ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THÙY NGA
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
DU LỊCH MICE TẠI MỘT SỐ KHÁCH SẠN 5 SAO
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THÙY NGA
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
DU LỊCH MICE TẠI MỘT SỐ KHÁCH SẠN 5 SAO
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN THỊ MÌNH HÒA
Hà Nội, 2015
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5. Phương pháp nghiên cứu 9
6. Đóng góp của luận văn 10
7. Kết cấu của luận văn 10
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH DOANH DU
Tiểu kết chương 2 59
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN
KINH DOANH DU LịCH MICE Ở KHÁCH SẠN 5 SAO TẠI THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH 60
3.1. Định hướng phát triển du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh và phương
hướng phát triển kinh doanh du lịch MICE tại khách sạn 5 sao trên địa bàn . 60
3.1.1 Định hướng phát triển du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh 60
3.1.2. Phương hướng phát triển kinh doanh du lịch MICE trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh 69
3.2. Giải pháp phát triển 72
3.2.1 Đẩy mạnh hoạt động phát triển thị trường khách du lịch MICE tại
khách sạn 5 sao tại Thành phố Hồ Chí Minh 72
3.2.2 Đẩy mạnh các chính sách Marketing ở khách sạn 5 sao tại Thành phố
Hồ Chí Minh 75
3.3. Kiến nghị với các cơ Quan chức năng: 87
2
3.3.1. Kiến nghị với Bộ VHTT&DL,Tổng cục Du lịch 87
3.3.2. Kiến nghị với Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh 89
3.3.3. Kiến nghị với các ban ngành khác 90
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 97
3
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
MICE: (Meeting, Icentive, Conference, Event): Du lịch kết họp hội nghị hội thảo
ICCA: (International Congeress& Convention Association): Hiệp hội hội nghị và
đại hội Quốc tế.
UN-WTO: (World Tourism Organization): Tổ chức du lịch thế giới.
CIC : (Convention Industry Council): Hội đồng hội nghị công nghiệp.
Bảng 2.13. Đánh giá của khách hàng về chính sách phân phối sản phẩm
MICE của khách sạn 55
Bảng 2.14 Đánh giá của khách hàng về chính sách xúc tiến sản phẩm MICE
của khách sạn 56
5
DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 1.1. Số lượng khách du lịch trên toàn cầu giai đoạn 1995-2012 21
Biểu đồ 1.2. Sự phân bố du khách không đều giữa nước có nền kinh tế tiên
tiến và nền kinh tế mới giai đoạn 1995-2012 22
Biểu đồ 1.3. Số lượng cuộc hội họp từ năm 2002 đến 2011 trên thế giới 23
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống
văn hóa – xã hội. Hoạt động du lịch đang phát triển mạnh mẽ và trở thành một
ngành kinh tế Quan trọng ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Tuy còn khá mới mẻ, đang được từng bước xây dựng, song du lịch MICE ở
Việt Nam cũng có rất nhiều điều kiện phát triển và đã có những thành công ban đầu.
Du lịch Việt Nam đã thực sự chứng tỏ được sự an toàn, ổn định về an ninh, chính trị,
cùng với sự đầu tư mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật, từ đó tạo nên tiền đề
cho việc phát triển du lịch MICE. Trong những năm gần đây, du lịch MICE được
xem như là hướng đi đầy tiềm năng và triển vọng, góp phần Quan trọng trong hoạt
động kinh doanh du lịch và Quảng bá hình ảnh Việt Nam trên thị trường du lịch
Quốc tế.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế, thương mại
lớn của nước ta, một thành phố năng động, là điểm đến thu hút khách du lịch MICE.
Các khách sạn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là khách sạn 5 sao đã
đáp ứng được cơ bản những yêu cầu của loại hình du lịch này từ cơ sở vật chất đến
các dịch vụ tiện ích. Khách du lịch MICE chiếm từ 30-50% số lượng khách tại các
khách sạn 5 sao trên địa bàn này. Tuy nhiên việc đầu tư cho du lịch MICE tại các
sạn 5 sao trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản về kinh doanh du lịch MICE trong khách sạn.
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch MICE tại 5 khách sạn
5 sao trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
- Thông Qua việc lựa chọn 5 trong số 14 khách sạn 5 sao tại thành phố Hồ
Chí Minh làm đối tượng nghiên cứu điển hình, đánh giá toàn diện thực trạng kinh
doanh du lịch MICE trong các khách sạn đó.
- Rút ra bài học kinh nghiệm từ những khách sạn, nghiên cứu điển hình, đề
xuất các giải pháp hoạt động để kinh doanh du lịch MICE của các khách sạn 5 sao
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiệu Quả hơn.
8
4.
-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh du lịch MICE ở một số khách
sạn 5 sao tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Lựa chọn 5 trong tổng số 14 khách sạn 5 sao tại thành
phố Hồ Chí Minh hiện nay để làm nghiên cứu điển hình. Cụ thể là: Sharaton, Rex,
New World, Park Hyatt, Majestic. Đây là các khách sạn thuộc Quyền Quản lí, điều
hành của các tập đoàn Quản lý khách sạn khác nhau.
+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tình hình, số liệu từ năm 2009 đến năm 2013.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong Quá trình nghiên cứu và thực hiện, luận văn sử dụng các phương pháp
chủ yếu sau:
- Thu thập và xử lí phân tích dữ liệu thứ cấp: Phương pháp này cho phép sự kế
thừa, tích lũy thành tựu của Quá khứ. Đây là phương pháp được sử dụng hầu như
xuyên suốt trong đề tài. Nguồn tài liệu sử dụng trong đề tài gồm các dạng : tài liệu
tham khảo, các văn bản nghị Quyết,nghị định; số liệu thống kê từ các cơ Quan ban
khách sạn
Chương 2. Thực trạng kinh doanh du lịch MICE tại một số khách sạn 5
sao trên dịa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (lựa chọn điển hình)
Chương 3. Phương hướng và giải pháp nhằm phát triển kinh doanh du
lịch MICE tại khách sạn 5 sao trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH DOANH DU LỊCH MICE
TRONG KHÁCH SẠN
1.1. Cơ sở lí luận về kinh doanh du lịch MICE trong khách sạn
Việc tổ chức các hội thảo, các sự kiện, các triễn lãm đã và đang nổi lên như
là một nhân tố nổi bật của du lịch toàn cầu. Theo Huang thì “Nó (MICE) là mục tiêu
của nhiều Quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; được xem như là
ngành công nghiệp của tương lai, thu hút du khách với năng suất cao” [8,15]. Tuy
nhiên, khái niệm MICE được diễn dịch như thế nào một cách thống nhất như là một
suy lý từ 4 yếu tố cấu thành vẫn là một điều chưa đạt được. Chính vì vậy, việc tìm
hiểu khái niệm này là vấn đề có tính tất yếu.
1.1.1 Khái niệm
Đối với hầu hết các Quốc gia trên thế giới, Incentive (du lịch khuyến thưởng)
là ngành có nhiều sự khác biệt với 3 thành phần còn lại của MICE nên MICE đôi
khi được gọi dưới một cái tên khác MEEC (Meetings, Expositions, Events and
Conventions) [7,17]. Hay nói cách khác khi nhắc đến du lịch hội thảo, hội nghị,
Incentive thường được tách biệt.
Bên cạnh đó, thuật ngữ MICE hiện không phải là thuật ngữ duy nhất được
dùng để chỉ loại hình kinh doanh du lịch kết hợp 4 yếu tố trên. Các tổ chức Quốc tế
như Tổ chức Du lịch Thế giới - World Tourism Organization (UN-WTO), Hội đồng
Hội nghị Công nghiệp - Convention Industry Council (CIC) [16,5] lại có xu hướng
sử dụng thuật ngữ Meetings Industry để chỉ các thành phần cấu thành của MICE.
Hiện tại, thuật ngữ MICE đang được sử dụng rộng rãi và phổ biến và trường nghĩa
bao Quát hơn nên trong đề tài này tác giả đề cập MICE như một thuật ngữ chỉ chung
phần của kinh doanh du lịch là nó tham gia vào một số dịch vụ của ngành này. Các
dịch vụ này thường được tổ chức từ chính đơn vị “chạy” chương trình” [6,12]
Theo The Convention Industry Council’s (CIC)- Hội nghị Hội đồng Công
nghiệp thì Meeting “là một sự kiện với các hoạt động chính của người tham dự là
12
tham gia các hội nghị giáo dục; các cuộc họp, thảo luận về xã hội hoặc tham gia
các sự kiện khác. Nó không bao gồm triển lãm” [18].
Trên một bình diện khác, Meeting có thể được xem là loại hình du lịch nhằm
trao đổi giữa các cá nhân và tổ chức về một thông tin, sản phẩm mới, thảo luận trao
đổi ý kiến về các vấn đề xung Quanh một chủ đề nhất định.
Một số học giả như Weber, K. & Ladkin (2004) [15,47-63]; John Swarbrooke
and Susan Horner & Davidson [6,34] và cả các tổ chức du lịch Quốc tế như tổ chức
du lịch Thế giới (UNWTO)(2006) đều không phân định rõ giữa Meeting và
Conventions/Conference. Hầu như cho đó là một. Chỉ một ít cố gắng phân định nó
ra một cách rõ ràng nhưng vấn đề này hầu như rất khó. Vấn đề này sẽ được tập
trung làm rõ ở phần 1.1.1.3
Bên cạnh đó, còn nhiều ý kiến khác nhau về tiêu chí thế nào là một
“International Meeting”. Theo Union of International Associations (UIA)- Liên hiệp
khoa học Quốc tế thì một International Meeting phải đáp ứng cả 3 tiêu chí sau:
- Các cuộc họp được tổ chức hoặc được tài trợ bởi các tổ chức có trong niên
giám các tổ chức Quốc tế của UIA (UIA’s Yearbook of International Organisations)
với số lượng tham dự ít nhất phải từ 50 người trở lên.
- Các cuộc họp không được tài trợ bởi các tổ chức Quốc tế nhưng có những
nhân vật VIP Quốc tế tham dự. Thông thường được tổ chức bởi các tổ chức tầm
Quốc gia hoặc các chi nhánh của các tổ chức Quốc tế. Thành phần tham dự các cuộc
họp này phải có ít nhất 40% không đến từ nước chủ trì và có ít nhất 5 đại diện Quốc
gia khác nhau tham gia. Kéo dài ít nhất 3 ngày hoặc không có thời hạn. Đồng thời
với đó là một cuộc triễn lãm hoặc phải có ít nhất 300 người tham dự sự kiện
Meeting đó.
- Tương tự như trên nhưng thời gian kéo dài chỉ từ 2 ngày hoặc không thời
Nguồn khách chủ yếu của dịch vụ Association Meeting thường đến từ thành
viên của ICCA, các tổ chức Quốc tế, các nhà cung ứng, những người tham gia mạng
Internet và một số thành phần khác. Thông thường để tổ chức một Association
Meeting bởi ICCA thì phải bắt đầu từ một buổi hội họp mang tính chất địa phương
(Local Association Meeting).
14
Hội họp doanh nghiệp là cuộc hội họp được tổ chức bởi các doanh nghiệp
với đối tượng tham dự chủ yếu là nhân viên và các nhà phân phối. Theo ICCA thì
Corporate Meeting được chia làm 3 loại:
- Internal Meeting (Họp nội bộ): Đây là loại hình du lịch hội họp của những
người ở trong cùng một tổ chức hay cùng một nhóm của một doanh nghiệp nhằm
trao đổi thông tin với nhau về cách thức kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật, về
hành chính và khen thưởng nội bộ.
- External Meeting (Họp mở rộng): Là loại hình du lịch hội họp mà ở đó
có sự tham dự của các thành phần bên ngoài doanh nghiệp tổ chức sự kiện hội
họp đó. Nó bao gồm các đối tác, đại lý phân phối, khách hàng tiềm năng và có
thể gồm cả giới báo chí.
- In/External Meeting: Là loại hình kết hợp cả hai loại trên. Nó bao gồm một
số buổi họp có đại diện các doanh nghiệp bên ngoài tham gia, một số buổi họp chỉ
có tính chất nội bộ.
Hội họp liên chính phủ là loại hình du lịch hội họp mà cơ Quan chủ trì
thường là các tổ chức liên chính phủ có Quy mô lớn, với đại diện từ khắp thế giới
tham gia. Các cơ Quan chủ trì loại hình du lịch này thường là WTO, WB, IMF,
APEC. So với hai loại hình du lịch hội họp còn lại thì Intergovernmental
Organization Meeting được tổ chức với tần suất rất ít và thường được sử dụng với
cơ chế luân phiên các Quốc gia thành viên của tổ chức đó đăng cai. Ví dụ APEC
Economic Leaders Meeting thường được tổ chức luân phiên giữa các nước châu Á –
Thái Bình Dương.
Với nhu cầu ngày càng lớn của thế giới về Meeting hiện nay có thể thấy rõ
Meeting đang chiếm một vị trí Quan trọng không chỉ đối với ngành kinh doanh du
Convention thường hoạt động theo định kỳ cụ thể, có thiết lập thời gian biểu” [19].
Congress: Thường được dịch là đại hội. “Congress được dùng để chỉ những
đại hội lớn, kéo dài nhiều thời gian với nhiều phiên diễn ra đồng thời. Có hai loại
Congress: Quốc tế và Quốc gia. Congress được dùng với nghĩa hội nghị, hội thảo tại
châu Âu” [20]. Congress thường dùng để chỉ các sự kiện liên Quan tới chính trị.
16
Conference: đề cập đến các cuộc họp lớn có thể kéo dài trong vài ngày với
hàng trăm hoặc hàng ngàn người tham gia trên toàn thế giới. Thông thường các hội
nghị được đi kèm với các cuộc triển lãm, chương trình hoặc hoạt động khác. Theo
CIC, Conference là “Một sự kiện được tổ chức để gặp gỡ và trao đổi Quan điểm,
chuyển tải một thông điệp, mở một cuộc tranh luận công khai hoặc cung cấp cho
một số khu vực ý kiến về một vấn đề cụ thể. Nó không có Quy định cụ thể về thời
gian. Hội nghị thường trong thời gian ngắn với mục tiêu cụ thể, và nói chung là trên
một Quy mô nhỏ hơn so với Convention hoặc Congress” [21] Từ này được dùng
chủ yếu ở Anh.
Như vậy có thể nói, trên hình thức ngữ nghĩa có thể phân biệt về mặt tính
chất giữa Meeting và Convention/Congress/Conference (gọi chung là Conventions)
là giữa hội họp với hội thảo. Tính chất của hội họp trong ngữ nghĩa Việt Nam chỉ
bao gồm các nội dung thảo luận mang tính cộng đồng còn hội thảo mang tính học
thuật, các vấn đề chính trị - xã hội. Tuy nhiên cách dùng hiện nay thì không có
khoảng cách trong việc sử dụng các từ loại này, chính vì vậy việc phân định để xác
định loại hình nghiên cứu khá khó khăn.
1.1.1.4 Sự kiện/ Triển lãm (Events/Exhibitions)
Đó là các hoạt động triễn lãm, hội chợ hay các sự kiện lớn. Theo CIC thì
Exhibition/Events (gọi chung là Exhibitions) là “những sự kiện mà tại đó các sản
phẩm và dịch vụ được hiển thị, trình diễn cho người đến tham dự xem.Những sự
kiện này tập trung chủ yếu vào mô hình giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B).
Mặc khác, Exhibitions có thể là được dùng với mục đích Quảng cáo, Quan hệ công
chúng, bán hàng hoặc marketing.” [22]
Davidson đưa ra một định nghĩa khác, nêu rõ mức độ tương cận giữa các
đến sự chọn lựa của khách du lịch MICE. Vì du lịch MICE là loại hình du lịch kết
hợp với hội nghị,hội thảo…Nếu khách chỉ tham Quan, du lịch không kết hợp hội
họp sẽ không hình thành nên loại hình du lịch MICE. Đây là yếu tố cần thiết để phát
triển du lịch MICE. Phòng phải đáp ứng các nhu cầu về sức chứa từ ít đến nhiều
cũng như đầy đủ các trang thiết bị âm thanh, ánh sáng, sân khấu, màn chiếu, máy
chiếu, đầu ghi,… các thiết bị phải hiện tại, có công suất cao, chất lượng tốt.
18
- Cơ sở lưu trú: Điều kiện này cũng Quan trọng không kém. Khách MICE là
khách có chi trả cao nên các phòng ốc phải tiện nghi, tối tân, sạch đẹp.
- Nhà hàng: Có những thực đơn riêng và các hình thức bố trí sắp xếp đa dạng
dành cho khách MICE, sắp xếp tiệc trà giải lao hợp lí.
- Hồ bơi, Spa, phòng tập gym, các phòng dịch vụ bổ sung như in ấn, photo…:
đây là các yếu tố bổ sung cho du lịch MICE. Khách du lịch MICE có nhu cầu tiện
lợi cho việc in ấn, photo tài liệu, hội họp kèm theo tiệc trà và ăn uống, cũng như các
hình thức giải trí tại khách sạn. Đây cũng là các yếu tố nhỏ nhưng cũng Quan trọng.
1.1.2.2. Nguồn nhân lực
Có đội ngũ được đào tạo chuyên nghiệp phục vụ cho du lịch MICE, đội ngũ
có kinh nghiệm về mảng kinh doanh và tổ chức du lịch MICE vì du lịch MICE là
một loại du lịch đặc thù, khách du lịch MICE khác hẳn với các khách du lịch thuần
túy. Vì tính chất đoàn MICE là khách thương gia hoặc khách có khả năng chi trả
cao nên đòi hỏi sự chuyên nghiệp từ bộ phận nhân viên bên ngoài đến các bộ phận
nhân viên bên trong khách sạn.
+ Bộ phận lễ tân khi làm thủ tục nhận phòng hoặc các thủ tục khác liên Quan,
đội ngũ này phải được huấn luyện 1 cách chuyên nghiệp, nhanh nhẹn khi làm thủ
tục nhận phòng hoặc các thủ tục khác liên Quan và trong xử lí tình huống.
+ Bộ phận kinh doanh khi tiếp xúc với khách hàng MICE phải chuyên
nghiệp từ phong cách đến thái độ cũng như sự thuyết phục, khéo léo từ lời nói và
phải tổ chức chương trình làm cho khách hàng hài lòng nhất.
+ Bộ phận phục vụ hội nghị, buồng phòng phải sạch sẽ, gọn gàng, nhanh nhẹn.
Vì Việt Nam chưa có trường đào tạo hẳn về du lịch MICE nên các nhân viên
thành nên du lịch MICE trong khách sạn, đó là:
- Sự mở rộng về Quy mô tổ chức của các chính phủ và như là chính phủ
cùng với nhu cầu ngày càng tăng cho các cuộc họp giữa các khu vực công cộng và
tư nhân.
- Sự tăng trưởng của các tập đoàn đa Quốc gia và các công ty đại lý đòi hỏi
nhiều hơn các cuộc họp liên ngành và liên vùng.
- Sự phát triển của các lợi ích tác động lẫn nhau giữa các nhóm kinh tế,
nhóm xã hội.
20
- Sự thay đổi trong kỹ thuật bán hàng, ra mắt sản phẩm mới và các cuộc họp
xúc tiến bán hàng.
- Sự cần thiết phải cập nhật thông tin và phương pháp thông Qua đào tạo
Quản lý trong công ty, tiếp tục phát triển chuyên môn, và tham dự ngắn hạn hoặc
theo lịch trình các cuộc họp định sẵn.
Ngoài 5 yếu tố trên còn có thể kể đến sự thay đổi trong cách thức Quản lý,
mô hình tổ chức doanh nghiệp sau thế chiến II, sự thay đổi trong các Quan hệ lao
động giữa nhà Quản lý với người lao động, các chính sách phúc lợi ở cả khu vực
công và tư giành cho người lao động đã bổ sung cho ngành du lịch hội thảo, hội
nghị không chỉ gồm các yếu tố trụ cột truyền thống đơn thuần như Meeting,
Conventions mà còn thêm vào các yếu tố Incentive, Events làm cho các dịch vụ
ngày càng hoàn thiện và mở rộng thêm.
Các cuộc hội họp kèm theo du lịch khuyến thưởng của các tập đoàn đa Quốc gia
tại một nước nhất định, họ từ nhiều nước trên thế giới hội tụ về một điểm. Nảy sinh lưu
trú tại các khách sạn, điều này hình thành nên du lịch MICE tại các khách sạn.
Đối với nhiều nước, du lịch là một trong những ngành góp phần Quan trọng
vào nền kinh tế Quốc gia. Nó là một trụ cột tạo ra thu nhập cao cho đất nước. Và lẽ
tất nhiên, du lịch MICE – ngành tạo ra hiệu suất lợi nhuận từ du khách lớn nhất trở
thành ngành phát triển sôi động nhất trong hoạt động du lịch [12,28]
Biểu đồ 1.1. Số lượng khách du lịch trên toàn cầu giai đoạn 1995-2012
Nguồn: Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (2006), Tourism International Report
Đức…
- Ngoài các hoạt động tiếp thị, câu lạc bộ còn Quảng bá hình ảnh của Việt
Nam trên các tạp chí chuyên ngành như TTG (Singapore), CEI ( Hong Kong),
MICE NET (Úc), tổ chức nhiều đoàn tham Quan và tìm hiểu thị trường Việt Nam
cho các nhà báo chuyên ngành du lịch MICE. Câu lạc bộ còn xây dựng trang web
www.meetingsvietnam.com để Quảng cáo du lịch MICE của Việt Nam. Bước đầu
thành lập và hoạt động câu lạc bộ tương đối thành công. Chứng minh cho điều này,
Việt Nam đã nhận được hợp đồng phục vụ khách du lịch MICE trong 2 năm (2005-
2006) đến từ Úc, Singapore, Đức. Khách sạn cũng được doanh thu từ khách du lịch
MICE, công suất phòng tăng cao. Từ đó, các nhà kinh doanh du lịch cũng như các
khách sạn tại Việt Nam thấy được nguồn lợi lớn từ việc kinh doanh du lịch MICE.
23