“Thực trạng và giải pháp triển khai mô
hình Hải quan điện tử ở Việt Nam”
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
90
PHỤ LỤC 96
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
WCO
World Customs
Organization
Tổ chức Hải quan thế giới
WTO
World Trade Organization Tổ chức thương mại thế
giới
UNECE
The United Nations
Economic Commission for
Europe
Ủy ban Liên hợp quốc về
kinh tế châu Âu
UNCTAD
The United Nations
Conference on Trade and
Development
Hội nghị Liên hợp quốc về
Thương mại và Phát triển
UN-
CEFACT
hữu trí tuệ liên quan đến
thương mại
HS Harmonized System
Công ước Quốc tế về Hệ
thống điều hòa mô tả và mã
hóa hàng hóa
NACCS
Nippon Automated Cargo
and Port Consolidated
System Incorporation
Công ty Hệ thống kết hợp
cảng và vận chuyển tự động
Nhật Bản
CO Certificate of origin Giấy chứng nhận xuất xứ
VAN Value Added Network Mạng giá trị gia tăng
TNHH trách nhiệm hữu hạn
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Bảng 1.1: Quy trình triển khai của doanh nghiệp khi tham gia thương mại
điện tử 7
Bảng 1.2: Các mô hình thương mại điện tử phân loại theo đối tượng tham gia
8
Biểu đồ 1.1: Kim ngạch và tốc độ tăng/giảm xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân
thương mại Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2010 19
Sơ đồ 2.1 : Trình tự thủ tục hải quan điện tử 37
Hình 3.1 : Mô hình tự động hóa hải quan Singapore 66
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XXI đã chứng kiến sự phát triển không ngừng của công nghệ
thông tin trong nhiều lĩnh vực như thương mại, giáo dục, tài chính công…
trong đó không thể không nhắc đến vai trò quan trọng của công nghệ thông
ngành Hải quan và các nhà hoạch định chính sách là nghiên cứu, hiểu rõ các
quy trình thủ tục hải quan điện tử, nắm vững ưu, nhược điểm của mô hình thủ
tục hải quan Việt Nam trong sự đối sánh với thủ tục hải quan điện tử thế giới
để có cái nhìn tổng quát hơn về thực trạng triển khai mô hình hải quan điện tử
ở Việt Nam, qua đó đưa ra một số giải pháp để áp dụng thành công mô hình
này trên phạm vi toàn quốc. Xuất phát từ thực tế đó, người viết đã chọn đề tài:
“Thực trạng và giải pháp triển khai mô hình Hải quan điện tử ở Việt Nam”
làm nội dung nghiên cứu trong bài khóa luận của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Mục đích nghiên cứu của khóa luận này là:
Thứ nhất, tổng hợp hóa các kiến thức về thủ tục hải quan điện tử,
những sự khác biệt về thủ tục hải quan truyền thống và thủ tục hải quan điện
tử và tìm hiểu những kinh nghiệm từ một số quốc gia đã áp dụng thành công
mô hình thủ tục hải quan điện tử trên thế giới.
Thứ hai, nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của thủ tục hải
quan điện tử Việt Nam, quy trình thủ tục hải quan điện tử hiện nay cùng
những lợi ích và bất cập còn tồn tại trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt
Nam.
6
Thứ ba, nghiên cứu xu hướng phát triển của Hải quan điện tử trên thế
giới và ở Việt Nam, và đề xuất một số giải pháp cho việc triển khai mô hình
thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới.
3. Đối tượng nghiên cứu: mô hình thủ tục hải quan điện tử
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Với mục đích nghiên cứu về hệ thống hải quan điện tử ở Việt Nam,
người viết chỉ nghiên cứu hoạt động hải quan điện tử trong phạm vi lãnh thổ
Việt Nam từ năm 2005 đến nay, trong đó có sự so sánh và học hỏi kinh
nghiệm từ một số quốc gia đã áp dụng thành công mô hình này.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Trong quá trình nghiên cứu bài khóa luận, các phương pháp nghiên cứu
CHƯƠNG I – TỔNG QUAN VỀ HẢI QUAN ĐIỆN TỬ VIỆT NAM
1.1 Tổng quan về thương mại điện tử
1.1.1 Khái niệm về thương mại điện tử
Bước sang năm thứ 11 của thế kỷ XXI, khái niệm thương mại điện tử
đã không còn là một khái niệm xa lạ đối với chúng ta. Thương mại điện tử
được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như “thương mại điện tử”
(Electronic commerce), “thương mại trực tuyến” (online trade), “thương mại
không giấy tờ” (paperless commerce) hay “kinh doanh điện tử” (e-business).
Tuy nhiên, phổ biến nhất và được dùng nhiều nhất trong các văn bản hay
công trình nghiên cứu vẫn là tên gọi Thương mại điện tử. Tại Việt Nam,
Thương mại điện tử thường được hiểu theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng [6].
Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử là việc mua bán hàng hóa và dịch
vụ thông qua các phương tiện điện tử và các mạng viễn thông, đặc biệt là máy
tính và Internet. Theo khái niệm này, thương mại điện tử bắt đầu bằng việc
các doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử và mạng Internet để mua
bán hàng hóa, dịch vụ. Ví dụ, ở các trang web như ebay.com; amazon.com…
các giao dịch đều diễn ra trên website thông qua Internet.
Thương mại điện tử được hiểu theo nghĩa rộng, là việc trao đổi thông
tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy
bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch (theo khái niệm của
UNCITRAL, 1996). Theo định nghĩa này, có thể thấy rằng phạm vi hoạt động
của thương mại điện tử là rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực kinh tế, bất
cứ hoạt động thương mại nào, từ hỏi hàng, chào hàng, đặt hàng, gửi
catalogue, hoàn giá…đều được xem là thương mại điện tử.
So với thương mại truyền thống, thương mại điện tử có những ưu điểm
vượt trội đối với người mua, người bán, và cả cơ quan quản lý Nhà nước như
9
tính linh hoạt cao, sự tiện lợi và đặc biệt là giảm thiểu tối đa thời gian và chi
phí giao dịch.
Tóm lại, thương mại điện tử là việc thực hiện các hoạt động thương
1.1.3 Quy trình triển khai thương mại điện tử
Quy trình triển khai của doanh nghiệp khi tham gia cổng thương mại
điện tử có thể được tóm tắt trong bảng sau:
Bảng 1.1: Quy trình triển khai của doanh nghiệp khi tham gia thương
mại điện tử
1 Phân tích SWOT, lập kế hoạch, xác định mục tiêu, vốn đầu tư
2 Xây dựng mô hình, cấu trúc, chức năng, đánh giá website
3 Mua tên miền, thuê máy chủ
4 Thiết kế website
5 Cập nhật thông tin, quản trị nội dung website
6 Đánh giá website: thông tin, chức năng, tốc độ, nét riêng…
7 Bổ sung các chức năng: bảo mật, thanh toán
8 Quảng bá website, đăng ký trên các công cụ tìm kiếm, tham gia các
sàn giao dịch điện tử
9 Liên kết website với khách hàng, nhà cung cấp, đối tác, cơ quan
quản lý Nhà nước
10 Xây dựng hệ thống cung cấp và phân phối
Nguồn: Nguyễn Văn Thoan (2007), Chuyên đề Ứng dụng thương mại điện tử trong kinh doanh
quốc tế < />1.1.4 Các mô hình thương mại điện tử
Có nhiều cách phân loại thương mại điện tử: theo công nghệ kết nối
mạng; theo hình thức dịch vụ; theo mức độ phối hợp, chia sẻ và sử dụng
thông tin qua mạng; theo đối tượng tham gia… Trong phạm vi khóa luận này
người viết phân loại thương mại điện tử theo đối tượng tham gia.
Bảng 1.2: Các mô hình thương mại điện tử phân loại
11
theo đối tượng tham gia
Nguồn: Nguyễn Văn Thoan (2007), Chuyên đề Ứng dụng thương mại điện tử trong
kinh doanh quốc tế
< /> Khi phân loại theo đối tượng tham gia thương mại điện tử, có ba chủ
thể chính là cơ quan quản lý Nhà nước (G-government), doanh nghiệp (B-
tuy vậy, vấn đề áp dụng chữ ký điện tử trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về tài
chính nói chung và trong ngành Hải quan điện tử nói riêng vẫn còn nhiều bất
cập. Phát biểu khai mạc Toạ đàm "Ứng dụng chữ ký số công cộng trong các
dịch vụ hành chính công điện tử của ngành Tài chính”, do Bộ Tài chính tổ
chức ngày 17/9/2010, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn đã
khẳng định tầm quan trọng của chữ ký số “Ứng dụng chữ ký số chính là điều
kiện rất cơ bản và quan trọng để thực hiện cải cách thủ tục hành chính thuế,
Hải quan Việt Nam, góp phần nâng cao thứ hạng cạnh tranh của Việt Nam
trong giai đoạn mới” [32] .
1.2. Tổng quan về Hải quan điện tử
1.2.1 Khái niệm về Hải quan điện tử
1.2.1.1 Thủ tục hải quan
Theo chương 2, công ước Kyoto sửa đổi năm 1999, “ thủ tục hải quan
là tất cả các hoạt động tác nghiệp mà bên liên quan và Hải quan phải thực
hiện nhằm đảm bảo tuân thủ Luật Hải quan”. Theo khoản 6, điều 4 Luật Hải
quan năm 2005 của Việt Nam: “Thủ tục hải quan là các công việc mà người
13
khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của Luật
này đối với hàng hoá, phương tiện vận tải.”
Từ khái niệm trên, ta cần làm rõ mấy vấn đề như sau:
Đối tượng cần thi hành thủ tục hải quan và chịu sự kiểm tra, giám sát
hải quan bao gồm hàng hóa, chứng từ và các phương tiện vận tải.
Người khai hải quan có thể là chủ hàng hoặc các tổ chức được ủy thác,
người được ủy quyền hợp pháp, người điều khiển phương tiện vận tải, đại lý
thủ tục hải quan và doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ bưu chính, dịch vụ
chuyển phát nhanh. Theo khoản 1, điều 16, Luật Hải quan Việt Nam 2005,
công việc của người khai hải quan gồm ba bước: khai báo và nộp các chứng
từ thuộc hồ sơ hải quan; đưa hàng hóa và phương tiện vận tải đến nơi quy
định cho việc kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải; nộp thuế và thực
hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
- Cơ quan Hải quan thực hiện thủ tục hải quan trên cơ sở hồ sơ hải quan điện tử
do doanh nghiệp gửi tới; quyết định thông quan dựa trên hồ sơ điện tử do
doanh nghiệp khai; quyết định việc kiểm tra hải quan kết quả phân tích thông
tin từ cơ sở dữ liệu của Hải quan và các nguồn thông tin khác.
Theo điều 3, Thông tư số 222/2009/TT-BTC ban hành ngày 25/11/2009
của Bộ Tài chính nhằm hướng dẫn thí điểm thủ tục hải quan điện tử thì “thủ
tục hải quan điện tử là thủ tục hải quan trong đó việc khai báo, tiếp nhận, xử
lý thông tin khai hải quan, ra quyết định được thực hiện thông qua hệ thống
xử lý dữ liệu điện tử hải quan.” Hệ thống xử lý dữ liệu hải quan là hệ thống
15
thông tin do Tổng cục Hải quan quản lý tập trung, thống nhất, sử dụng cho
việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử.
Nói tóm lại, thủ tục hải quan điện tử có thể được hiểu là các công
việc mà người khai hải quan và công chức Hải quan phải thực hiện đối với
hàng hóa, phương tiện vận tải; trong đó việc khai báo và gửi hồ sơ khai hải
quan, việc tiếp nhận, đăng ký hồ sơ của công chức Hải quan được thực
hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của Hải quan.
1.2.2 Điều kiện áp dụng mô hình thủ tục hải quan điện tử
Hải quan đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế ngoại
thương, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu. Đặc biệt, với xu thế phát triển của công nghệ thông tin hiện
nay, Hải quan điện tử càng trở nên quan trọng hơn. Do đó, cả cơ quan quản lý
Nhà nước cả doanh nghiệp cần tạo điều kiện thuận lợi để Hải quan điện tử
Việt Nam phát triển. Tiền đề cho sự phát triển của Hải quan điện tử bao gồm
điều kiện cơ sở pháp lý, điều kiện cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, điều kiện nhân
lực…
1.2.2.1 Điều kiện cơ sở pháp lý
Nghiệp vụ hải quan điện tử cần phải có một khuôn khổ pháp lý vững
chắc để làm cơ sở cho cơ quan Hải quan và doanh nghiệp thực hiện đầy đủ
trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Nếu không có một khuôn khổ pháp lý hiệu
những sai sót kỹ thuật trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử.
Ngoài ra, ngành Hải quan cũng cần có Trung tâm quản lý dữ liệu và phân tích
17
dữ liệu phục vụ cho công tác hải quan, đảm bảo cơ sở hạ tầng công nghệ
thông tin tốt cho việc triển khai thủ tục hải quan điện tử.
Các doanh nghiệp cũng cần trang bị cho mình hệ thống máy tính đồng
bộ, với đường truyền internet ổn định, tốc độ cao, liên tục cập nhật phần mềm
phục vụ cho việc thực hiện hải quan điện tử.
Ngoài ra, không thể không nhắc đến tổ chức truyền nhận dữ liệu
(VAN). Doanh nghiệp và cơ quan Hải quan có thể kết nối được với nhau là
nhờ nhà cung cấp mạng giá trị gia tăng (VAN). VAN đóng vai trò là một hạ
tầng kỹ thuật kết nối người khai hải quan và các bên liên quan trong thủ tục
hải quan điện tử với cơ quan Hải quan. Có thể nói, việc đảm bảo tính thông
suốt, ổn định của thông tin giữa cơ quan Hải quan và doanh nghiệp, giữa cơ
quan Hải quan và các bên hữu quan khác phụ thuộc rất nhiều vào sự ổn định,
thông suốt của VAN. Do đó, tổ chức cung cấp VAN phải là tổ chức có điều
kiện đảm bảo về năng lực công nghệ thông tin, chịu trách nhiệm xây dựng
mạng giá trị gia tăng làm trung gian trao đổi dữ liệu hải quan điện tử theo
chuẩn mực thống nhất do cơ quan Hải quan quyết định.
1.2.2.3 Điều kiện về nguồn nhân lực:
Trong thủ tục hải quan điện tử, hầu hết các công việc đều được thực
hiện bằng các phương tiện điện tử, trang thiết bị công nghệ thông tin hiện đại.
Vì thế, điều kiện tiên quyết để có thể thao tác, vận hành các trang thiết bị này
là đội ngũ cán bộ được trang bị đầy đủ kiến thức về ngoại ngữ, tin học, công
nghệ thông tin và hải quan điện tử. Thủ tục hải quan điện tử là một quy trình
thống nhất, liên tục, các bước liên quan chặt chẽ với nhau và được cài đặt
phần mềm hoạt động theo chương trình định sẵn, từ khâu nhận thông tin,
thông quan đến kiểm tra sau thông quan. Do vậy, chỉ cần một sai sót nhỏ
trong quy trình sẽ dẫn đến những tốn kém về nhân lực, thời gian và chi phí.
Vì vậy, để áp dụng tốt thủ tục hải quan điện tử, yêu cầu cơ quan Hải quan
ích sau:
Thứ nhất, quy trình thủ tục hải quan điện tử đơn giản, thống nhất, tuân
theo chuẩn mực quốc tế tạo điều kiện dễ dàng hơn cho cơ quan Hải quan so
với quy trình hải quan truyền thống.
Thứ hai, thủ tục hải quan điện tử giúp cán bộ Hải quan dễ dàng quản lý
hoạt động ngoại thương hơn so với thủ tục hải quan truyền thống. Cách làm
này giúp Hải quan chuyển từ kiểm tra, kiểm soát từng lô hàng sang quản lý
toàn bộ thông tin về quá trình xuất nhập khẩu của doanh nghiệp, tăng cường
chống buôn lậu, gian lận thương mại và hạn chế thất thu thuế, giảm chi phí
khi phải tiến hành thông quan thủ công một khối lượng lớn hàng hóa như hiện
nay.
Thứ ba, thủ tục hải quan điện tử hoàn thiện chất lượng cán bộ Hải quan
với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao và tinh thần phục vụ doanh nghiệp có
kỷ cương, kỷ luật và trung thực. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào Hải
quan đòi hỏi công chức Hải quan phải tự hoàn thiện, học hỏi đồng thời nâng
cao tinh thần phục vụ doanh nghiệp, văn minh lịch sự.
Thứ tư, nhờ có thủ tục hải quan điện tử, trách nhiệm của doanh nghiệp
cũng được nâng cao hơn. Doanh nghiệp sẽ phải tự tính thuế, tự lưu giữ các
chứng từ, hồ sơ và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Những vi phạm của
doanh nghiệp cũng được cập nhật, lưu giữ và cảnh báo bởi cơ sở dữ liệu của
Hải quan.
Thủ tục hải quan điện tử không chỉ mang lại những lợi ích to lớn cho
riêng cơ quan Hải quan mà còn tạo được rất nhiều thuận lợi cho các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu.
20
Lợi ích đầu tiên là giảm chi phí đi lại, chi phí lưu kho, lưu bãi; tiết kiệm
thời gian, và nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp. Thay vì phải đến từng
Chi cục Hải quan cửa khẩu để khai báo lô hàng xuất nhập khẩu, doanh nghiệp
chỉ cần khai thông tin tờ khai điện tử và gửi đến cơ quan Hải quan để làm thủ
tục đăng ký tờ khai hải quan.
Có thể nói, việc áp dụng thương mại điện tử trong lĩnh vực quản lý
hành chính, mà cụ thể là việc áp dụng mô hình hải quan điện tử hiện nay đang
là một xu thế mang tính tất yếu và khách quan. Bên cạnh những yếu tố chủ
quan từ những ưu điểm mà thủ tục hải quan điện tử mang lại, có rất nhiều
nguyên nhân khách quan cho xu hướng phát triển tất yếu của thủ tục hải quan
điện tử trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
Thứ nhất, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thế giới, hoạt động
xuất nhập khẩu ở các quốc gia đang có những bước tiến dài. Bởi vậy, khối
lượng công việc của Hải quan quốc tế cũng như Hải quan quốc gia cũng ngày
một tăng lên. Việc áp dụng mô hình thủ tục hải quan truyền thống đòi hỏi cán
bộ Hải quan phải xử lý một lượng công việc đồ sộ. Nhưng với mô hình thủ
tục hải quan điện tử, việc cập nhật, xử lý thông tin cũng giảm bớt phần nào.
Số liệu thống kê công bố trong Báo cáo ngày 14/03/2011 của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) cho thấy tổng trị giá thương mại hàng hóa trên
phạm vi toàn cầu trong năm 2010 tăng 17% so với kết quả thực hiện cùng kỳ
năm 2009 [41].
Biểu đồ 1.1: Kim ngạch và tốc độ tăng/giảm xuất khẩu, nhập khẩu và cán
cân thương mại Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2010
22
Nguồn: Tổng cục Hải quan (03/2011), Số liệu thống kê Hải quan Việt Nam
từ năm 2000 đến năm 2010
Nhìn lại tình hình xuất nhập khẩu của nước ta từ năm 1991 trở lại đây,
ta thấy có xu hướng tăng và ngày càng tăng nhanh, từ năm 1991 tổng kim
ngạch là 4.425 tỷ đô la Mỹ đến 83 tỷ đô la Mỹ (năm 2010). Duy chỉ có năm
2009, do ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế toàn cầu nên kim ngạch xuất
nhập khẩu giảm (56.6 tỷ đô la Mỹ). Và riêng 2 tháng đầu năm 2011, kim
ngạch xuất nhập khẩu đã đạt đến con số 26.9 tỷ đô la Mỹ, tăng 25.9% so với
cùng kỳ năm 2010 [51] (xem Biểu đồ 1). Điều đó chứng tỏ sự tăng trưởng của
ngoại thương nước ta, đòi hỏi việc áp dụng một hệ thống quản lý thông tin
hiện đại, cập nhật, góp phần giảm bớt công việc của Hải quan như mô hình
hòa thủ tục hải quan. Điều này cũng góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa
ngành Hải quan Việt Nam.
Như vậy, lợi ích của Hải quan điện tử cùng với xu hướng phát triển
khách quan của thế giới đã có tác động rất lớn đến sự phát triển của ngành
Hải quan Việt Nam, đòi hỏi ngành Hải quan cần có sự cải cách, đổi mới sao
cho phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Và mô hình thủ tục hải quan điện tử
chính là câu trả lời cho xu thế mang tính tất yếu này.
1.3. Tổng quan về hệ thống hải quan điện tử ở Việt Nam
1.3.1 Hoàn cảnh ra đời của Hải quan điện tử Việt Nam
Hải quan điện tử đã được áp dụng từ lâu ở các nước tiên tiến trên thế
giới, chuyển từ thủ tục hải quan thủ công sang phương pháp khai hải quan
bằng các phương tiện điện tử, nhằm giảm tỷ lệ kiểm hóa. Trước năm 2005,
Hải quan Việt Nam cũng đã nhận thức được tầm quan trọng và xu hướng phát
triển tất yếu của Hải quan điện tử. Từ năm 2005 tới nay, Tổng cục Hải quan
24
đã từng bước thí điểm thực hiện thủ tục hải quan điện tử nhằm đáp ứng các
yêu cầu cấp thiết đang đặt ra đối với ngành Hải quan Việt Nam:
a) Đáp ứng khối lượng công việc ngày càng tăng nhanh
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong những
năm gần đây, khối lượng công việc của ngành Hải quan đã tăng lên một cách
nhanh chóng. Cụ thể là [52; 53; 54]:
Xuất khẩu hàng hóa tăng bình quân trong thời kỳ 2001-2007 là
22,745%; tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010 của Việt Nam là 71,3 tỷ USD,
tăng 25,5% so với mức thực hiện năm 2009 (kim ngạch xuất khẩu hàng hoá
năm 2009 ước tính đạt 56,6 tỷ USD) và tăng 13,35% so với năm 2008 (kim
ngạch hàng hoá xuất khẩu 2008 ước tính đạt 62,9 tỷ USD). Dự kiến, tổng kim
ngạch xuất khẩu năm 2011 sẽ đạt hơn 78 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2010.
Nhập khẩu hàng hóa tăng bình quân trong thời kỳ 2001-2007 là
21,66%, tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2010 là khoảng 82,8 tỷ USD, bằng
1,2 lần tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2009 (68,8 tỷ USD) và tăng 2,8% so