MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN 10
1.1. DỊCH VỤ 10
1.1.1. Khái niệm dịch vụ 10
1.1.2. Đặc tính dịch vụ 11
1.2. CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 12
1.2.1. Khái niệm chất lượng dịch vụ 12
1.2.2. Tiêu chí đánh giá và đo lường chất lượng dịch vụ 13
1.2.3. Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ 14
1.2.3.1. Mô hình 5 khoảng cách chất lượng của Parasuraman, gọi tắt là
SERVQUAL 14
1.2.3.2. Mô hình SERVPERF 17
1.3. SỰ THỎA MÃN CỦA KHÁCH HÀNG 19
1.3.1. Khái niệm 19
1.3.2. Tại sao cần phải đánh giá sự thỏa mãn của khách hàng? 19
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự thỏa mãn của khách hàng 20
1.3.3.1. Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ tới sự thỏa mãn của khách hàng.20
1.3.3.2. Ảnh hưởng của giá cả đến sự thỏa mãn của khách hàng 21
1.3.3.3. Ảnh hưởng của dịch vụ chăm sóc khách hàng tới sự thỏa mãn của
khách hàng 22
1.3.3.4. Ảnh hưởng của thương hiệu tới sự thỏa mãn khách hàng 22
CHƯƠNG 2: DỊCH VỤ WIFI NET TẠI KÝ TÚC XÁ TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KINH TẾ QUỐC DÂN 24
2.1.GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VÀ
KÝ TÚC XÁ SINH VIÊN 24
2.1.1.Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 24
2.1.2. Ký túc xá sinh viên trường Đại học Kinh tế Quốc dân 26
2.2. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM DỊCH VỤ WIFI NET 27
2
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
3
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
4
PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nhân loại chứng kiến những bước thay đổi mạnh
mẽ chưa từng thấy của các phương tiện thông tin đại chúng, một trong những dịch
vụ hàng đầu hiện nay là sự xuất hiện của Internet. Đó là một phương tiện không
thể thiếu của nhân loại, một dịch vụ “nhanh, gọn, tiện ích”, không những thế,
Internet đã và đang thâm nhập và ảnh hưởng lớn tới hầu như mọi lĩnh vực từ kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội và mọi hoạt động sống của con người thuộc mọi tầng
lớp trong xã hội. Theo số liệu thống kê của trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC)
năm 2010, tại Mỹsố người sử dụng Internet là 310.341.686 người trên tổng dân số
nước Mỹ là 310.341.686 chiếm 79% dân số, tại Nhật Bản là
126.552.583/101242066 người (80%), tại Thụy Điển là 8.441.595/9.379.550 người
(90%) và tính đến tháng 11 năm 2012 số người sử dụng Internet tại Việt Nam là
31.304.211 người chiếm 35.58 % dân số cả nước. Theo thông tin mới nhất thì Việt
Nam xếp thứ 20 trên toàn thế giới về sử dụng mạng Internet. Hệ thống Internet
cung cấp một khối lượng thông tin và dịch vụ khổng lồ cho con người. Sự ra đời
của Internet đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tinh thần cũng như đời sống
học tập của sinh viên Việt Nam trong môi trường sống luôn năng động và bận rộn
hiện nay.
Và tại ký túc xá trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì Internet lại càng có vai
trò vô cùng quan trọng. Đối với sinh viên học trong lĩnh vực kinh tế thì nhu cầu
cập nhật thông tin thường xuyên, tìm tài liệu học tập và nghiên cứu hay giải trí và
trao đổi thông tin hàng ngày…là rất lớn, vì vậy Internet chính là một trong những
công cụ hỗ trợ đắc lực nhất. Tuy nhiên, tại ký túc xá trường Đại học Kinh tế Quốc
dân thì mạng Wifi Net để truy cập Internet của sinh viên lại chưa đáp ứng được
nhu cầu của sinh viên, thậm chí khi nhóm nghiên cứu phỏng vấn thì rất nhiều sinh
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
6
• Các nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu sơ cấp
Số liệu thu thập được từ việc phát phiếu điều tra tới các sinh viên trong ký túc
xá trường Đại học Kinh tế Quốc dân được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu “Sự thỏa mãn của sinh viên ” là một nghiên cứu điều tra
trong đó những phản hồi của sinh viên thu thập từ phiếu điều tra là nguồn thông tin
quan trọng nhất được dùng trong quá trình nghiên cứu. Đối với nghiên cứu điều
tra, các dữ liệu thu thập sẽ mang tính khách quan hơn do hạn chế được các ý kiến
chủ quan của người viết. Do đó, quá trình phân tích và xử lý dữ liệu sẽ đưa ra kết
quả có độ tin cậy và tổng quan cao, có thể được áp dụng cho những nghiên cứu sau
đó với số lượng mẫu nhiều hơn.
- Dữ liệu thứ cấp
Cơ sở lý thuyết và các bài viết được chọn lọc trên các trang báo mạng, các tạp
chí kinh tế và sách giáo trình đại học là nguồn dữ liệu thứ cấp quan trọng phục vụ
cho việc nghiên cứu. Nguồn thu thập thông tin cho dữ liệu thứ cấp được nhắc đến
như sau:
- Các bài tham luận về dịch vụ và chất lượng dịch vụ, sự thỏa mãn khách
hàng
- Bài giảng về Phương pháp nghiên cứu và phân tích dữ liệu EVIEW
- Internet
- Sách giáo trình có nội dung liên quan đến chất lượng, sự thỏa mãn khách
hàng…
• Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Phiếu điều tra nhận được từ sinh viên trong ký túc xá Đại học Kinh tế Quốc dân.
- Tổng thể nghiên cứu: 3000 sinh viên ký túc xá
- Tổng thể mẫu nghiên cứu: 1000 sinh viên
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
7
Theo nhóm đánh giá thì mức độ thỏa mãn của sinh viên ký túc xá được đánh
giá trên 3 yếu tố chính như sau: Giá cả, chất lượng dịch vụ, dịch vụ chăm sóc
khách hàng.
Mô hình đánh giá mức độ thỏa mãn của sinh viên ký túc xá đối với sử dụng
dịch vụ Wifi Net trong ký túc xá Đại học Kinh tế Quốc dân:
(Y) = f(X1, X2, X3)
E(Y/X1,X2,X3) = β1 +β2*X1 + β3*X2 + β4*X3 + u
Trong đó: Y là biến phụ thuộc; X1, X2, X3 là các biến độc lập (đơn vị %)
Y: mức thỏa mãn của sinh viên ký túc xá đối với sử dụng dịch vụ Wifi Net
X1: Giá thẻ Wifi
X2: Chất lượng dịch vụ
X3: Dịch vụ chăm sóc khác hàng
u: Các yếu tố khác
• Hàm hồi quy mẫu:
Y^ = β1^ +β2^*X1 + β3^*X2 + β4^*X3
Trong đó:
Y^: giá trị ước lượng của Y
β1^: giá trị ước lượng của β1
β2^: giá trị ước lượng của β2
β3^: giá trị ước lượng của β3
β4^: giá trị ước lượng của β4
Quy trình
a. Xây dựng bảng câu hỏi
b. Xác định số lượng mẫu cần thiết cho nghiên cứu
c. Gửi phiếu điều tra cho sinh viên
d. Liên hệ với khách hàng để theo dõi kết quả trả lời
e. Thu nhận phản hồi từ phía sinh viên
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
9
f. Xử lý dữ liệu thông qua việc sử dụng công cụ phân tích EViews theo trình
nghiên cứu này.
1.1. DỊCH VỤ
1.1.1. Khái niệm dịch vụ
Cũng giống như sản phẩm hữu hình, dịch vụ(sản phẩm vô hình) là kết quả đầu
ra của một quá trình hay một hoạt động nào đó. Thực tế có rất nhiều định nghĩa
khác nhau về dịch vụ. Các học giả, đứng trên từng quan điểm riêng của mình nên
cũng có những quan niệm, định nghĩa khác nhau về dịch vụ. Hiện tại,có một số
quan niệm sau về dịch vụ:
Theo quan điểm truyền thống: Những gì không phải nuôi trồng, không phải
sản xuất là dịch vụ. Như vậy, dịch vụ bao gồm các lĩnh vực hoạt động như khách
sạn, tiệm ăn, hiệu sửa chữa, giải trí, bảo tàng,chăm sóc sức khỏe, tư vấn, giáo dục,
đào tạo…các phương tiện công cộng(điện, nước, viễn thông…), dịch vụ công( tòa
án, cảnh sát, quân đội, cứu hỏa).
Theo cách hiểu phổ biến: Dịch vụ là một hoạt động mà sản phẩm của nó vô
hình. Nó giải quyết các mối quan hệ với khách hàng hoặc với tài sản do khách
hàng sở hữu mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu.
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
11
Theo cách hiểu khác: Dịch vụ là một hoạt động xã hội mà hoạt động này đã
xảy ra trong mối quan hệ trực tiếp giữa khách hàng và đại diện của công ty cung
ứng.
1.1.2. Đặc tính dịch vụ
Giống như sản phẩm hữu hình, dịch vụ cũng có những đặc điểm riêng có của
mình. Để có thể làm thỏa mãn khách hàng một cách hữu hiệu nhất, doanh nghiệp
phải nắm rõ các đặc điểm riêng có của chất lượng dịch vụ, từ đó rút ra được những
phương cách phù hợp để tiến hành kinh doanh một cách tốt nhất. Sau đâu là một số
đặc điểm của dịch vụ:
Tính vô hình (intangible)
Đây là tính không thể nhìn thấy, không nếm được, không nghe được, không
cầm nắm được dịch vụ trước khi tiêu dùng chúng. Đặc điểm này đòi hỏi chỉ thông
Đối với chất lượng dịch vụ, các học giả tiếp cận trên quan điểm của khách hàng. Ở
đây:
Chất lượng = Mức độ thỏa mãn
( Quality = Satisfaction)
Sự thỏa mãn = Cảm nhận – Kỳ vọng
( Satisfaction = Perception- Epectation)
Chất lượng = Cảm nhận – Kỳ vọng
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
13
Như vậy, mức độ thỏa mãn khách hàng chính là mức chất lượng của dịch vụ
được cung ứng. Theo cách tiếp cận này, chất lượng chính là do khách hàng cảm
nhận và khách hàng đánh giá, mức độ thỏa mãn đó của khách hàng chính là hiệu
số giữa cảm nhận khi tiêu dùng dịch vụ đó của khách hàng và mong đợi của họ
trước khi tiêu dùng dịch vụ đó.
1.2.2. Tiêu chí đánh giá và đo lường chất lượng dịch vụ
Không giống như đánh giá và xác định chất lượng sản phẩm hữu hình; đánh
giá và xác định, đo lường chất lượng dịch vụ hết sức phức tạp. Nếu chất lượng sản
phẩm hữu hình được xác định dựa trên thuộc tính kinh tế kỹ thuật của sản phẩm,
hoặc khách hàng khi tiêu dùng sản phẩm hữu hình thì mức độ cảm nhận của họ chỉ
có thể dựa vào các thuộc tính hữu hình như vậy. Vì vậy, để đánh giá được mức
chất lượng dịch vụ, chúng ta phải dựa vào các yếu tố có liên quan và thông qua
những gì được gọi là “cảm nhận” của khách hàng.
Các học giả người Mỹ, ông Zeitham V.A Parasuraman và L.B Leonard đã đưa
ra 10 yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ theo quan điểm khách hàng và coi đó là
10 tiêu chí để đánh giá chất lượng dịch vụ khách hàng theo quan điểm của khách
hàng bao gồm: (1) Độ tin cậy, (2)Tinh thần trách nhiệm, (3) Năng lực, (4) Tiếp cận
được, (5)Tác phong, (6)Giao tiếp, (7)Sự tín nhiệm, (8) Tính an toàn, (9) Thấu hiểu
khách hàng, (10) Tính hữu hình.
Tuy nhiên, sau một thời gian dài áp dụng, các học giả thấy rằng 10 tiêu chí đó
có sự trùng lặp nhất định, vì vậy đã gây khó khăn cho người đánh giá trong công
“cảm nhận” của khách hàng đối với việc thực hiện dịch vụ. Kết quả nghiên cứu
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
15
nhằm nhận ra các khoảng cách giữa cảm nhận khách hàng về chất lượng dịch vụ
do doanh nghiệp thực hiện và kỳ vọng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ
đó.
Cụ thể: Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận – Giá trị kỳ vọng. Đây là một
trong những mô hình được sử dụng khá phổ biến để đánh giá chất lượng dịch vụ
trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Khoảng cách 5 – hiệu số giữa chất lượng cảm thụ và kỳ vọng mong đợi – là
sự cộng hợp của các khoảng cách 1, khoảnh cách 2, khoảng cách 3, khoảng cách 4.
Khoảng cách 1 chính là hiệu số giữa dịch vụ mong đợi với nhận thức của lãnh
đạo về mức chất lượng dịch vụ cần phải có, mức chất lượng cần phải cung ứng.
Đây chính là sự khác biệt giữa mong đợi của khách hàng và nhận thức của lãnh
đạo doanh nghiệp về mong đợi đó. Để thu hẹp hay lấp đầy được khoảng cách này,
các lãnh đạo, các chủ doanh nghiệp phải nắm rõ được nhu cầu khách hàng để từ đó
có thể thiết kế ra các sản phẩm, dịch vụ với các thuộc tính theo đúng nhu cầu của
khách hàng.
Thu hẹp hoặc thậm chí lấp đầy khoảng cách 2 chính là quá trình biến nhận
thức, hiểu biết của lãnh đạo, cảu chủ doanh nghiệp về nhu cầu khách hàng thành
các thông số, các chỉ tiêu cụ thể nhằm thiết kế ra các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng
nhu cầu của thị trường, khách hàng.
Tương tự như vậy, để lấp đầy khoảng cách 3 chính là quá trình tạo ra và cung
ứng cho khách hàng những dịch vụ theo đúng như những gì đã thiết kế. Không
những thế, trong quá trình tạo ra và cung ứng sản phẩm cho khách hàng thì cần
phải mang tới nhiều hơn những gì đã thiết kế, hay nói cách khác là phải làm cho
khách hàng cảm thấy ngạc nhiên khi tiêu dùng những dịch vụ của mình. Đây chính
là những gì thuộc về khoảng cách 4.
Trong số 5 khoảng cách cảu mô hình 5 – GAP, khoảng cách nào cũng quan
trọng, khoảng cách nào cũng cần thiết phải cân nhắc, xem xét để không ngừng
Nhận thức của lãnh
đạo về KHKH
Các yếu tố
ngoại cảnh
khác
KC
5
K
C3
K
C2
K
C
4
Khoảng
cách 1
17
1.2.3.2. Mô hình SERVPERF
Trên cơ sở mô hình SERVQUAL của Parasuraman, Cronin và Taylor(1992)
đã khắc phục và cho ra đời mô hình SERVPERF, một biến thể của SERVQUAL.
Theo mô hình SERVPERF thì: Chất lượng dịch vụ = Mực độ cảm nhận. Kết luận
này đã nhận được sự đồng tình bởi các nghiên cứu của Lee và ctg (2000), Brady và
ctg (2002). Bộ thang đo SERVPERF cũng có hai mươi hai phát biểu với năm thành
phần cơ bản tương tự như phần hỏi về cảm nhận của khách hàng trong mô hình
SERVQUAL, tuy nhiên bỏ qua phần hỏi về kỳ vọng, năm thành phần cơ bản, đó
là:
- Tin cậy (reliability): thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và
đúng thời hạn ngay từ lần đầu tiên.
- Đáp ứng (responsiveness): thể hiện qua sự mong muốn, sẵn sàng của nhân
viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng.
của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp là yếu tố sống còn đối
với doanh nghiệp. Thời đại người kinh doanh bán những gì mình có đã chấm dứt
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Nhu cầu khách hàng
Khách hàng tiêu dùng
sản phẩm/ dịch vụ
Cung cấp các sản
phẩm/dịch vụ
Thiết kế các thông số
của sản phẩm/ dịch vụ
Sự thỏa mãn/ không thỏa
mãn của khách hàng
20
từ lâu mà thay vào đó là sản xuất và bán những gì khách hàng cần, đáp ứng nhu
cầu của khách hàng. Chính sự thỏa mãn của khách hàng tạo ra doanh thu cho
doanh nghiệp vì vậy nên sự thỏa mãn của khách hàng là tâm điểm cho việc điều
hành một doanh nghiệp. Tất cả mọi công việc kinh doanh đều dựa vào nhu cầu và
sự thỏa mãn của khách hàng. Nhu cầu và sự thỏa mãn của khách hàng là cơ sở cho
việc hoạch định chiến lược cạnh tranh, tiếp thị, xây dựng hình ảnh thương hiệu,
xúc tiến thương mại nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. Bởi lẽ đơn
giản là thông thường, khi khách hàng càng cảm thấy thỏa mãn thì cơ hội khách
hàng lựa chọn sản phẩm hay dịch vụ cho lần tiêu dùng tiếp theo càng cao. Một
mặt, sự thoả mãn tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp được phục vụ khách hàng trong
những lần tiếp theo. Mặt khác, những thông tin truyền miệng về sản phẩm hay dịch
vụ từ khách hàng sẽ tạo cơ hội tiêu dùng cho những người xung quanh. Bên cạnh
đó, sự thỏa mãn của khách hàng kiến tạo lòng trung thành của họ đối với sản
phẩm/ dịch vụ hay thương hiệu từ đó trở thành một cơ hội cho doanh nghiệp tiếp
tục phát triển và thực hiện các mục tiêu kinh doanh của mình.
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự thỏa mãn của khách hàng
1.3.3.1. Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ tới sự thỏa mãn của khách hàng
nhiều nghiên cứu về sự thỏa mãn của khách hàng trước đây, tác động của yếu tố
giá cả ít được chú ý đến so với các tiêu chí khác (Voss et at., 1998). Tuy nhiên,
cùng với sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ của thị trường và các thay đổi trong
nhận định của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ, các nhà nghiên cứu đã xác định
rằng giá cả và sự thỏa mãn khách hàng có mối quan hệ sâu sắc với nhau (Patterson
et al., 1997). Do đó, nếu không xét đến nhân tố này thì việc nghiên cứu về sự thỏa
mãn khách hàng sẽ thiếu tính chính xác.
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
22
1.3.3.3. Ảnh hưởng của dịch vụ chăm sóc khách hàng tới sự thỏa mãn của
khách hàng
Dịch vụ chăm sóc khách hàng chính là dịch vụ hỗ trợ, tức là các dịch vụ đi
kèm nhằm tăng thêm mức độ thỏa mãn của khách hàng khi sử dụng dịch vụ chính.
Dịch vụ chăm sóc khách hàng là hoạt động tạo điều kiện thực hiện tốt dịch vụ căn
bản và làm tăng giá trị cho dịch vụ căn bản. Xét về góc độ cạnh tranh, dịch vụ
chăm sóc khách hàng đã và đang là một vũ khí cạnh tranh cực kỳ lợi hại trên thị
trường đối với các doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp có dịch vụ chăm sóc khách
hàng tốt thì đó là một ưu điểm nổi trội rất thu hút khách hàng . Có được vai trò
quan trọng như vậy là do dịch vụ chăm sóc khách hàng có vai trò mang lại sự thỏa
mãn cho khách hàng cuối cùng và quyết định khá lớn về ấn tượng cũng như sự
thỏa mãn của khách hàng đối với dịch vụ của doanh nghiệp khi mà hiện nay các
sản phẩm cốt lõi của các doanh nghiệp gần như không có sự khác biệt nhiều.
1.3.3.4. Ảnh hưởng của thương hiệu tới sự thỏa mãn khách hàng
Thương hiệu là một tập hợp những cảm nhận của khách hàng về một công ty,
một sản phẩm hay dịch vụ với đầy đủ các khía cạnh: mô tả nhận diện (brand
identities), giá trị (brand values), thuộc tính (brand attributes), cá tính (brand
personality). Thương hiệu của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có ảnh hưởng tới sự
thỏa mãn của khách hàng một cách gián tiếp.
• 72% khách hàng nói họ chấp nhận trả 20% cao hơn so với thương hiệu khác
khi họ chọn mua thương hiệu mà họ yêu thích. 50% khách hàng chấp nhận
Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, trường Đại học Kinh tế Quốc
dân luôn luôn giữ vững vị trí là:
- Một trong những trung tâm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế và
quản trị kinh doanh lớn nhất ở Việt Nam. Trường hiện có hơn 45.000 sinh viên;
1228 cán bộ, giảng viên, công nhân viên (trong đó có 759 giảngviên, 18 giáo sư và
95 phó giáo sư, 255 tiến sĩ và 391 thạc sĩ); Bậc đại học đào tạo 45 chuyên ngành
thuộc 8 khối chuyên ngành khác nhau: Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Tài chính -
Ngân hàng , Kế toán, Hệ thống thông tin kinh tế, Luật học, Khoa học máy tính và
Tiếng Anh ; ở bậc cao học đào tạo 2 nhóm ngành Kinh tế, kinh doanh và Quản lý
với 33 chuyên ngành hẹp; Bậc nghiên cứu sinh đào tạo 14 mã số chuyên ngành
với 22 chuyên ngành hẹp. Bên cạnh các chương trình đào tạo cấp bằng cử nhân,
thạc sĩ và tiến sĩ, Trường cũng thường xuyên tổ chức các khoá bồi dưỡng chuyên
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
25
môn ngắn hạn về quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh cho các nhà quản lý các
doanh nghiệp và các cán bộ kinh tế trên phạm vi toàn quốc.
- Cho đến nay, trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã đào tạo được nhiều thế hệ
cán bộ quản lý chính quy, năng động, dễ thích nghi với nền kinh tế thị trường và có
khả năng tiếp thu các công nghệ mới. Trong số những sinh viên tốt nghiệp của
Trường, nhiều người hiện đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan
của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các doanh nghiệp.
- Trung tâm nghiên cứu khoa học kinh tế phục vụ đào tạo, hoạch định chính
sách kinh tế – xã hội của Đảng, Nhà nước, các ngành, các địa phương và chiến
lược kinh doanh của các doanh nghiệp. Trường đã triển khai nhiều công trình
nghiên cứu lớn về kinh tế và kinh doanh ở Việt Nam, được Chính phủ trực tiếp
giao nhiều đề tài nghiên cứu lớn và quan trọng. Ngoài ra, Trường cũng hợp tác về
nghiên cứu với nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức quốc tế.
- Trung tâm tư vấn và chuyển giao công nghệ quản lý kinh tế và quản trị kinh
doanh. Trường đã có nhiều đúng góp to lớn trong việc tư vấn cho các tổ chức ở
Trung ương, địa phương và các doanh nghiệp. Ảnh hưởng sâu rộng của trường Đại