Đánh giá hiệu qua các biện pháp can thiệp nhằm nâng cao chất lượng kê đơn và hướng dẫn sử dụng thuốc tại bệnh viện phụ sản hà nội - Pdf 30

BỘ Y TÊ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC BIỆN PHÁP CAN THIỆP
NHẰM NÂNG CAO CHAT LƯỢNG KÊ ĐƠN VÀ HƯỚNG DAN
SỬ DỤNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP I)ưọc SỸ KHO Ả 2002 - 20Ơ7
Giáo viên hướng (kill
Sinh viên thực lỉiẹiì
Nơi thực hiện
Thòi giun thụi' hiện
PG Ổ . Tố HOẢNG TOỊ KIM
\w m
THỒ. LÊ THỊ KỈM THANH
VŨ NỮ ANH
ỒỆNíi VIỆN PHỤ ỐẢN HÀ NỘI
0 1 /2 0 0 7 — 0 5 /2 0 0 7 .
t ,>,
í " t ' i
Ị. ĩH Ị^V ị^i"
HÀ NỘI - 05/2007
Lời cảm ơn
(jw iiụ, quái trình kọa tậjftý iu/hiên eứíi ÚỈL húăết thành khúA luận lết
nụhlịfLỷ tồi itĨL nhản 3ự kưêníị dan, íịlú fL ĩtđý ítộễií^ win. ễth/êi tình eảct eăe
thầụ: eê ụỉ/i íị trmity trưổntp, eú(t búa ằịi, duđa âẠ bín h oiêếi fpkiJL Ẵủn ^f)ỈL Qlội eùnự
íịia đình OỈL bạn kè.
(JJỞi sui Uíễth trmuị oil LòíUị biêl tín ễẨĨit ềẨeý tôi sebt hỉiụ tả lìmụ eảm ổn
eítủn thành tồi ĩ
'T ỗ ởỉu ụ i Q ’h i 3 C in t ếJôuựỀễLf e ỉt ủ n liỉè iti h à m òn <Dưđ4i JQxun ẴỈLiUị,
trưồềUỊ, (tại kúít (Ditổa '3ÔỈL Qflệif ễiụưòỉ iltAụ, Uính men ìtĨL tận. tình, ehl bủa, hu’fhuj,
dẫn OỈL tịiíiỊL đã tồi tr&ềUỊ, ếuêi thài gian thi/e hiĩết DỈL Itơùn thùnli Uhrưi luận .
&hju Mề <3fhi 3 Cint Q'hjanhý trưởmi khoa G)ưổe hênh ũìen Sủn 'Xỉà

1.3. MÔÌ QUAN HỆ GIỮA BÁC SỸ - DƯỢC SỸ - BỆNH NHÂN TRONG
CÔNG TÁC SỬDỤNG THUỐC HỢP LÝ.
7
1.4. CÁC CHỈ SỐ QUI ĐỊNH NHẰM ĐẢM BẢO SỬDỤNG THUỐC HỢP LÝ 8
1.4.1 Các chỉ số về kê đơn 9
1.4.2 Các chỉ số về chăm sóc bệnh nhân
.

9
1.4.3 Các chỉ số về cơ sở y tế 10
1.5. TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN, HUỐNG DAN v à SỬDỤNG THưỐC 10
1.5.1 Tình hình kê đơn, hướng dẫn và sử dụng thuốc trên thế giói 10
1.5.2 Tình hình kê đơn và sử dụng thuốc tại Việt Nam

.

.
13
1.5.3 Tình hình kê đơn, hướng dẫn và sử dụng thuốc tại bệnh viện Phụ Sản Hà Nội
trước can thiệp
.

15
1.6. CÁC BIỆN PHÁP CAN THIỆP NHẰM TẢNG CUỒNG SỬDỤNG THƯÔC
HỢP LÝ, AN TOÀN

.
19
2.2.2 Các can thiệp BVPSHN đã thực hiện

20
2.2.3 Mẫu nghiên cứu sau can thiệp

20
2.3. TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ

22
2.4. PHÂN TÍCH SỐ LIỆU = „ 23
2.5. THÒI GIAN THựC HIỆN

23
2.6. ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN

23
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u VÀ NHẬN XÉT

24
3.1. CHẤT LUỢNG k ê Đơ n và HDSD th uố c củ a bá c SỸ 24
3.1.1 Tỷ lệ thuốc được kê tên gốc 24
3.1.2 Tỷ lệ thuốc có trong DMT thiết yếu của BYT và của BVPSHN.
.


37
3.3.3 Nguồn cung cấp thông tin HDSD thuốc cho bệnh nhân

38
3.4. MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA BỆNH NHÂN ĐÔÌ VỚI HDSD

39
3.4.1 Mức độ hài lòng của bệnh nhân đối vói HDSD của bác sỹ
.
39
3.4.2 Mức độ hài lòng của bệnh nhân đối với HDSD của dược sỹ 40
PHẦN 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỂ XUẤT 42
4.1. KẾT LUẬN 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIÊT TẮT
ADR : Adverse drug reaction.
BVPSHN : Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội.
BYT : bộ Y Tế.
B S : bác sỹ.
DMT : danh mục thuốc.
D S : dược sỹ.
DSLS : dược sỹ lâm sàng.
HD : hướng dẫn
HDĐT : hướng dẫn điều trị.
HDSD : hướng dẫn sử dụng.
ĐẶT VẤN ĐỂ
Hiện nay tình trạng lạm dụng thuốc là một vấn đề hết sức nóng bỏng trên
toàn thế giới. Biện pháp để sử dụng thuốc sao cho an toàn, hợp lý, hiệu quả và kinh
tế là mối quan tâm không chỉ riêng quốc gia nào.

- Đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp lên chất lượng hướng dẫn sử
dụng thuốc của dược sỹ cho bệnh nhân.
- Đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp lên mức độ nhận thức của
bệnh nhân đối với hướng dẫn sử dụng thuốc của các bác sỹ, dược sỹ.
2
PHẦN 1
TỔNG QUAN
1.1. KÊ ĐƠN THUỐC
Đơn thuốc là tài liệu chỉ định dùng thuốc của bác sỹ cho người bệnh; là cơ sở
pháp lý cho việc chỉ định dùng thuốc, bán thuốc và cấp thuốc theo đơn [8].
1.1.1 Nội dung của một đơn thuốc
Trên thế giới không có tiêu chuẩn thống nhất nào về kê đơn thuốc, mỗi quốc
gia có quy định riêng phù hợp với điều kiện của nước mình. Tuy nhiên, yêu cầu
quan trọng nhất với một đơn thuốc đó là phải thật rõ ràng. Đơn thuốc phải hợp lệ và
chỉ định chính xác thuốc phải sử dụng. Theo khuyến cáo của tổ chức Y Tế Thế Giới
[34] thì nội dung đơn thuốc phải có đầy đủ:
1. Tên, địa chỉ của người kê đơn, số điện thoại (nếu có).
2. Ngày kê đơn.
3. Tên và hàm lượng thuốc.
4. Dạng dùng và tổng lượng thuốc.
5. Hướng dẫn sử dụng, cảnh báo.
6
. Tên, địa chỉ, tuổi của bệnh nhân.
7. Chữ kí của bác sỹ.
1.1.2 Qui định về việc ghi tên thuốc
Theo qui chế kê đơn và bán thuốc theo đơn được ban hành kèm theo quyết định
số 1847/2003/QĐ-BYT ngày 28/05/2003 [4] [8] qui định về ghi tên thuốc như sau:
1. Ghi đủ các mục ghi trong đơn. Đơn thuốc viết bằng bút mực hoặc bút bi. Viết
rõ ràng, dễ đọc, dễ hiểu.
2. Với trẻ bệnh dưới 24 tháng tuổi: Ghi số tháng tuổi và ghi tên bố hoặc mẹ.

thân bệnh nhân, tiền sử bệnh, X- quang, kết quả xét nghiệm và các nghiên cứu khác.
> Bước 2: Chỉ rõ mục tiêu điều trị. Việc xác định mục tiêu điều trị giúp
người thầy thuốc tránh được việc sử dụng nhiều thuốc không cần thiết, tập trung vào
vấn đề chính.
> Bước 3: Xác định phương pháp điều trị đã được chứng minh hiệu quả, an
toàn, kinh tế và phù hợp với bệnh nhân nhất trong số các phương án điều trị khác
nhau, kể cả phương án không dùng thuốc. Thẩm định lại sự phù hợp của thuốc đã
lựa chọn cho bệnh nhân. Sự phù hợp được đánh giá trên 3 khía cạnh: (1) Sự phù hợp
giữa tác dụng và dạng dùng của thuốc với bệnh nhân; (2) Sự phù hợp của liều dùng
4
hằng ngày; (3) Sự phù hợp của quá trình điều trị. Đối với mỗi khía cạnh cần phải
kiểm tra tính đảm bảo của mục đích điều trị, hiệu quả (chỉ định và sự liên quan tới
liều dùng) và an toàn (chống chỉ định, tương tác thuốc, nhóm thuốc có nguy cơ cao).
> Bước 4: Kê đơn thuốc: Cần đưa ra những chỉ dẫn cho bệnh nhân. Ví dụ
như viết một đơn thuốc rõ ràng cẩn thận, ngắn gọn nhưng dễ hiểu cho bệnh nhân.
> Bước 5: Cung cấp thông tin, hướng dẫn sử dụng, và cảnh báo cho bệnh
nhân. Cần phải cung cấp cho bệnh nhân ít nhất các thông tin sau: Các tác dụng của
thuốc; các tác dụng phụ; hướng dẫn sử dụng (cách dùng, thời gian dùng, bảo
quản ); cảnh báo (không nên dùng khi nào, liều dùng tối đa, thòi gian điều tiị đầy
đủ); hẹn gặp lần tói, xác minh mọi thông tin rõ ràng với bệnh nhân.
> Bước 6: Giám sát điều trị. Nếu như bệnh được chữa khỏi thì ngừng quá
trình điều trị, hoặc nếu phương pháp điều trị này có hiệu quả nhưng bệnh vẫn chưa
khỏi hẳn thì cần xét lại xem có tác dụng phụ nào nghiêm trọng hay không. Nếu có
thì cân nhắc lại liều dùng hoặc chọn thuốc khác, nếu không thì tiếp tục điều trị.
Trường hợp bệnh không được chữa khỏi thì phải nghiên cứu lại tất cả các bước trên.
1.2. HƯỚNG DẪN ĐIỂU TRỊ
Đơn thuốc hay bệnh án chứa đựng những thông tin trên giấy của bác sỹ điều
trị đối với bệnh nhân. Triển khai những thông tin này chính là hướng dẫn điều trị
(HDĐT) [10].
1.2.1 Nội dung của một HDĐT [10][34]

khoa dược có nhiệm vụ cung cấp những thuốc đạt yêu cầu điều trị, giám sát việc kê
đơn và tư vấn cho hội đồng thuốc thiết lập danh mục thuốc hợp lý cho cơ sở.
Muốn quá trình điều trị thành công thì ngoài yếu tố nắm vững thuốc và bệnh
còn phải biết rõ về bệnh nhân và tạo được sự hợp tác của họ trong điều tĩị. Để hướng
dẫn điều trị tốt, người DSLS cần phải có các kỹ năng sau :
i. Kỹ năng giao tiếp với bệnh nhân
Để thực hiện được kỹ năng này, DSLS phải tạo lập mối quan hệ gần gũi với
bệnh nhân bởi vì để điều trị tốt không thể không có sự hợp tác từ phía bệnh nhân.
Muốn làm được như vậy phải làm cho bệnh nhân hiểu được lý do điều trị, phương
thức điều trị và những việc cần làm để tham gia vào điều trị thành công.
ii. Kỹ năng thu thập thông tin
Các thông tin cần thu thập liên quan đến đặc điểm của bệnh nhân (tuổi, giới,
thói quen, nghề nghiệp ). Thông tin thu thập phải tỷ mỷ và chính xác. Thường thì
quá trình này được làm từ lần khám bệnh đầu tiên trước khi bắt đầu thiết lập chế độ
6
điều trị nhưng cũng có thể chưa khai thác hết hoặc lại xuất hiện những tình huống
mới liên quan đến bệnh.
iii. Kỹ năng đánh giá thông tin
Phải đánh giá được các thông tin liên quan đến việc dùng thuốc trong quá
trình điều trị để tìm ra nguyên nhân thất bại (nếu gặp).
iv. Kỹ năng truyền đạt thông tin
Các thông tin cần truyền đạt là thông tin có liên quan đến hướng dẫn dùng
thuốc và theo dõi điều trị.
Để thực hiện mục đích hướng dẫn điều trị tốt, DSLS phải giải thích chính xác và
tỷ mỷ cách thức thực hiện y lệnh bao gồm việc dùng thuốc và các dấu hiệu cần nhận
biết về tiến triển theo chiều hướng xấu của bệnh. Muốn làm tốt việc này, DSLS phải tạo
lập được lòng tin từ phía bệnh nhân và phương pháp kiểm tra khả năng nhận thức của
bệnh nhân vói các thông tin được truyền đạt: thường thì nên đề nghị bệnh nhân hoặc
người nhà bệnh nhân nhắc lại (vói bệnh nhân nhỏ tuổi hoặc bị bệnh tâm thần).[10]
1.3. MỐI QUAN HỆ GIỮA BÁC SỸ - DƯỢC SỸ - BỆNH NHÂN TRONG

ràng về tên thuốc, nồng độ, hàm lượng, số lượng thì hỏi lại người kê đơn. Người bán
thuốc được phép từ chối bán thuốc theo đơn trong các trường hợp đơn thuốc không
hợp lệ; có sai sót hoặc nghi vấn; kê đơn không nhằm mục đích chữa bệnh.
- Người bán thuốc phải bán đúng thuốc trong đơn. Nếu đơn thuốc không rõ
ràng về tên thuốc, nồng độ, hàm lượng, số lượng thì phải hỏi lại người kê đơn. Người
bán thuốc được phép từ chối bán thuốc theo đơn trong các trường hợp đơn thuốc
không hợp lệ, có sai sót hoặc nghi vấn; kê đơn không nhằm mục đích chữa bệnh.
- Người bán thuốc phải bán đúng thuốc kê trong đơn; không được tự ý thay thuốc.
Trường hợp thuốc có cùng thành phần dược chất, cùng hàm lượng, nồng độ, cùng dàng
bào chế, chỉ khác tên biệt dược thì có thể thay thế khi được sự đồng ý của người mua
hoặc người kê đơn và ghi tên thuốc, hàm lượng, số lượng đã thay thế vào đơn.
1.4. CÁC CHỈ SỐ QUI ĐỊNH NHAM đ ả m b ả o sử d ụ n g t h u ố c h ợ p l ý
Các chỉ số sử dụng thuốc có thể mô tả tình trạng sử dụng thuốc ở một quốc
gia, một khu vực hay mỗi cơ sở y tế. Những chỉ số này cho phép các nhà lập kế
hoạch, nhà quản lý và nghiên cứu về sức khoẻ có sự so sánh cơ bản tình trạng giữa
các khu vực khác nhau hoặc
ở những thời điểm khác nhau. Khi cần thiết có sự can
thiệp để nâng cao việc sử dụng thuốc, có thể sử dụng các chỉ số này để đánh giá mức
độ tác động của các can thiệp.
Các chỉ số sử dụng thuốc này được xây dựng để sử dụng như là các phương
pháp đo lường việc thực hiện 3 lĩnh vực nói chung liên quan tới vấn đề sử dụng
thuốc hợp lý trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu:
- Thực hành kê đơn thuốc của người cung cấp dịch vụ y tế.
8
- Những yếu tố cơ bản trong việc chăm sóc người bệnh, bao gồm cả thăm
khám lâm sàng và cấp phát thuốc.
- Các yếu tố đặc trưng của cơ sở để hỗ trợ cho việc sử dụng thuốc hợp lý như
các thuốc thiết yếu và thông tin tối thiểu về thuốc.[3] [10] [20]
1.4.1 Các chỉ sô về kê đơn [3][10][20]
Chỉ số kê đơn đánh giá việc thực hiện kê đơn của thầy thuốc tại các cơ sở y tế

tế rất khó khăn để thực hiện chức trách của họ một cách có hiệu quả.
Các chỉ số về cơ sở y tế bao gồm:
- Khả năng sẵn có danh mục thuốc thiết yếu: 100%.
- Khả năng sẵn có thuốc thiết yếu tại cơ sở: 100%.
1.5. TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN, HƯỚNG DAN v à sử d ụ n g t h u ố c
1.5.1 Tình hình kê đơn, hướng dẫn và sử dụng thuốc trên thế giới
Vì mục tiêu sức khoẻ con người, tất cả mọi thành viên trong cộng đồng đều
phải nỗ lực thực hiện việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả, nhất là các bác
sỹ, dược sỹ - những người cung cấp dịch vụ y tế và cả bệnh nhân - những người trực
tiếp liên quan, ảnh hưởng tới vấn đề này.
Bác sỹ là những người trực tiếp khám bệnh và chỉ định dùng thuốc cho bệnh
nhân. Kê đơn thuốc là kỹ năng cả cuộc đời nghề nghiệp của thầy thuốc, kỹ năng này
không chỉ để lựa chọn thuốc hợp lý mà còn hiểu và sử dụng được các phác đồ điều
trị có sẵn một cách thông minh, để khi cần thiết có thể áp dụng cho đúng từng người
bệnh [19].
Trách nhiệm của những thầy thuốc là phải chẩn đoán chính xác và chỉ định
dùng thuốc hợp lý, bắt đầu từ một yêu cầu đơn giản là ghi đơn thuốc cho bệnh nhân
một cách rõ ràng đúng qui định. Ví dụ như khi kê đơn thuốc có một thành phần thì
phải ghi tên thuốc theo tên gốc. Thế nhưng, hiện nay tình trạng lạm dụng tên biệt
dược, tên thuốc quảng cáo khi kê đơn trở nên phổ biến nhiều đến mức các thầy
thuốc không biết tên gốc của thuốc mình vừa kê là gì. Việc kê đơn của bác sỹ cho
bệnh nhân chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó có một yếu tố từ phía các công
ty dược phẩm. Nghiên cứu từ nhiều nước đã chỉ ra trên 90% bác sỹ đều quan tâm tới
việc chào hàng do các công ty dược phẩm thực hiện và phần lớn họ coi đó là nguồn
thông tin điều trị [34]. Chính điều này là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc
các thầy thuốc gần như chỉ kê tên biệt dược chứ không quan tâm đến tên gốc của
thuốc. Hãng truyền thông nổi tiếng CNN mói đây đã đưa ra danh sách 25 sự kiện y
tế trong vòng 1/4 thập kỷ vừa qua, trong đó tình trạng kê đơn thuốc theo quảng cáo
10
được xếp ở vị trí thứ 17. Chính vì chạy theo đơn thuốc quảng cáo mà năm 1982 ở

rõ ràng. Chính sự kém hiểu biết, thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc chạy theo lợi
11
nhuận của những người bán thuốc góp phần tạo nên tình trạng sử dụng thuốc không
an toàn, không hợp lý, tốn kém tiền của bệnh nhân.
Một nghiên cứu ở 100 điểm bán lẻ tại Kathmandu, Nepal cho thấy 97% bán
thuốc kháng sinh không cần thiết cho bệnh ỉa chảy, 44% bán kháng sinh cùng
Oresol [2], Kết quả từ một cuộc điều tra về các cơ sở bán thuốc tại cộng đồng người
Bolivia cho biết: 91% cơ sở khảo sát bán thuốc kháng sinh không cần đơn cho bệnh
nhân bị sốt và đau họng [32]. Những người bán thuốc ở Nairobi, Kenya sẵn sàng
bán liều kháng sinh nhỏ hơn chỉ định theo yêu cầu của bệnh nhân [32]. Tương tự tại
ấn Độ, kháng sinh được các bác sỹ cung cấp ngay tại nơi kê đơn, thậm chí là không
cần cả đơn [32].
Để đảm bảo việc sử dụng thuốc hợp lý và an toàn, bên cạnh vai trò của người
thầy thuốc, người cung ứng thuốc phải đặc biệt quan tâm đến người bệnh - người
trực tiếp sử dụng thuốc. Việc bệnh nhân có tuân thủ đầy đủ quá trình điều trị hay
không quyết định lớn tới hiệu quả của phương pháp điều trị. Theo báo cáo của tổ
chức Y Tế Thế Giói trung bình 50% bệnh nhân không sử dụng đúng các thuốc đã
được chỉ định, dùng thuốc không đều đặn, hoặc không sử dụng chút nào. Từ một vài
nghiên cứu cho thấy chỉ có dưới 60% bệnh nhân hiểu đúng cách dùng thuốc như đơn
đã kê [34]. Theo một nghiên cứu tại cộng đồng người Mexico thì có 64,4% bệnh
nhân sử dụng kháng sinh sai liều và 53,1% bệnh nhân chỉ sử dụng trong thời gian
ngắn thì dừng (có sự giám sát của bác sỹ). Tỷ lệ này còn cao hơn là 82,6% và 95,6%
khi không có sự giám sát của bác sỹ [32]. Kết quả từ một nghiên cứu về vấn đề tự sử
dụng thuốc ở Sudan cho biết 73,9% người bệnh tự sử dụng kháng sinh và thuốc
chống sốt rét để điều trị mà không có đơn. 39% trong số đó sử dụng thuốc không
đúng liều hoặc không thực hiện đúng quá trình điều trị [28], Việc sử dụng thuốc
không an toàn, hợp lý không chỉ xảy ra phổ biến ở nước đang phát triển mà còn xảy
ra ở cả những nước phát triển. Bao gồm các vấn đề: không tuân thủ sự chỉ định điều
trị, tự ý sử dụng những thuốc phải kê đơn, lạm dụng kháng sinh và thuốc tiêm, lạm
dụng những thuốc tương đối an toàn, sử dụng những thuốc đắt tiền không cần thiết.

trung bình một đơn thuốc có 4,2 loại thuốc và chỉ có 38,0% số thuốc được kê nằm
trong danh mục thuốc thiết yếu [1]. Kết quả một nghiên cứu về kiến thức và thực
hành kê đơn kháng sinh cho trẻ dưới 5 tuổi mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
tại Vĩnh Phúc cho biết một số thông tin như sau: Tỷ lệ dùng kháng sinh là 97,7%, tỷ
lệ kê kháng sinh đúng chỉ định là 49,4%, chỉ có 38,6% số đơn kê đúng liều trong
ngày, 60,2% số đơn kê đủ số ngày, 59% số đơn kê đúng loại thuốc [15].
13
Theo điều hai của bộ Y Tế qui định về đạo đức hành nghề dược, người dược
sỹ phải có trách nhiệm hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và tiết kiệm cho
người dân [6]. Tuy nhiên thực trạng này ở nước ta đang còn nhiều bất cập. Kết quả
một cuộc điều tra về kiến thức và thực hành của người bán thuốc trong điều trị các
bệnh lây qua đường sinh dục tại 60 nhà thuốc tư nhân ở Hà Nội cho biết: 74% dược
sỹ và người bán thuốc biết rằng họ không nên tự ý điều trị cho bệnh nhân nhiễm
bệnh lây qua đường sinh dục nhưng 84% bệnh nhân vẫn được điều trị bằng kháng
sinh, 80% bệnh nhân không được nắm được cách sử dụng thuốc, 55% bệnh nhân
không tham khảo thông tin từ người bán thuốc, 61% trường hợp bệnh nhân không
nhận được bất kỳ lời tư vấn nào [29].
Vấn đề bệnh nhân không tuân thủ đầy đủ quá trình điều trị hoặc tự sử dụng
thuốc không hợp lý đã gây tác hại nghiêm trọng, gây tốn kém tiền của, ảnh hưởng
đến sức khỏe, có khi còn nguy hại đến tính mạng của người bệnh và tăng áp lực với
ngành Y Tế. Một nghiên cứu về việc sử dụng kháng sinh tại các nhà thuốc ở quận
Ba Đình, Hà Nội cho thấy 54,1% người bệnh tự mua kháng sinh để điều trị theo
kinh nghiệm bản thân mà không cần đi khám ở bác sỹ, 35,7% người bệnh cho rằng
họ có thể hỏi dược sỹ ở các hiệu thuốc. Một nghiên cứu tiến hành trên 1345 trường
hợp nhiễm khuẩn hô hấp cấp của trẻ dưới 5 tuổi cho thấy 90% trường hợp dùng
kháng sinh trong 3 ngày hoặc ít hơn, chỉ có 2,7% số trường hợp dùng đúng liều [2].
Cũng trên địa bàn Hà Nội, một nghiên cứu khác cho thấy có đến 32,05% người mua
thuốc không nhắc lại được liều dùng và cách sử dụng của thuốc mình vừa mua [25],
Sử dụng thuốc như con dao hai lưỡi, nếu sử dụng đúng cách thì sẽ rất hiệu quả, nếu
không thì hậu quả khôn lường. Bởi vì ngoài tác dụng điều trị bất kỳ thuốc nào cũng

là một hướng dẫn căn bản nhưng tỷ lệ hướng dẫn này mói đạt 98,6%. Tỷ lệ hướng dẫn thời
điểm dùng đầy đủ là rất thấp, đạt 8%. Chưa có hướng dẫn tránh tương tác thuốc trong đơn.
Về hướng dẫn sử dụng thuốc trong cấp và bán thuốc: Tỷ lệ các trường hợp có
hướng dẫn đường dùng, liều dùng một lần, số lần dùng một ngày đầy đủ mói đạt 31 -*33%
đối vói trường hợp bán thuốc và chỉ đạt 21 -+24% đối với cấp thuốc. Tỷ lệ hướng dẫn thời
điểm dùng đầy đủ chỉ đạt 8-> 12%. Chưa có trường hợp nào có hướng dẫn bệnh nhân tránh
tương tác thuốc và theo dõi, xử trí các ADR thường gặp. Chỉ có 2 trường hợp có hướng dẫn
bảo quản thuốc trong bán thuốc và không có trường hợp nào trong cấp thuốc.
Mức độ nhận thức của bệnh nhân về cách sử dụng thuốc đúng: Có 94% bệnh nhân
biết đường dùng đúng các thuốc, 92% bệnh nhân biết số lần dùng trong ngày đúng, 88%
biết liều dùng một lần đúng, 74% biết thời điểm dùng của các thuốc. Chỉ có 2% bệnh nhân
biết cách tránh tương tác và biết cách bảo quản thuốc tốt.
15
- Bệnh nhân thu thập thông tin hướng dẫn sử dụng thuốc từ đọc đơn kê chiếm 60%,
từ bác sỹ khám điều ttị là 13% và đặc biệt từ dược sỹ bán (cấp) phát thuốc chỉ đạt 38%.
- Vói hướng dẫn sử dụng thuốc của bác sỹ, trang bình có 48% bệnh nhân hài lòng,
29% chấp nhận được và 23% bệnh nhân không hài lòng. Vói dược sỹ, trang bình chỉ có
26% bệnh nhân hài lòng, 51% chấp nhận được và 23% bệnh nhân không hài lòng.
Tóm lại: Thực trạng kê đơn, hướng dẫn và sử dụng thuốc tại BVPSHN bên
cạnh những mặt đã thực hiện tốt như: số thuốc trung bình trong 1 đơn phù hợp với
khuyến cáo của tổ chức Y Tế Thế Giới, tình hình sử dụng kháng sinh và vitamin phù
hợp với phác đồ điều trị chung của bệnh viện; thì vẫn còn rất nhiều bất cập tồn tại
như: tỷ lệ kê thuốc theo tên gốc rất thấp, tỷ lệ thuốc trong danh mục thuốc thiết yếu
của bộ Y Tế và bệnh viện Phụ Sản Hà Nội còn thấp, hướng dẫn sử dụng thuốc trên
đơn kê, của bác sỹ và của dược sỹ bán, cấp thuốc còn hạn chế, đặc biệt về các hướng
dẫn thời điểm dùng tránh tương tác, theo dõi và xử lý ADR. Điều đó dẫn đến mức
độ nhận thức của bệnh nhân về cách sử dụng thuốc đúng và sự hài lòng của bệnh
nhân đối vói các nhân viên y tế là không cao.
1.6. CÁC BIỆN PHÁP CAN THIỆP NHAM t ă n g cư ờ n g sử d ụ n g
THUỐC HỢP LÝ, AN TOÀN

- Sinh hoạt chuyên môn toàn bệnh viện, các vấn đề bất cập trong công tác sử
dụng thuốc được chú trọng giải quyết [14] [22] [23].
- Tổ chức các buổi tập huấn nâng cao kiến thức về thông tin dược lâm sàng
cho các cán bộ y tế. Ví dụ về việc sử dụng kháng sinh hợp lý, nâng cao kiến thức về
vi sinh học [14][22][23],
- Tổ chức hội đồng xét duyệt bình bệnh án, chấm điểm và có thưởng đối với
bệnh án tốt, phạt hành chính đối với bệnh án sai phạm [22] [23].
- Xây dựng mạng nội bộ cung cấp kịp thời các thông tin thuốc giữa các khoa
phòng trong bệnh viện [14][23].
- Một số bệnh viện thực hiện cử nhân viên khoa dược chia lẻ, cấp và phát
thuốc tới tận khoa điều trị [14] [22].
- Tổ Dược lâm sàng cử người đi kiểm tra việc thực hiện y lệnh của từng khoa
điều trị [22].
- Tăng cường nhắc nhở nhân viên y tế nâng cao ý thức hướng dẫn sử dụng
thuốc cho bệnh nhân [14] [22] [23].
17
PHẦN 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN cứ u
3 đối tượng được chọn để nghiên cứu là : Bác sỹ, dược sỹ, bệnh nhân. Các đối
tượng được nghiên cứu sau khi các biện pháp can thiệp đã thực hiện, từ tháng 01 đến
tháng 03 năm 2007,
2.1.1 Bác sĩ:
a. Khảo sát chất lượng kê đơn của bác s ĩ.
Chúng tôi lấy 500 đơn thuốc khảo sát từ các khoa và xếp theo 5 nhóm điều trị:
Bảng 2.1: Phân nhóm điều trị các đơn thuốc khảo sát.
Nhóm
Tên nhóm điều trị n
I Các đơn ra viện sau đẻ thường.
100

tuần 3 và tuần 4 tháng 03/2007.
^ Tiêu chuẩn loại trừ : Bệnh nhân sau khi mua thuốc còn quay trở lại phòng khám
để được bác sỹ HDSD thuốc hoặc bệnh nhân đến mua thuốc nhưng không qua khám
tại bệnh viện.
b. Khảo sát mức độ hài lòng của bệnh nhân đối với HDSD thuốc của bác sỹ, dược
sỹ.
>100 bệnh nhân mua thuốc từ nhà thuốc bệnh viện trong tuần 1 và tuần 2
tháng 03/2007.
>100 bệnh nhân mua thuốc từ nhà thuốc bệnh viện trong tuần 3 và tuần 4
tháng 03/2007.
Tiêu chuẩn loại trừ : Bệnh nhân đến mua thuốc nhưng không qua khám tại bệnh
viện.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
Nghiên cứu can thiệp không đối chứng.
2.2.1 Mẫu nghiên cứu trước can thiệp:
Toàn bộ kết quả nghiên cứu trước can thiệp được hồi cứu qua 2 tài liệu :
1. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “ Khảo sát thực hiện kê đơn - Hướng
dẫn sử dụng thuốc trong khám chữa bệnh ngoại trú tại bệnh viện Phụ Sản Hà Nội”
của thạc sỹ Lê Thị Kim Thanh - Trưởng khoa Dược bệnh viện Phụ Sản Hà Nội.[21]
19
2. Luận văn : “ Khảo sát mô hình thuốc sử dụng và chất lượng thông tin
hướng dẫn sử dụng thuốc cho bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện phụ sản Hà Nội” _
khoá luận tốt nghiệp dược sỹ khoá 2001-2006 của Đỗ Thị Thuý Lan. [17]
Qua hai nghiên cứu khảo sát đã đánh giá được thực trạng, những ưu, nhược
điểm trong vấn đề kê đơn, hướng dẫn và sử dụng thuốc tại BVPSHN. Từ đó tìm ra
nguyên nhân và đề xuất các giải pháp. Trên cơ sở đó, trong năm 2006 BVPSHN đã
kịp thời tiến hành các biện pháp can thiệp để khắc phục những vấn đề bất cập còn
tồn tại.
2.2.2 Các can thiệp BVPSHN đã thực hiện:
Thòi gian thực hiện các biện pháp can thiệp : 01/04/2006 - 31/03/2007.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status