thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại hải quan - Pdf 30

Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI
HẢI QUAN
: Sinh viên thực hiện : La Thị Huyền
: Lớp : Anh 3 - KTĐN
: Khóa : 45A
: Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS. Tăng Văn Nghĩa
Hà Nội, tháng 5 năm 2010
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THUẾ XNK 3
I. Tổng quan về thuế XNK và hoạt động quản lí thu thuế XNK của Hải quan 3
1. Khái niệm thuế XNK 3
1.1. Định nghĩa thuế XNK 3
1.2. Vài nét về thuế xuất khẩu 4
1.3. Vài nét về thuế nhập khẩu 5
2. Thuế XNK trong giai đoạn hiện nay 6
II. Vai trò của thuế XNK đối với nền kinh tế Việt Nam 8
1. Sự ra đời của thuế XNK ở Việt Nam 8
2. Vai trò của thuế XNK đối với nền kinh tế Việt Nam 10
2.1. Thuế XNK là một nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước 11
2.2. Thuế XNK góp phần bảo hộ và phát triển sản xuất trong nước 11
2.3. Thuế XNK góp phần hướng dẫn tiêu dùng trong nước 12
2.4. Thuế XNK góp phần thực hiện chính sách đối ngoại của Nhà nước 13
3. Tình hình thu thuế XNK ở Việt Nam 13
3.1. Thực tế quá trình thực hiện thu thuế XNK ở Việt Nam 13
3.2. Kết quả thu thuế XNK những năm gần đây 14
III. Kinh nghiệm quản lí thu thuế XNK tại một số nước trên thế giới 14
1. Kinh nghiệm quản lí thu thuế XNK ở Hoa Kỳ 15
1.1. Các loại thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ 15

2.2. Công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại 43
3. Kết quả thu được trong công tác thu thuế XNK những năm trở lại đây tại Cục Hải quan tỉnh Thanh
Hoá 44
4. Đánh giá chung về công tác thu thuế XNK tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá 46
4.1. Một số mặt mạnh 46
4.2.Những mặt hạn chế 48
III. Những vấn đề đặt ra trong việc quản lí thu thuế XNK tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá 48
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÍ THU THUẾ XUẤT NHẬP
KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH THANH HOÁ 50
I. Yêu cầu đặt ra đối với công tác thu thuế XNK của Nhà nước 50
II. Kinh nghiệm quản lí thu thuế XNK của một số Cục Hải quan địa phương 52
1. Bài học kinh nghiệm quản lí thu thuế XNK của Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh 53
2. Bài học kinh nghiệm quản lí thu thuế XNK của Cục Hải quan Hà Nội 55
3. Bài học kinh nghiệm quản lí thu thuế XNK của Cục Hải quan Hải Phòng 58
3.1. Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp 58
3.2. Chú trọng nhiệm vụ giảm nợ thuế 59
4. Nhận xét chung 59
III. Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng quản lí thu thuế XNK tại cục Hải quan tỉnh Thanh
Hoá 61
1. Đối với cơ quan có thẩm quyền liên quan 61
2. Đối với Tổng cục Hải quan 62
3. Đối với Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá 63
3.1. Tăng cường công tác quản lí phân loại hàng hóa, trị giá tính thuế, xuất xứ hàng hóa, đảm bảo
thực thi quyền sở hữu trí tuệ 63
3.2. Tăng cường các biện pháp chống thất thu thuế do gian lận thương mại 65
3.3. Tăng cường hoạt động kiểm soát chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
và phòng chống ma túy 65
3.4. Tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan và thanh tra thuế 66
3.5. Nâng cao trình độ cho cán bộ cơ sở 67
4. Những giải pháp đối với Doanh nghiệp 70

Bảng 6: Số thu thuế từ hoạt động XNK của Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa (2003-
2009) (trang 45)
Bảng 7: Bảng đối chiếu số thu thuế XNK và các loại hình thu khác tại Cục Hải
quan tỉnh Thanh Hóa (2006-2009) (trang 46)
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của
ngành Hải quan được nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn và phù hợp với quy
luật phát triển của nền kinh tế. Ngành Hải quan là cơ quan bảo vệ lợi ích và chủ
quyền của mọi quốc gia độc lập, là “binh chủng” đặc biệt trên mặt trận kinh tế.
Ngành Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa,
phương tiện vận tải; phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên
giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lí Nhà nước về Hải quan đối với hoạt động
xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Ngành
Hải quan là bảo đảm thực hiện quy định của Nhà nước về quản lí thu thuế hoạt động
xuất khẩu, nhập khẩu; hàng hoá và các nghĩa vụ khác trong phạm vi thẩm quyền do
pháp luật quy định. Ngành Hải quan không chỉ hoạt động ở cửa khẩu biên giới mà
hoạt động dọc biên giới, cả trong nội địa ở những nơi có yêu cầu làm thủ tục kiểm
tra, giám sát, kiểm soát hàng hoá xuất nhập khẩu (XNK); không chỉ phối hợp với
các lực lượng có liên quan trong nước mà còn phải hợp tác chặt chẽ với tổ chức Hải
quan quốc tế và khu vực.
Các biện pháp thu thuế hàng hoá XNK của Ngành Hải quan nói chung và tại
Cục Hải quan Thanh Hoá nói riêng tác động trực tiếp đến lĩnh vực kinh tế đối ngoại
của nước ta trong thời kỳ đổi mới. Do đó, việc nghiên cứu để đề ra các biện pháp
quản lí thu thuế đối với hàng hoá XNK của ngành Hải quan nói chung và của Cục
Hải quan Thanh Hoá nói riêng là việc làm hết sức cần thiết. Nhận thức rõ điều đó,
người viết đã chọn đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng
quản lí thu thuế XNK tại Cục Hải quan Thanh Hoá” làm đề tài Khóa luận tốt

viết khóa luận.
2
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THUẾ XNK
I. Tổng quan về thuế XNK và hoạt động quản lí thu thuế XNK của Hải quan
Thuế XNK là một loại thuế trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia. Sử dụng có
hiệu quả thuế XNK chính là phát huy đầy đủ các chức năng cơ bản của nó trong
lĩnh vực hoạt động XNK hàng hóa. Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập kinh tế thế
giới và khu vực, thuế XNK càng thể hiện vai trò và tác dụng không chỉ là công cụ
thể hiện chính sách đối ngoại giữa các quốc gia với nhau. Là một loại thuế trong hệ
thống thuế quốc gia, thuế XNK xét về chức năng, vai trò đều có những nét tương
đồng với những loại thuế khác. Tuy nhiên, sự xuất hiện của thuế XNK lại bắt nguồn
từ yêu cầu điều chỉnh sự vận động của hàng hóa giữa các quốc gia có chủ quyền với
nhau, nó là một bộ phận trong chính sách kinh tế đối ngoại của mỗi nước cho nên
thuế XNK cũng có những nét riêng về mặt nội dung, vai trò, cũng như cách thức
hành thu cần được nghiên cứu và làm sáng tỏ.
1. Khái niệm thuế XNK
1.1. Định nghĩa thuế XNK
Thuế XNK hay thuế xuất-nhập khẩu hoặc thuế quan là tên gọi chung để gọi
hai loại thuế trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Đó là thuế nhập khẩu và thuế xuất
khẩu. Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu, còn thuế xuất khẩu là
thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu ở tại một quốc gia xác định.
Trong thời cổ đại và trung cổ, thuế XNK còn được các chính quyền địa
phương thu, nhưng hiện nay điều này là rất hiếm và thông thường nó được nhà
nước giao cho một tổ chức nhà nước chuyên trách về thuế XNK là Hải quan thực
hiện công việc kiểm tra, tính và thu thuế. Về mặt nguyên tắc, thuế XNK phải được
nộp trước khi thông quan để người xuất khẩu có thể giao hàng hóa cho người
chuyên chở hay người nhập khẩu có thể đưa mặt hàng nhập khẩu vào lưu thông
trong nội địa, trừ khi có các chính sách ân hạn thuế hay có bảo lãnh nộp thuế, nên
chúng có thể coi là một trong những loại thuế dễ thu nhất, và chi phí để thu thuế
XNK là khá nhỏ.

hàng hóa cùng loại trên thị trường nước ngoài. Chính vì lí do như vậy cho nên đến
1
GS.TS. Bùi Xuân Lưu (Chủ biên), TS. Nguyễn Hữu Khải, ThS.Nguyễn Xuân Nữ (2003), Giáo trình thuế
và hệ thống thuế ở Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, trang 103
4
nửa sau của thế kỷ 19 thì hầu hết các quốc gia đều thực hiện không đánh thuế xuất
khẩu. Nhưng trên thế giới hiện nay vẫn còn một số ít các quốc gia, chủ yếu là những
nước có nền kinh tế chậm phát triển, vẫn tiến hành thu thuế xuất khẩu. Những quốc
gia này có nguồn thu thuế hạn hẹp và tiến hành thực hiện thu thuế xuất khẩu trên
những hàng hóa là tài nguyên thiên nhiên khai thác trong nước, với khối lượng xuất
khẩu tương đối lớn. Chính vì vậy mà nguồn thu từ thuế xuất khẩu trở thành một
nguồn thu quan trọng và tương đối ổn định của những quốc gia này.
Hiện nay, vẫn còn một số quốc gia áp dụng thuế xuất khẩu với mục đích là để
hạn chế xuất khẩu những hàng hóa mà nhu cầu trong nước đang thiếu hụt, những
nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn, hoặc muốn thông qua thuế XNK để khống chế
và điều tiết lượng xuất khẩu của các loại hàng hóa, tránh xuất khẩu một cách mù
quáng và để ổn định giá cả trong và ngoài nước. Chính vì những lí do như vậy mà ở
Việt Nam hiện nay vẫn áp dụng thu thuế xuất khẩu đối với một số hàng hóa. Theo
Danh mục mức thuế suất của biểu thuế xuất khẩu theo danh mục mặt hàng chịu thuế
ban hành kèm theo Thông tư số 216/2009/TT-BTC ngày 12/11/2009 của Bộ Tài
chính có 71 mặt hàng phải chịu thuế xuất khẩu. Thậm chí một số mặt hàng là tài
nguyên có mức thuế suất thuế xuất khẩu rất cao lên tới 33% như đồng phế liệu và
mảnh vụn, niken phế liệu và mảnh vụn, nhôm phế liệu và mảnh vụn,
2

1.3. Vài nét về thuế nhập khẩu
So với thuế xuất khẩu thì thuế nhập khẩu đem lại nguồn thu hàng năm lớn hơn
cho các quốc gia. Ví dụ, nguồn thu từ thuế nhập khẩu tại các nước Châu Phi chiếm
khoảng 30% tổng thu thuế; các nước Trung Đông là 22%; Châu Mĩ La Tinh là 13%
và các nước Châu Á là 15%. Tại các nước phát triển, thu thuế chỉ chiếm một tỉ lệ

mậu dịch toàn cầu, hiệp định đã đề xướng tự do hóa thương mại, từng bước gỡ bỏ
hàng rào mậu dịch, trong đó một giải pháp quan trọng nhất đó là thông qua đàm
phán, hiệp thương giữa các nước thành viên để giảm mức thuế nhập khẩu, tăng tính
ràng buộc về thuế quan và không được tự ý tăng mức thuế suất.
2. Thuế XNK trong giai đoạn hiện nay
Thuế XNK là công cụ thông qua cơ chế thị trường để điều tiết lượng hàng hóa
XNK của mỗi nước. Chính vì thế cho nên trong giai đoạn hiện nay các nước vẫn
cho phép việc coi thuế XNK là công cụ hợp pháp duy nhất để bảo hộ nền kinh tế
mỗi quốc gia. Nhưng trong xu thế hợp tác mậu dịch toàn cầu đang ngày càng phát
6
triển thì mặt bằng chung thuế XNK của các quốc gia sẽ có xu hướng giảm xuống tới
mức tối ưu để vừa đảm bảo việc thực hiện các cam kết quốc tế đã được đề ra, mặt
khác vẫn giữ được tỉ lệ bảo hộ thích hợp cho các ngành kinh tế trong nước có điều
kiện phát triển. Chính sách thuế quan của các quốc gia trong điều kiện hiện nay đều
có ảnh hưởng nới lỏng sự hạn chế thương mại, từng bước giảm dần các mức thuế
trên cơ sở các hiệp định đa phương và song phương. Thương lượng trong việc xây
dựng biểu thuế quan được coi như là một đặc trưng cơ bản của chính sách thuế
XNK trong những thập kỷ gần đây. Sự hình thành của các liên minh thuế quan đã
có ảnh hưởng nhất định đến lượng hàng hóa được trao đổi giữa các nước trong liên
minh và các nước ngoài liên minh. Chính sách liên minh thuế quan đã có tác động
làm tăng đáng kể khối lượng thương mại giữa các nước thuộc liên minh trong khi
đó nó tạo ra một hàng rào ngăn cản hàng hóa của các nước ngoài liên minh. Điều
này dường như đã trở thành một xu hướng trong việc hoạch định chính sách thuế
quan hiện nay nhằm tự do hóa thương mại giữa các nước trong khu vực và bảo hộ
thị trường khu vực trước sự cạnh tranh của hàng hóa đến từ bên ngoài. Trong
trường hợp tự do hóa thương mại, lợi ích thương mại cho các thành viên không còn
là điều phải tranh cãi vì mỗi quốc gia sẽ tận dụng triệt để những nguồn lực có thế
mạnh, loại bỏ những ngành sản xuất không hiệu quả, đồng thời người dân cũng sẽ
được tiêu dùng những sản phẩm rẻ hơn với chất lượng tốt hơn. Trong trường hợp
bảo hộ thị trường khu vực, nếu chỉ xét trong một ngành duy nhất, có thể có một số

hội chủ nghĩa. Hàng hóa xuất khẩu thường dùng để trả nợ hoặc xuất khẩu cho các
nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa theo các Nghị định thư của Chính phủ. Giá
hàng hóa xuất khẩu không đủ bù đắp cho những chi phí thu mua, sản xuất. Còn
nhập khẩu chủ yếu là hàng viện trợ, hàng tiêu dùng, vay của các nước trong hệ
thống xã hội chủ nghĩa. Nhà nước phải lấy từ Ngân sách để bù lỗ cho các đơn vị
XNK, vì thế thuế XNK không chiếm tỉ lệ lớn trong tổng thu Ngân sách Nhà nước,
không có khả năng điều tiết hoạt động XNK.
Sau Đại hội VI của Đảng (1986), Nhà nước ta đã có những chính sách đổi mới
nền kinh tế. Việc mở cửa giao lưu kinh tế với các nước đã làm thay đổi cơ bản vai
4
Các phương pháp xác định trị giá theo GATT và kiểm toán Hải quan, Nhà xuất bản Tài chính Hà Nội
8
trò của thuế XNK. Cùng với việc mở rộng quan hệ kinh tế ngoại thương trong điều
kiện nền kinh tế mở, vào ngày 29/12/1987, tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa VIII,
Chính phủ đã thông qua “Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch” thay
cho chế độ “Bù thu chênh lệch ngoại thương” có từ trước đối với khu vực kinh tế
quốc doanh. Đây là thứ thuế đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được ban hành bằng hình thức Luật hoàn chỉnh, nhằm tăng cường quản lí các
hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu góp phần tích cực vào việc mở rộng và nâng cao
hiệu quả kinh tế đối ngoại của Nhà nước, hình thành cơ cấu XNK hợp lí, góp phần
bảo vệ và phát triển sản xuất, hướng dẫn tiêu dùng trong nước, góp phần tạo nguồn
thu cho Ngân sách Nhà nước. Luật thuế XNK có hiệu lực thi hành từ ngày
01/02/1988, và cũng từ đó thuế XNK cũng chính thức được ra đời và áp dụng trên
toàn lãnh thổ Việt Nam. Đồng thời, có ban hành kèm theo biểu thuế chung, biểu
thuế XNK cho từng mặt hàng, chưa tách 2 biểu thuế riêng biệt. Biểu thuế này, được
xây dựng dựa trên danh mục hàng XNK Việt Nam theo tiêu chuẩn của Hội đồng
Tương trợ kinh tế (khối SEV). Biểu thuế này hoàn toàn tuân theo từng mục đích sử
dụng. Nói chung, biểu thuế XNK và cả Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu chỉ
phù hợp cho giai đoạn nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, việc XNK theo chế độ
nghị định thư ký giữa các chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa (thị trường khu vực

xuống 0% hoặc mức thấp. Đây là hiệp định tự nguyện của WTO, nhưng các nước
mới gia nhập đều phải tham gia một số ngành. Ngành mà Việt Nam cam kết tham
gia là sản phẩm công nghệ thông tin, dệt may và thiết bị y tế. Việt Nam cũng tham
gia một phần với thời gian thực hiện từ 3 - 5 năm đối với ngành thiết bị máy bay,
hóa chất và thiết bị xây dựng.
5
2. Vai trò của thuế XNK đối với nền kinh tế Việt Nam
Nhìn chung, thuế XNK đối với Việt Nam nói riêng và tất cả các quốc gia trên
thế giới nói chung đều có chung những tác dụng cơ bản giống nhau. Tuy nhiên, đối
với mỗi quốc gia, do sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế mà thuế XNK thể
hiện vai trò của mình trên những phương diện khác nhau. Có thể nói là đối với quốc
5
Bộ Tài Chính (2007), Văn kiện và biểu thuế gia nhập WTO của Việt Nam , Nhà xuất bản Tài Chính
10
này thì thuế XNK là công cụ với mục đích chủ yếu là để thực hiện chính sách
khuyến khích xuất khẩu còn việc tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước chỉ là phụ.
Nhưng đối với quốc gia khác thì có thể ngược lại. Đối với Việt Nam, là một quốc
gia đang trên con đường hội nhập và phát triển, ta có thể khái quát vai trò của thuế
XNK đối với nền kinh tế ở 4 điểm chính như sau:
2.1. Thuế XNK là một nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước
Ở Việt Nam, nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước chủ yếu là các loại thuế, lệ
phí. Trong đó, thuế xuất khẩu, nhập khẩu là nguồn thu lớn vì dễ thu và phí cho việc
thu thuế thấp, mặt khác nước ta cũng cần thực hiện chính sách bảo hộ các ngành
công nghiệp non trẻ tránh sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu nên mức thuế còn
cao (nhất là thuế suất hàng nhập khẩu).
Hiện nay, với xu thế hội nhập và phát triển Việt Nam đã không ngừng mở rộng
quan hệ buôn bán trao đổi với nhiều quốc gia trên thế giới. Các mặt hàng XNK
ngày càng thêm phong phú, đa dạng, tăng cả về số lượng và chất lượng. Kim ngạch
XNK hàng năm không ngừng tăng, tương ứng là số thu về thuế xuất khẩu, nhập
khẩu ngày càng tăng và chiếm vị trí quan trọng trong tổng số thu về thuế của Ngân

dụng bằng gốm sứ thì chúng ta áp mức thuế nhập khẩu vẫn còn cao là 30-45%.
7
Như vậy, thuế XNK đã phát huy vai trò vô cùng quan trọng để Nhà nước thực hiện
điều tiết vĩ mô nền kinh tế đặc biệt trong việc bảo hộ và phát triển các ngành sản
xuất trong nước.
2.3. Thuế XNK góp phần hướng dẫn tiêu dùng trong nước
Người tiêu dùng là lực lượng lớn nhất trong xã hội. Với thu nhập cố định, họ
luôn tìm mua loại hàng hóa với giá rẻ, chất lượng cao. Thuế cao hay thấp có tác
dụng kích thích hay hạn chế tiêu dùng. Đối với những mặt hàng thiết yếu cho đời
sống nhân dân, những mặt hàng nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân
thì mức thuế nhập khẩu thấp. Còn với những mặt hàng xa xỉ hay những mặt hàng
nhà nước không khuyến khích tiêu dùng thì áp mức thuế suất cao. Ví dụ như: Theo
Biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi 2010 mà Bộ Tài chính vừa ban
hành, chính thức có hiệu lực từ 01/01/2010 thì hàng hóa thuộc nhóm 24.02 là xì gà,
xì gà xén hai đầu, xì gà nhỏ và thuốc lá điếu, chế biến từ lá thuốc lá hoặc từ các chất
7
Bộ Tài Chính (2009), Biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi 2010, Nhà xuất bản Lao Động
12
thay thế lá thuốc lá có thuế suất thuế nhập khẩu từ 120-135%; rượu vang làm từ nho
tươi, kể cả rượu vang cao độ thuộc nhóm 22.04, rượu Vermouth và rượu vang khác
làm từ nho tươi đã pha thơm hương vị từ thảo mộc hoặc chất thơm thuộc nhóm
22.05 có mức thuế suất 56-59%.
2.4. Thuế XNK góp phần thực hiện chính sách đối ngoại của Nhà nước
Bất kỳ quốc gia nào cũng xây dựng chính sách đối ngoại của riêng mình. Trong
chính sách đối ngoại, Nhà nước phân biệt các khu vực xuất khẩu, nhập khẩu, những
nước đã kí kết Hiệp định thương mại với Việt Nam trong đó có điều khoản ưu đãi
về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cho từng mặt hàng với số lượng cụ thể. Trên cơ
sở này biểu thuế gồm ba loại thuế suất (thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt
và thuế suất thông thường) áp dụng cho từng trường hợp.
8

Tài chính. Số thu năm sau luôn cao hơn số thu năm trước, cụ thể: năm 2001 đạt
29.381 tỷ đồng, năm 2002 đạt 36.784 tỷ đồng, năm 2003 đạt 39.178 tỷ đồng, năm
2004 đạt 46.017 tỷ đồng, năm 2005 đạt 52.000 tỷ đồng và năm 2006 đạt 58.000 tỷ
đồng (tốc độ tăng thu bình quân hàng năm 15%). Đây là một nỗ lực rất lớn của
ngành Hải quan trong bối cảnh chúng ta đang thực hiện cắt giảm thuế quan theo các
cam kết quốc tế (như cắt giảm thuế theo lộ trình thực hiện CEPT trong ASEAN, các
hiệp định song phương và gia nhập WTO). Đặc biệt, đây là giai đoạn đầu thực hiện
xác định trị giá hải quan theo các nguyên tắc của Hiệp định trị giá GATT, tình trạng
trốn thuế, gian lận qua giá còn khá phổ biến, nhưng ngành đã tập trung chỉ đạo và
đưa ra nhiều giải pháp nhằm đảm bảo nhiệm vụ thu thuế đồng thời chống thất thu
qua gian lận trị giá.
III. Kinh nghiệm quản lí thu thuế XNK tại một số nước trên thế giới
Tìm hiểu kinh nghiệm quản lí thu thuế XNK của các nước trên thế giới là việc
làm rất quan trọng. Từ đó, có những bước hoàn thiện trong xây dựng, cải cách chính
sách thuế của Nhà nước cũng như việc tính thuế và thu thuế của các cơ quan chức
năng có liên quan. Tìm hiểu tình hình quản lí thuế XNK của Hoa Kỳ có ý nghĩa
quan trọng vì đây là một nước phát triển với thị trường lớn nhất thế giới, chi phối
nhiều đến các định chế tài chính, các tổ chức kinh tế quốc tế và tình hình quản lí
thuế XNK của Trung Quốc – đất nước có nhiều bước tiến vượt bậc trong thời gian
gần đây, đang nỗ lực vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới. Từ đó,
rút ra những kinh nghiệm quản lí thu thuế XNK, để vận dụng hợp lí vào công tác
quản lí thu thuế XNK ở Việt Nam.
14
1. Kinh nghiệm quản lí thu thuế XNK ở Hoa Kỳ
Chính phủ Hoa Kỳ thực hiện chính sách không đánh thuế vào hàng hóa xuất khẩu
mà chỉ đánh thuế vào hàng hóa nhập khẩu từ nên ngoài vào. Biểu thuế nhập khẩu
hiện hành của Hoa Kỳ (hay còn gọi là biểu thuế quan, Harmonized Tariff Schedule of
the United States, viết tắt là HTS) được ban hành trong Luật Thương mại và Cạnh
tranh Omnibus năm 1988 và có hiệu lực từ 1 tháng 1 năm 1989. Biểu thuế này được
xây dựng dựa trên hệ thống danh mục HS (Harmonised System, đây là sản phẩm trí

ngoài những thời gian trên được miễn thuế.
Thuế leo thang: Một đặc điểm nữa của hệ thống thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ là
áp dụng thuế suất leo thang, nghĩa là hàng càng chế biến sâu thì thuế suất nhập khẩu
càng cao. Ví dụ, mức thuế MFN đối với cá tươi sống hoặc ở dạng philê đông lạnh là
0%, trong khi đó mức thuế đối với cá khô và xông khói là từ 4% đến 6%. Loại thuế
này cá tác dụng khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu và hàng sơ chế hơn là hàng
thành phẩm.
1.2. Các mức thuế suất nhập khẩu của Hoa Kỳ
Hiện nay, Hoa Kỳ đang áp dụng ba mức thuế suất rất rõ ràng đối với hàng hóa
nhập khẩu từ bên ngoài vào đó là: thuế suất thông thường, thuế suất đặc biệt và thuế
suất phân biệt đối xử.
Trong đó, thuế suất thông thường hay mức thuế tối huệ quốc (MFN), hay còn
gọi là mức thuế dành cho các nước có quan hệ thương mại bình thường (NTR),
được áp dụng với những nước thành viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và
những nước tuy chưa phải là thành viên WTO nhưng đã ký hiệp định thương mại
song phương với Hoa Kỳ. Mức thuế tối huệ quốc (MFN) nằm trong phạm vi từ dưới
1% đến gần 40%, trong đó hầu hết các mặt hàng chịu mức thuế từ 2% đến 7%.
Hàng dệt may và giầy dép thường chịu mức thuế cao hơn. Mức thuế MFN theo giá
trị nói chung bình quân khoảng 4%. Mức thuế MFN được ghi trong cột “General”
của cột 1 trong biểu thuế nhập khẩu (HTS) của Hoa Kỳ.
Khác với mức thuế thông thường kể trên, các quốc gia được hưởng mức thuế
suất đặc biệt trong hệ thống nhập khẩu của Hoa Kỳ là các nước nằm trong Hệ thống
16
ưu đãi phổ cập (Generalized System of Preferences - GSP), các nước có kí kết các
hiệp định thương mại, các luật về ưu đãi thuế quan với Hoa Kỳ như: Hiệp định
thương mại tự do Bắc Kỳ, Hiệp định về thương mại hàng không dân dụng, Luật cơ
hội và phát triển Châu Phi, Luật tái thiết kinh tế vùng lòng chảo Caribê (Caribbean
Basin Initiative - CBI),… Nhìn chung, hầu hết các mặt hàng được hưởng mức thuế
suất nhập khẩu ưu đãi đều có mức thuế rất thấp thậm chí là được miễn thuế nhập
khẩu. Mức thuế suất đặc biệt được ghi trong cột “Special” của cột 1 trong Biểu thuế

Nhìn về tổng thể, việc áp dụng mức thuế suất thấp của Hoa Kỳ có tác dụng rất
tốt trong việc mở cửa và phát triển nền kinh tế trong nước đặc biệt là khi các ngành
sản xuất trong nước của Hoa Kỳ đã đủ mạnh để cạnh tranh với hàng ngoại nhập từ
bên ngoài. Việc tính thuế theo cách tính mức thu tuyệt đối và áp dụng kết hợp hai
cách tính với nhau có tác dụng rất tốt giúp cho Chính phủ Hoa Kì có thể kiểm soát
hiệu quả các mặt hàng nhập khẩu và đặc biệt là hạn chế các hoạt động gian lận
thương mại, tránh thất thu thuế nhất là với những mặt hàng phức tạp, dễ gian lận về
giá như những hàng có thuế suất cao, giá trị lớn và tương đối mới mẻ. Có thể tóm
lược hiệu quả thu được từ chính sách thuế nhập khẩu của Mĩ ở một số điểm chính
như sau:
1.3.1. Khuyến khích xuất khẩu phát triển
Với việc không đánh thuế xuất khẩu, chính phủ Hoa Kỳ đã tạo điều kiện thuận
lợi để các ngành sản xuất hàng xuất khẩu trong nước phát triển và có những tác
động tích cực đến nền kinh tế. Trong thập kỉ qua, xuất khẩu đã đóng góp hơn ¼
trong sự tăng trưởng của kinh tế Hoa Kỳ. Chính sách khuyến khích xuất khẩu của
Hoa Kỳ thông qua việc không đánh thuế xuất khẩu không chỉ có tác dụng đẩy mạnh
sự phát triển của nền kinh tế mà còn tạo ra hàng triệu việc làm cho người lao động
Hoa Kỳ. Ước tính khoảng 12 triệu việc làm ở Hoa Kỳ phụ thuộc trực tiếp vào hoạt
động xuất khẩu hàng hóa. Đây là những công việc có thu nhập cao hơn mức thu
nhập trung bình quốc dân từ 13-18%. Đặc biệt, theo số liệu thống kê gần đây thì lợi
ích thu được từ Khu vực tự do thương mại Bắc Mĩ (NAFTA) và vòng đàm phán
Urugoay đã làm lợi cho mỗi gia đình có bốn người Hoa Kỳ từ 1.200 đến 2.000 đôla
mỗi năm qua việc khuyến khích sản xuất hàng hóa có chất lượng cao với giá cả thấp
hơn. Ở Hoa Kỳ, cứ 1/3 đất trồng trọt được dùng để sản xuất nông sản xuất khẩu.
12

Như vậy có thể nói, không có công cụ chính sách nào có thể nâng cao triển vọng
phát triển các ngành sản xuất hàng xuất khẩu của Hoa Kỳ tốt hơn việc áp dụng
không đánh thuế vào các mặt hàng xuất khẩu ra bên ngoài kết hợp với việc đẩy
12

19
sách mở cửa thị trường trong nước thực chất chỉ dừng lại đối với những ngành hàng
có lợi cho chính Hoa Kỳ.
Những biện pháp bảo hộ thuế quan trên đây của Hoa Kỳ có tác dụng rất tốt đối
với nền kinh tế Hoa Kỳ, nó bảo vệ cho những hàng hóa trong nước chưa thực sự
cạnh tranh được với thị trường bên ngoài nhưng ngược lại đó chính là những khó
khăn cho hàng hóa các nước, đặc biệt là hàng hóa của những nước đang phát triển,
trong đó có Việt Nam. Hàng hóa của các nước kể trên sẽ rất khó có thể tiếp cận
được với thị trường Hoa Kỳ nếu không ngừng nâng cao chất lượng, mẫu mã và các
tiêu chuẩn công nghiệp khác nhằm phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng và quy
định điều kiện thương phẩm của hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ.
2. Kinh nghiệm quản lí thu thuế XNK ở Trung Quốc
Sự phát triển kinh tế thần kỳ của Trung Quốc làm kinh ngạc cả thế giới. Để có sự
phát triển đó, chính sách thuế đóng một vai trò then chốt trong chính sách kinh tế vĩ
mô của Chính phủ Trung Quốc. Về kinh tế, xã hội, văn hóa Việt Nam có nhiều
điểm tương đồng với Trung Quốc. Vì vậy, những kinh nghiệm của Trung Quốc là
những bài học lớn cho Việt Nam.
2.1. Loại hình thuế XNK được áp dụng ở Trung Quốc
Không giống như Hoa Kỳ, Trung Quốc hiện nay thực hiện việc thu thuế song
song trên cả hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu. Tuy nhiên, cũng giống như xu thế
chung của các quốc gia trên thế giới hiện nay, chính phủ Trung Quốc đang tiến tới
việc loại bỏ dần thuế xuất khẩu để khuyến khích các ngành sản xuất hàng hóa xuất
khẩu trong nước. Chính vì thế cho nên ta thấy mức thuế suất xuất khẩu của hầu hết
các loại hàng hóa đều là 0%, tức là miễn thuế xuất khẩu. Trung Quốc chỉ thực hiện
đánh thuế trên một số mặt hàng mà Nhà nước không khuyến khích xuất khẩu như
các nguyên liệu trong nước cần sử dụng, các kim loại quí hiếm,…
2.2. Các mức thuế suất nhập khẩu của Trung Quốc
Tổng cục Hải quan Trung Quốc (CGA) định mức thuế và có trách nhiệm thu
thuế. Thuế nhập khẩu được chia thành 2 loại: thuế chung và thuế tối thiểu (tối huệ
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status