỹ và công dụng.
Những chiếc cặp, túi với các ngăn kích cỡ khác nhau là nơi để đồ lý tưởng
theo cách sắp xếp các tài liệu, đồ dùng của khách hàng trong công việc hàng
ngày đồng thợi tạo sự tiện lợi, lịch sự và năng động trong phong cách. Tuy
vậy xong vẫn còn nhiều vấn đề cần phải bàn xung quanh lĩnh vực này như
chưa có sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành, nguồn nguyên liệu
vẫn phải nhập ngoại, bộ máy và phong cách quản lý còn nhiều bất cập… Do
vậy mà lý do em chọn cơ sở thực tập tại công ty TNHH Minh Tiến chi nhánh
miền Bắc là nhằm tìm hiểu thêm thực trạng, nguyên nhân của một vài sự yếu
kém để từ đó có thể có một vài kiến nghị, giải pháp nào đó góp phần nâng cao
hơn nữa vị thế cạnh tranh của ngành hàng tiềm năng này trên thị trường.
Trước khi đi vào việc tìm ra vấn đề cần giải quyết tại cơ sở thực tập thì
cần phải tìm hiểu khái quát chung về tình hình lĩnh vực kinh doanh của công
ty, vị thế của công ty, các chính sách nhà nước đối với lĩnh vực hoạt động của
công ty. Do vậy mục đích của báo cáo tổng hợp này là nhằm cụ thể hoá thực
tế hoạt động của công ty đã làm trong thời gian qua cũng như những thành
Fax: 088511397
Email :
Website : WWW.miti.com.vn
Số đăng ký kinh doanh :4102001226
Cơ quan cấp đăng ký kinh doanh :Sở kế hoạch đầu tư TP Hồ Chí Minh
Mã số thuế : 0302009577
Tài khoản : 0071000583204 tại ngân hàng ngoại thương- chi nhánh TP Hồ
Chí Minh
Ngày đăng ký :
Đăng ký lần đầu : 1/6/2000
Đăng lý lần 2 : 9/3/2005
Chi nhánh miền Trung : 191 Lê Duẩn- TP Đà Nẵng
Chi nhánh Miền Bắc : 58 Ngọc Khánh- Ba Đình- Hà Nội
Điện thoại : 04.8316777
Fax : 04.8316777
Do ông Nguyễn Văn Quý - Giám đốc chi nhánh Miền Bắclàm đại diện.
2. Quá trình hình thành và phát triển
Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã đánh dấu một bước ngoặc quan
trọng trong đường lối phát triển kinh tế của đất nước. Nhưng nền kinh tế chỉ
thực sự chuyển mình trong những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ XX. Khi đại
hội VII của Đảng đi vào cuộc sống. Với những đường lối đúng đắn " phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN hoạt động theo cơ
chế thị trường" đã tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển phá vỡ thế
độc quyền của hai thành phần kinh tế là thành phần kinh tế nhà nước và thành
phần kinh tế tập thể, thêm vào đó là các thành phần kinh tế mới trong đó có
thành phần kinh tế tư nhân. Đó là cơ sở quan trọng để thành phần kinh tế này
phát triển nhanh chóng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh
tế. Hoà cùng với sự chuyển mình của nền kinh tế, hơn 10 năm qua cơ sở may
túi xách Minh Tiến đi lên từ một cơ sở sản xuất nhỏ theo kiểu gia đình với
những sản phẩm chủ yếu là những chiếc túi xách tay đơn giản. Khi cơ sở ngày
những thành tựu vượt trội về mọi mặt.
- Giai đoạn 2: Từ 2000-> nay
Từ những năm 2000, khi nền kinh tế nước ta ngày càng mở cửa rộng rãi với
những chính sách thông thoáng hơn cho các doanh ngiệp nhỏ và vừa thì trong
giai đoạn này cơ sở may Minh Tiến cùng dần đi vào ổn định và có những
bước phát triển mới với những mục tiêu và định hướng phát triển cao hơn.
Trong đó có những mốc đánh dấu quan trọng không thể phủ nhận đó là :
Năm 2000 doanh nghiệp tư nhân đã trở thành một công ty TNHH hai
thành viên trở lên với số vốn điều lệ ban đầu là 800.000.000 đồng lấy tên là
công ty TNHH may túi xách Minh Tiến. Đến nay công ty đã tăng vốn điều lệ
lên 6.000.000.000 đồng.
Quy mô doanh nghiệp hiện nay tăng lên 4 dây chuyền may là:
Dây chuyền may valy
Dây chuyền may cặp công sở, cặp học sinh
Dây chuyền may balô học sinh, balo du lịch
Dây chuyền may túi thời trang
Đội ngũ công nhân viên hiện nay của doanh nghiệp là 386 người được
chuyên môn hoá theo từng công đoạn của dây chuyền. Đặc biệt là có đội ngũ
kĩ thuật vận hành, kiểm tra máy móc, thiết bị ngày càng được nâng cao tay
nghề và năng lực sản xuất của công ty ngày càng được mở rộng với những
sản phẩm có chất lượng cao hơn. Đời sống của các anh chị em công nhân
cũng được cải thiện theo. Thu nhập bình quân một người hàng tháng từ
800.000 đồng->4.000.000đồng tuỳ theo tay nghề và trình độ đã đảm bảo ổn
định chất lượng cuộc sống cho họ yên tâm làm việc.
Khi đời sống người dân ngày càng được nâng cao, họ không chỉ ăn no, mặc
ấm mà giờ đây họ đã biết làm đẹp hơn cho bản thân bằng các loại sản phẩm
khác nhau. Việc tiêu dùng sản phẩm là cách mà họ thể hiện đẳng cấp, phong
cách, cá tính của mình. Nắm bắt xu thế đó công ty đã bắt đầu chú ý tới những
nhu cầu, sở thích, mong muốn của từng đối tượng khách hàng và từ đó đa
dạng thêm nhiều mặt hàng mới với những kiểu dáng mẫu mã mới không
Các sản phẩm mang thương hiệu "Miti"đều có gắn các họa tiết thời
trang, logo và được bảo hành cho từng loại sản phẩm. Các loại cặp học sinh,
balo thường được bảo hành 1 năm, còn các sản phẩm vali thường được bảo
hành 3 năm.
Không chỉ tập trung vào việc cải tiến kiểu dáng, mẫu mã mà doanh nghiệp
còn tìm cách thay đổi chất liệu làm ra sản phẩm phù hợp từng khách hàng.
Mùa tựu trường năm 2004 Miti đã tung ra thị trường dòng sản phẩm cặp siêu
nhẹ được sản xuất theo công nghệ riêng. Cặp siêu nhẹ Miti có nhiều tính năng
mới mẻ tạo sự khác biệt với các sản phẩm khác cùng loại trên thị trường giúp
các em học sinh nhất là ở độ tuổi tiểu học mang vác sách vở đến trường hàng
ngày nhẹ nhõm hơn. Cũng trong thời gian này Miti còn sản xuất các loại vali,
túi xách có cần kéo mang thương hiệu Miti tăng tính tiện nghi cho người sử
dụng với các bánh xe quayđược 360
0
. Cần kéo của các Vali đảm bảo độ chịu
lực lên đến 50kg/cm
2
. Túi xách, valy du lịch có các bộ gồm nhiều cỡ lớn nhỏ
khác nhau để các thành viên gia đình có thể chọn theo ý thích.
Với từng bước đổi mới không ngừng với những sáng tạo nhằm làm
thoả mãn nhu cầu khách hàng đến nay Miti đã có một chỗ đứng vững chắc
trong tâm trí người tiêu dùng trong cả nước và đang từng bước đặt ra các mục
tiêu cao hơn nhất là trong xu thế hội nhập và phát triển với bên ngoài nhằm
từng bước vươn ra thị trường thế giới.
3. Chức năng và nhiệm vụ của công ty
Công ty TNHH may túi xách Minh Tiến hoạt động trong lĩnh vực sản
xuất và kinh doanh các mặt hàng túi xách, balo, catap, túi du lịch, vali Vì
vậy nhiệm vụ và mục tiêu phấn đấu của công ty là sản xuất ra nhiều sản
phẩm, hàng hoá chất lượng cao để phục vụ khách hàng, tạo lợi nhuận cho
doanh nghiệp, và đảm bảo đời sống cho anh chị em công nhấn trong công ty.
Mỗi một công ty đều phải có một bộ máy cơ cầu tổ chức nhất định sao
cho phù hợp với lĩnh vực kinh doanh, quy mô, điều kiện và chức năng kinh
doanh của mình. Cơ cấu tổ chức của công ty may túi xách Minh Tiến có quy
mô trung bình được thể hiện qua sơ đồ sau :
Giám đốc
Phó giám
đốc
Khối sản
xuất
Khối văn
phòng
Phòng
thiết
kế
Phòng
cắt
Chuyền
may
Phòng
hoàn
tất
Phòng
KCS
Phòng
kỹ
thuật
Phòng
nhân
sự
Phòng
Phó giám đốc
Là người hỗ trợ giám đốc trong công tác quản lý công ty, được phân
công hoặc uỷ quyền giải quyết một số công việc của Giám đốc và chịu trách
nhiệm trước Giám đốc về lĩnh vực được phân công hoặc uỷ quyền đó. Các
Phó giám đốc luôn phải làm đúng nhiệm vụ và quyền hạn của mình để vận
hành các phòng ban hoạt động một cách có hiệu quả. Trực tiếp chỉ đạo hoạt
động kinh doanh của công ty khi giám đốc vắng mặt.
Ngoài Giám đốc và Phó giám đốc, có thể chia cơ cấu của công ty
thành: Khối sản xuất và khối văn phòng.
- Khối sản xuất: bao gồm các phòng ban:
+ Phòng thiết kế: Bao gồm các thành viên phụ trách thiết kế các mẫu
theo các ý tưởng đưa ra được tập hợp từ các kết quả nghiên cứu của phòng thị
trường. Các mẫu thiết kế phải đảm bảo về mặt thẩm mỹ cũng như quy cách
của sản phẩm. Đặc biệt phải làm thoả mãn được nhu cầu của khách hang.
+ Phòng cắt: Cắt là khâu tiếp theo sau khi các mẫu được phòng thiết kế
hoàn tất, có nhiệm vụ vẽ và cắt vải, nguyên liệu theo các mẫu đã được thiết
kế. Với những đường cắt cơ bản thì sẽ do máy đảm nhiệm, tuy nhiên cũng có
một vài chi tiết phức tạp, cầu kỳ thì không thể dùng máy và phải làm thủ công
bằng tay để đảm bảo tính thẩm mỹ.
+Chuyền may:
Gồm 4 dây chuyền may: túi xách, valy,cặp học sinh, catap. Các sản
phẩm sau khi được cắt sẽ chuyển qua dây chuyền may. Trong dây chuyền
này cũng được phân chia thành nhiều bộ phận chuyên môn hoá như: May
quai, may thân, may khoá Sau khâu này sẽ cho ra sản phẩm về cơ bản.
+ Phòng hoàn tất.
Gồm các công đoạn cuối cùng để hoàn tất sản phẩm như: Nhặt chỉ, lắp
khoá, trang trí các hoạ tiết, Đến đây sản phẩm đã được hoàn chỉnh.
+ Phòng KCS
Có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm duyệt các sản phẩm theo đúng quy cách,
chất lượng, mẫu mã đã đề ra theo những thiết kế, tiêu chuẩn ban đầu.
nhau được thể hiện qua bảng:
Stt Chỉ tiêu phân
loại
Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ
1 Theo Cơ cấu
LĐ trực tiếp 242 86,74 267 86,41 341 88,34
LĐ gián tiếp 37 13,26 42 13,59 45 11,66
Theo trình độ
Đại học 15 5,38 22 7,12 31 8,42
CĐ và TCấp 45 16,13 56 18,12 74 19,17
Phổ thông 219 78,49 231 74,76 281 72,41
Theo giới tính
Nam 78 27,96 92 29,77 145 37,56
Nữ 201 72,04 217 70,23 241 62,41
Từ bảng phân tích số liệu trên ta thấy cơ cấu lao động của công ty có
những đặc điểm sau:
Số lượng lao động của doanh nghiệp qua các năm đều tăng ở cả lao
động trực tiếp, gián tiếp cũng như ở tất cả các trình độ, giới tính với mức tăng
tương đối đồng đều và ổn định. Nguyên nhân của mức tăng trên là trong một
vài năm gần đây tình hình sản xuất của công ty đã đi vào ổn định và các biến
động từ môi trường vĩ mô ít ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động của công ty.
Tuy nhiên mức tăng này vẫn có sự khác nhau trong từngchỉ tiêu cơ cấu.
+Số lượng lao động trực tiếp và gián tiếp năm 2005 tăng so với năm
2004 là sấp xỉ nhau nên tỷ lệ giữa hai loại lao động này trong hai năm đó là
tương đối không đổi. Số lượng lao động gián tiếp năm 2005 tăng là do trong
thời gian này công ty chú trọng tới việc xây dựng và phát triển thương hiệu
nên cần tuyển nhiều nhân viên hoạt động thị trường hơn. Sang năm 2006 thì
lại có một chút thay đổi đó là số lượng thì vẫn tăng và lao động trực tiếp tăng
nhiều hơn nhưng tỷ lệ lao động trực tiếp tăng lên và giảm tỷ lệ lao động gián
công ty có những chính sách đãi ngộ, khuyến khích làm việc lên các anh chị
em đã gắn bó với công ty, ít có tình trạng bỏ việc .
4.2 Thực trạng về cơ sở vật chất kỹ thuật, nhà xưởng, máy móc thiết bị, cơ sở
hạ tầng kinh doanh.
Hiện nay doanh nghiệp có hai nhà xưởng sản xuất lớn đó là: Nhà
xưởng I ở D8/46 ấp Hưng Long-Bình Chánh- TP Hồ Chí Minh. Đây là nhà
xưởng chính lớn đầu tiên của doanh nghiệp với bốn dây chuyền may vali, túi
xách, cặp học sinh, balo. Xưởng thứ II mới được xây dựng và đang hoàn
thành ở Quế Võ, Bắc Ninh. Hiện nay xưởng này đang trong giai đoạn xây
dựng và hoàn thành nên mới chỉ có hai dây chuyền may cặp học sinh và túi
xách. Ở các xưởng này đều được trang bị đầy đủ các dụng cụ lao động bảo vệ
cho công nhân như gang tay, khẩu trang, hệ thống điện, quạt, nước…và
nhiều thiết bị khác.
Tại các văn phòng làm việc đều được trang bị các dụng cụ làm việc cho
mỗi nhân viên. Cụ thể ở văn phòng chi nhánh Miền Bắc tại Hà Nội có:
4 máy điện thoại cố định
2 máy fax
6 máy tính có nối mạng
6 bàn làm việc
2 tủ lưu trữ hồ sơ
1 két sắt
1 máy in
1 bộ bàn ghế tiếp khách
2 xe chở hàng
Và nhiều vật dụng khác
Với cơ sở vật chất như vậy trong thời gian tới doanh nghiệp sẽ cố gắng
hoàn thiện hơn nữa để tạo môi trường làm việc tôt nhất và nâng cao năng lực
sản xuất của công ty đáp ứng nhu cầu khách hàng.
4.3 Nguồn lực tài chính của công ty:
Dựa vào bảng báo cáo tài chính của công ty qua các năm ta có thể thấy
càng lớn. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho các năm sau khi doanh nghiệp muốn
mở rộng thêm các xưởng sản xuất ở Bắc Ninh sẽ dễ dàng hơn trong việc vay
vốn để mua máy móc, thiết bị, xây dựng nhà xưởng. Tuy nhiên do tỷ lệ vốn
chủ sở hữu chiếm nhiều hơn lên doanh nghiệp sẽ ít được hưởng các khoản tiết
kiệm nhờ thuế do nợ mang lại nhưng lại chứng tỏ được nguôn lực vững chắc
của doanh nghiệp
4.4 Sản phẩm sản xuất kinh doanh và cung ứng ra thị trường
Hàng năm công ty TNHH may túi xách Minh Tiến đã cung ứng ra thị
trường hàng chục nghìn các loại sản phẩm túi xách, balo, cặp công sở, cặp
học sinh phục vụ nhu cầu khách hàng trong cả nước đem về lợi nhuận cho
công ty và nộp ngân sách nhà nước hàng tỷ đồng. Các mặt hàng của công ty
đã được đông đảo người tiêu dùng trong cả nước tín nhiệm và từ lâu thương
hiệu “Miti” đã trở lên quen thuộc với khách hàng khu vực phía Nam. Trong
thời gian tới công ty tiếp tục quảng bá thương hiệu của mình ra Bắc cùng với
các dòng sản phẩm mới cải tiến theo nhu cầu của khách hàng. Trong thời gian
tới công ty sẽ cố gắng phát triển hơn nữa để thương hiệu “Miti” sẽ được
người tiêu dùng trong cả nước nhắc đến đầu tiên khi lựa chọn sản phẩm về túi
xách,cặp học sinh…
II Kết qủa sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong 3 năm gần đây
1. Kết quả về mặt tài chính của quá trình kinh doanh.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong một vài năm
gần đây thể hiện qua bảng sau:
Đơn vị: Đồng
Stt Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
1 Doanh thu 24.166.534.000 28.142.918.000 33.749.009.000
2 Giá vốn 19.753.090.000 22.512.363.000 26.784.109.000
3 Lãi gộp 4.413.443.000 5.630.655.000 6.964.899.000
4 Nộp NSNN 1.295.746.000 1.635.365.000 2.501.003.000
5 Lãi sau thuế 3.117.697.000 3.995.290.000 4.463.896.000
6 TN/người/tháng 850.000 950.000 1.200.000
và có nhiều tính năng như có nhiều ngăn, dây đeo, có ngăn đựng laptop với
cặp công sở. Cặp cho học sinh cấp I và cấp II được làm bằng chất liệu vải
nhẹ, đáy đế được làm bằng nhựa rất bền, hình ảnh 3D hấp dẫn: Siêu nhân,
barbie, nhiều màu. Cặp học sinh mặc dù đem lại doanh thu lớn nhất nhưng
mặt hàng này lại không tiêu thụ đều trong các tháng mà chủ yếu là vào các
dịp như năm học mới và sau tết. Tiếp đến là túi đeo thời trang và balo du lịch,
đây là nhóm mặt hàng trong thời gian tới doanh nghiệp sẽ tìm cách cải tiến và
mở rộng bởi đây là mặt hàng không chịu ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ lên có
thể đem lại doanh số ổn định cho doanh nghiệp. Hơn nữa trong tương lai cùng
với xu thế phát triển của đất nước việc sử dụng túi xách như một vật thời
trang làm đẹp cho phái nữ sẽ làm cho mặt hàng này có khả năng tiêu thụ tốt.
Còn lại là mặt hàng vali chiếm phần trăm doanh thu ít nhất bởi đây là mặt
hàng có giá trị đơn vị lớn và nhu cầu mua của khách hàng không cao.
So sánh các chỉ tiêu kết quả đạt được qua các năm của từng mặt hàng ta
thấy: Tỷ trọng nhóm mặt hàng cặp công sở giảm qua các năm nhưng vẫn là
nhóm mặt hàng chiếm phần lớn doanh thu. Thay vào đó là mặt hàng cặp học
sinh và túi đeo thời trang ngày càng giữ tỷ trọng lớn, nhất là túi thời trang bởi
nhu cầu về mặt hàng này ngày càng tăng và trong tương lai doanh nghiệp
cũng đưa nhóm mặt hàng này trở thành nhóm mặt hàng chính. Nhóm mặt
hàng balo du lịch biến động không đều cả về số lượng và tỷ trọng. Riêng mặt
hàng vali chiếm ít nhất cả về tỷ trọng và số lượng nhưng cũng tăng hàng năm
chứng tỏ đây cũng là mặt hàng có tiềm năng trong tương lai.
3.Khách hàng của doanh nghiệp.
Từ các sản phẩm sản xuất phục vụ cho khách hàng có thể thấy các
nhóm khách hàng chính của doanh nghiệp bao gồm:
+ Nhóm khách hàng là các em học sinh cấp I, II. Đây là nhóm khách
hàng chiếm tương đối lớn. Đặc điểm của nhóm khách hàng này là tuổi còn
nhỏ, phụ thuộc vào bố mẹ, việc mua hàng chịu nhiều tác động của người lớn.
Chúng thường thích những sản phẩm có nhiều màu sắc, hình họa các nhân vật
hoạt hình pokemon, chuột micky, siêu nhân, búp bê barbie với nhiều ngăn
quan hệ gắn bó.
+ Một lợi thế rất quan trọng và cần thiết trong thời kỳ hội nhập ngày nay là
công ty đã xây dựng được thương hiệu cho sản phẩm của mình trên thị trường
và được người tiêu dùng trong cả nước ưa chuộng.
2. Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi đã đạt được công ty cũng còn gặp phải không
it những khó khăn, vướng mắc.
+ Việt Nam đang trong quá trình mở của và hội nhập với nền kinh tế thế giới
nên công ty không chỉ gặp phải sự cạnh tranh của các sản phẩm trong nước
mà còn cả sản phẩm nhập ngoại, đặc biệt là hàng Trung Quốc không thua kém
về màu sắc, kiểu dáng. Do vậy nguy cơ thu hẹp thị trường là khó tránh khỏi
+ Liên kết giữa các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực còn lỏng lẻo và yếu
kém, nhất là trong xu thế hội nhập sẽ khó cạnh tranh được với những mặt
hàng nhập khẩu từ bên ngoài.
+ Nguyên liệu trong nước không đáp ứng được do đó phần lớn nguyên liệu
đều nhập khẩu từ Trung Quốc vì vậy mà giá nguyên liệu đầu vào sẽ tăng do
chịu thuế nhập khẩu.
+ Vẫn còn nhiều vướng mắc không thông suốt trong quá trình giao hàng cho
khách hàng là những người bán buôn, bán lẻ, đại lý phân phối.
+ Nguồn lực doanh nghiệp còn hạn chế, khó khăn trong cập nhật thông tin từ
khách hàng.
+ Mô hình quản lý của công ty vẫn theo kiểu “gia đình trị” do vậy khó phát
huy hết nguồn lực trong nội bộ tổ chức.
IV Thực trạng hoạt động marketing của doanh nghiệp
1. Thực trạng về bộ máy hoạt đông marketing
Bộ phận marketing trong công ty có những chức năng và nhiệm vụ liên
quan đến các công việc xúc tiến ngoài thị trường nhằm thực hiện tốt mục tiêu
là cầu nối vững chắc giữa doanh nghiệp với khách hàng.
+ Chức năng:
Xúc tiến các hoạt động tiếp thị, bán hàng và lập kế hoạch kinh doanh
Tổ chức các hoạt động thị trường để giới thiệu sản phẩm, dịch vụ đến
khách hàng và kích thích tiêu dùng
Tổ chức mạng lưới phân phối, quản lý thông tin khách hàng.
Tổ chức nghiên cứu thị trường, thu thập thông tin về nhu cầu khách
hàng, xử lý và dự báo cầu thị trường.
Nhận thông tin từ khách hàng, đại lý, bộ phận tiếp thị, giao hàng.
Đề xuất phương án quảng cáo, tiếp cận tuyên truyền để mở rộng thị
trường
Xác lập các kênh thông tin để thu thập thông tin về thị trường phục vụ
quá trình kinh doanh.
Xây dựng các mối quan hệ, quản lý danh sách khách hàng, phân khúc
thị trường và xác định thị trường mục tiêu.
Để hoàn thành các mục tiêu và nhiệm vụ đề ra yêu cầu tất cả mọi
người, mọi bộ phận phải nâng cao tinh thần đoàn kết, ý thức trách
nhiệm cá nhân nhằm từng bước xây dựng môi trường văn hoá doanh
nghiệp.
2. Thực trạng về nghiên cứu thị trường, xây dựng chiến lược, kế hoạch
marketing
Việc xây dựng chiến lược và kế hoạch marketing là một hoạt động mà
công ty phải làm trong thời gian tới để phát triển thương hiệu và thúc đẩy tiêu
thụ sản phẩm. Trong thời gian qua thực trạng xây dựng chiến lược và kế
hoạch marketing tại công ty là:
+ Chiến lược: