ĐỔI MỚI HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC LÀ NHÂN TỐ QUAN
TRỌNG ĐỂ PHÁT TRIỂN TƯ DUY ĐỘC LẬP SÁNG TẠO CHO
SINH VIÊN NGÀNH TOÁN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC
TÓM TẮT
Bài viết này phân tích nhằm làm sáng tỏ cơ sở khoa học và sự cần thiết
của việc đổi mới hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học
tập của sinh viên đại học nói chung và sinh viên toán học nói riêng. Đồng
thời đề xuất một số hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá có ưu thế
trong việc phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, rèn luyện khả năng tự học
và tự nghiên cứu cho sinh viên.
1. Đặt vấn đề
Việc kiểm tra đánh giá kiến thức và kĩ năng của sinh viên có vai trò rất
quan trọng, nó vừa giữ vai trò động lực thúc đẩy quá trình dạy học, nó lại vừa có
vai trò bánh lái, giúp giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy và giúp sinh viên
thay đổi phương pháp học tập để phù hợp với hình thức, phương pháp kiểm tra
nhằm đạt kết quả cao. Thập niên gần đây, để đáp ứng với nhu cầu của thời kì
mới, giáo dục đại học đang từng bước thay đổi chương trình và phương pháp
đào tạo. Tuy nhiên, việc kiểm tra đánh giá vẫn chưa được nghiên cứu một cách
đúng mức, nhiều khi còn tùy tiện, chủ quan, thiếu chính xác, hình thức chủ
nghĩa, nên việc đánh giá chất lượng đào tạo chưa thực chất và còn nhiều vấn đề
bất cập trong việc sử dụng nguồn nhân lực cho xã hội. Điều đó cho thấy việc
thay đổi một hệ thống chương trình và phương pháp đào tạo mà không thay đổi
hệ thống kiểm tra đánh giá thì cũng không thể đạt được mục đích mong muốn.
1
Để nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học, cùng với việc đổi
mới, hoàn thiện chương trình, nội dung đào tạo, đổi mới phương pháp đào tạo
thì cần phải đổi mới hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập
của sinh viên. Vấn đề đặt ra là phải xác định cho được những cơ sở lí luận, thực
tiễn của việc đổi mới hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá, trên cơ sở đó
phương pháp dạy học, vì thế trong hệ thống các thành tố của quá trình dạy học,
với sự tương quan nhất định cần phải có cách kiểm tra, đánh giá phù hợp với sự
thay đổi của mục đích, nội dung và phương pháp dạy học. Việc kiểm tra đánh
giá ở đại học cũng phải nhằm vào các hướng trên, để các thành tố của quá trình
dạy học mới có thể tác động tương hỗ và thúc đẩy cả hệ thống phát triển, có như
thế chất lượng giáo dục mới được nâng cao.
- Thế kỉ XXI là thế kỉ của nền kinh tế tri thức. Đó là nền kinh tế đặc trưng
bằng sự đổi mới kiến thức liên tục với sự bùng nổ thông tin phát triển mạnh mẽ
trên các lĩnh vực liên ngành và đa ngành. Khối lượng thông tin lớn, hiện đại,
được truyền tải dưới nhiều loại hình và trên nhiều phuơng tiện, chúng ta có thể
tiếp cận thông tin và lấy thông tin ở mọi nơi, mọi lúc. Trong bối cảnh này, việc
đào tạo sinh viên ở bậc đại học cần phải thay đổi. Người dạy không hướng chủ
yếu vào cung cấp kiến thức, tích lũy kiến thức và cũng không nên chú trọng vào
kiểm tra, đánh giá việc ghi nhớ kiến thức và tích lũy được bao nhiêu kiến thức,
mà phải dạy cho sinh viên phương pháp lấy thông tin và xử lí thông tin vào
những trường hợp cụ thể một cách sáng tạo, phải bồi dưỡng cho sinh viên khả
năng thích ứng, mềm mại nhằm phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề đáp ứng
với nhu cầu của xã hội. Vì vậy, kiểm tra, đánh giá cũng phải thay đổi: kiểm tra,
đánh giá phương pháp lấy thông tin và xử lí thông tin, cách vận dụng thông tin
3
để giải quyết những vấn đề cụ thể một cách sáng tạo. Đây chính là nhu cầu mà
xã hội đòi hỏi ở giáo dục đại học trong việc cung cấp nguồn nhân lực.
2.2. Cơ sở thực tiễn của việc đổi mới hình thức và phương pháp kiểm
tra đánh giá
Từ gần nửa thế kỉ trước đây, thế giới đã đưa ra 3 mục tiêu dạy học là:
nhận thức (cognitive), kĩ năng (psychomotor) và cảm xúc (affective) hay còn gọi
là phẩm chất nhân văn, [Bloom, 1956]. Ở nước ta, hơn nửa thế kỉ qua, việc dạy
học mới chỉ chú ý tới mục tiêu nhận thức, còn các mục tiêu khác bị xem nhẹ
hoặc không chú ý tới. Ngay trong mục tiêu nhận thức vốn có 8 bậc: biết, hiểu,
ứng dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá, chuyển giao, sáng tạo, thì chúng ta
phần có một bài thi. Bài kiểm tra giữa kì chỉ chiếm 30% điểm trung bình học
phần đó nên sinh viên cũng không chú trọng vào bài kiểm tra này. Bài thi được
tiến hành vào cuối học kì nên trong suốt quá trình học tập sinh viên không có
động lực thúc đẩy quá trình tự học, đến cuối học kì chỉ cần dành một thời gian
ngắn trong 2- 3 tuần ôn và thi để tu luyện, việc tự học và tự nghiên cứu trong đại
đa số sinh viên rất hạn chế. Không những thế để đối phó với đề thi nhiều sinh
viên còn học tủ, học lệch, nên việc đánh giá chưa khách quan. Thực tế việc kiểm
ta đánh giá ở các trường đại học hiện nay đã phản ánh rõ nét việc dạy và học,
điều đó chưa thể nói được chất lượng đào tạo đại học của nước ta đã đạt được
mục tiêu đào tạo và đã đáp ứng được nhu cầu của xã hội trong thời kì mới.
Trong lí luận dạy học đại học có nêu: kiểm tra đánh giá là công đoạn
quyết định chất lượng của quá trình dạy học. Kiểm tra đánh giá giúp giáo viên
biết được hiệu quả và chất lượng giảng dạy, điều chỉnh nội dung và phương
pháp dạy học, giúp người học biết được chất lượng học tập, điều chỉnh phương
5
pháp học, giúp nhà quản lí ra quyết định về kết quả học tập của người học, điều
chỉnh chương trình đào tạo và tổ chức dạy học. Trong bối cảnh và nội hàm chất
lượng đã trình bày, việc đổi mới hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá trong
trường đại học là cần thiết và cấp bách. Tuy nhiên để việc đổi mới kiểm tra đánh
giá có hiệu quả cần phải tuân theo một số nguyên tắc cơ bản như:
- Phải kiểm tra đánh giá theo mục tiêu đào tạo của từng môn học, đồng
thời phải kiểm tra đánh giá theo các bậc nhận thức, các bậc kĩ năng và các bậc
của năng lực tư duy mà môn học dự kiến người học phải đạt được sau khi học
xong.
- Cần áp dụng nhiều hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá khác nhau:
Viết, vấn đáp, trắc nghiệm khách quan, đặc biệt ở đại học cần chú trọng và ưu
tiên cho các hình thức: bài tập lớn, tiểu luận, tổng luận môn học. Việc kiểm tra
phải được tiến hành thường xuyên trong quá trình học tập.
- Kết quả kiểm tra đánh giá phải được sử dụng để đánh giá chất lượng
giảng dạy, chất lượng học tập và chất lượng đào tạo (chương trình, nội dung,
thực hành có rất nhiều ưu thế trong việc phát triển tư duy độc lập sáng tạo, phản
ánh khả năng thao tác của người học một cách cụ thể và rõ ràng. Bởi vì các hình
thức trên đều đòi hỏi khả năng tự học, tự tìm kiếm thông tin, tự lựa chọn phương
pháp để giải quyết một vấn đề nào đó của sinh viên, và nó phải trải qua một thời
gian cần thiết. Thực chất của các dạng kiểm tra này chính là kiểm tra khả năng
tự nghiên cứu và khả năng thao tác tư duy của sinh viên. Vì mục tiêu của việc
thực hiện các báo cáo, tiểu luận, bài tập lớn, chính là:
- Phát hiện những mối quan hệ của các đối tượng toán học.
- Vận dụng tổng hợp kiến thức để rồi sáng tạo về các bài tập liên quan.
7
Như vậy khi tiến hành làm một hoạt động nghiên cứu, cho dù là báo cáo
hay tiểu luận, bài tập, thì người thực hiện cũng phải vận dụng một cách tối đa
nhất những năng lực tư duy và năng lực thao tác của bản thân như: quan sát, mô
tả, tìm tòi, phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, đánh giá, khái quát và đề xuất
giải pháp nhờ đó mà năng lực độc lập và sáng tạo thể hiện và phát triển. Hơn
nữa để tiến hành một bài tập nghiên cứu đòi hỏi người nghiên cứu phải tập trung
thời gian để tìm, tra cứu, đọc tài liệu, thu thập thông tin và xử lí, sắp xếp thông
tin, giúp cho sinh viên tận dụng thời gian vào học tập, tránh được thời gian nhàn
rỗi, mùa vụ như các hình thức kiểm tra khác.
Để tiến hành các loại hình kiểm tra này một cách có hiệu quả, cần phải có
sự hướng dẫn cụ thể với các yêu cầu rõ ràng của giáo viên, kết hợp tư vấn và
giúp đỡ sinh viên kịp thời lúc cần thiết. Cũng cần phải chọn sinh viên có đủ điều
kiện để thực hiện các loại hình này, tránh trường hợp vì quá khả năng mà bỏ nửa
chừng.
Hiện nay Đại học Hùng Vương và nhiều trường đại học ở nước ta cũng đã
khuyến khích sinh viên làm bài tập lớn, tiểu luận, báo cáo chuyên đề trong từng
môn học, ở nhiều trường kết quả của các hình thức này được tính 30% điểm
trong điểm thi của học phần đó. Điều này cũng đã kích thích và phát huy được
năng lực độc lập học tập và nghiên cứu của sinh viên, tuy nhiên cũng chưa có
những quy định, hướng dẫn cụ thể và cũng chưa thực hiện rộng rãi, thống nhất ở