Rèn kĩ năng giải bài tập chương các định luật bảo toàn vật lý 10 thông qua câu hỏi định hướng tư duy - Pdf 30

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ HỢP RÈN KĨ NĂNG GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG
“ CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” VẬT LÝ 10 THÔNG QUA CÂU HỎI
ĐỊNH HƯỚNG TƯ DUY
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM VẬT LÝ

PHẠM THỊ HỢP RÈN KĨ NĂNG GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG
“ CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” VẬT LÝ 10 THÔNG QUA CÂU HỎI
ĐỊNH HƯỚNG TƯ DUY ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM VẬT LÝ
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý
Mã số: 60 14 01 11
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Nhã
ii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
PP Phương pháp
THPT Trung học phổ thông
BT Bài tập
TNSP Thực nghiệm sư phạm
TH Trung học
SGK Sách giáo khoa
SBT

Sách bài tập

iv
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Trang
Sơ đồ 1.1 Hệ thống câu hỏi định hướng tư duy giải
quyết vấn đề trong dạy học vật lí 16
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nội dung cấu trúc chương “Các định
luật bảo toàn” 41
Đồ thị 3.1 Phân bố tần suất nhóm thực nghiệm và đối

TRÌNH GIẢI BÀI TẬP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TƯ THỤC. 6
1.1. Câu hỏi định hướng tư duy 6
1.1.1. Khái niệm câu hỏi định hướng tư duy 6
1.1.2. Các tiêu chuẩn xác định tính hiệu quả của câu hỏi 6
1.1.3. Nguyên tắc đặt câu hỏi 7
1.1.4. Các bước đặt câu hỏi 8
1.1.5. Kĩ thuật đặt câu hỏi 9
1.1.6. Kĩ thuật thiết kế câu hỏi trong dạy học 14
1.2. Bài tập vật lý 16
1.2.1. Khái niệm về bài tập vật lý 16
1.2.2. Vai trò của bài tập vật lý trong dạy và học 17
1.2.3. Tư duy trong quá trình giải bài tập vật lý 18
1.2.4. Phương pháp giải bài tập vật lý 24
1.2.5. Hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lý 25
1.2.6. Kỹ năng giải bài tập vật lí 28
1.3. Đặc điểm của học sinh THPT tư thục 30
1.3.1. Đặc điểm về nhận thức 30
1.3.2. Đặc điểm về tâm lý, tính cách 32
1.4. Thực trạng việc sử dụng câu hỏi định hướng tư duy trong việc hướng dẫn
giải bài tập vật lý của học sinh trường tư thục 36
1.4.1. Thực trạng 36
1.4.2. Nguyên nhân 37
1.4.3. Giải pháp 38
Kết luận chương 1 38
CHƯƠNG 2:SỬ DỤNG CÂU HỎI ĐỊNH HƯỚNG TƯ DUY HƯỚNG DẪN
HỌC SINH GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN”
VẬT LÝ 10 39
2.1. Cấu trúc nội dung và vị trí của chương “ Các định luật bảo toàn” 39
2.1.1. Vị trí, vai trò của chương 39
2.1.2. Sơ đồ cấu trúc nội dung 41

1. Kết luận 102
2. Khuyến nghị 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 105
PHỤ LỤC 1: PHIẾU TRAO ĐỔI Ý KIẾN VỚI GIÁO VIÊN 105
PHỤ LỤC 2: ĐỀ KIỂM TRA 45’ 107
PHỤ LỤC 3: ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM BÀI 45’ 109

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay đất nước chúng ta đang thực hiện sự nghiệp công
nghiệp hóa hiện đại hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và đã
đạt được một số thành tựu đáng kể. Cùng với sự đổi mới và phát triển của đất
nước, nền giáo dục Việt Nam có những biến đổi sâu sắc về mục tiêu, nội dung
và phương pháp giáo dục nhằm mở rộng quy mô, nâng cao tính tích cực trong
dạy và học một cách toàn diện.
Trong việc đổi mới dạy- học thì việc đổi mới phương pháp để nâng cao
hiệu quả của việc rèn kĩ năng, phát triển tư duy, năng lực sáng tạo cho người
học là quan trọng. Đặc biệt là các kĩ năng, năng lực giải quyết vấn đề trong
thực tiễn, vì vậy trong dạy học nói chung và trong dạy học vật lí nói riêng
việc đổi mới phương pháp để nâng cao kĩ năng, năng lực sáng tạo và phát
triển tư duy cho học sinh đã và đang được các nhà giáo chúng tôi thực hiện.
Một trong những tiêu chí về đổi mới phương pháp (PP) là phải tìm ra được
cách thức định hướng hành động nhận thức hiệu quả nhất dành cho học sinh,
và câu hỏi luôn là phương tiện quan trọng để có thể định hướng tư duy cho
học sinh. Thật vậy, người thầy muốn dạy tốt thì cần đưa ra câu hỏi hay để có


Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa, sách bài tập
vật lý 10.
Thứ hai: Nghiên cứu đặc điểm học sinh trường tư thục về năng lực nhận
thức và ý thức tổ chức học tập.
Thứ ba: Đưa ra hệ thống câu hỏi định hướng tư duy và hướng dẫn để rèn
kĩ năng giải bài tập chương các định luật bảo toàn.
Thứ tư: Tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của bộ các
câu hỏi đã xây dựng cũng như cách thức giảng dạy phù hợp trong việc rèn kỹ
năng giải bài tập cho học sinh.
4. Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống bài tập chương “ Các định luật bảo toàn”.
- Hoạt động dạy học bài tập chương “ Các định luật bảo toàn” ở trường tư
thục. 3
5. Vấn đề nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau:
+ Nghiên cứu xây dựng hệ thống câu hỏi định hướng tư duy để giải bài
tập chương “ Các định luật bảo toàn”.
+ Nghiên cứu năng lực nhận thức của học sinh trường tư thục.
+ Nghiên cứu quá trình đưa hệ thống câu hỏi đó vào quá trình dạy học để
rèn kĩ năng giải bài tập cho học sinh trường tư thục.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu soạn thảo được các câu hỏi định hướng tư duy và sử dụng chúng
trong việc dạy giải bài tập chương “Các định luật bảo toàn” thì có thể rèn kĩ
năng giải bài tập cho học sinh.
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Các cơ sở lý luận về dạy học tích cực các kỹ thuật về dạy học tích cực.
Trong đó có kỹ thuật đặt câu hỏi.
- Lý thuyết về phương pháp đặt câu hỏi định hướng tư duy trong dạy học .
- Các cơ sở kỹ thuật về hình thành các kĩ năng, kĩ xảo về vật lý của học
sinh: kĩ năng quan sát, kĩ năng giải thích hiện tượng, kĩ năng giải bài tập vật
lý.
- Mục tiêu cần đạt về nội dung kiến thức khi dạy học chương “ Các định
luật bảo toàn” , những khó khăn của học sinh khi giải bài tập phần này.
9.2. Luận cứ thực tiễn
- Từ thực tế dạy học, thực tiễn giải bài tập chương “Các định luật bảo
toàn” cho thấy phương pháp rèn luyện kĩ năng giải bài tập phần các định luật
bảo toàn bằng cách đưa ra hệ thống câu hỏi định hướng tư duy có hiệu quả
cao đó là nâng cao được kĩ năng giải bài tập, phát triển tư duy, nâng cao được
năng lực sáng tạo của các em.
- Phần đánh giá trên được dựa trên minh chứng từ thực tế dạy học thực
nghiệm qua phần điều tra khảo sát học sinh trao đổi với đồng nghiệp giáo
viên, các bài kiểm tra … 5
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng của việc soạn và sử
dụng câu hỏi định hướng tư duy trong quá trình giải bài tập cho học sinh
trường tư thục.
Chương 2: Sử dụng câu hỏi định hướng tư duy, hướng dẫn học sinh giải
bài tập chương “ Các định luật bảo toàn” vật lý 10.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.


học và có sự liên kết với hệ thống câu hỏi trong bài học nhằm hình thành nên
các khái niệm hoàn chỉnh (đáp ứng yêu cầu mục đích của người học)[9] .
Câu hỏi định hướng là một hệ thống các câu hỏi cho một bài học được
đặt ra theo các bậc nhận thức của Bloom, nhằm mục đích hình thành và phát
triển khả năng tư duy phê phán và sáng tạo cho người học.
1.1.2. Các tiêu chuẩn xác định tính hiệu quả của câu hỏi
Phương tiện quan trọng để giáo viên định hướng hành động nhận thức
của học sinh là câu hỏi. Để cho câu hỏi thực hiện chức năng định hướng hành
động nhận thức học sinh, nó phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản, cũng
chính là những tiêu chuẩn chung để đánh giá chất lượng câu hỏi, do vậy câu
hỏi phải đáp ứng được các tiêu chuẩn sau:
- Câu hỏi phải được diễn đạt chính xác về ngữ pháp và về nội dung khoa
học, chỉ khi đó câu hỏi mới có nội dung xác định.
- Câu hỏi phải diễn đạt chính xác điều định hỏi. Chỉ khi đó mới hy vọng
câu hỏi thực hiện chức năng định hướng hành động của học sinh theo ý định
của giáo viên và chỉ khi đó giáo viên mới lấy đáp án của mình làm căn cứ để
đánh giá việc trả lời của học sinh là đúng hay sai.
- Nội dung câu hỏi phải đáp ứng đúng đòi hỏi của sự định hướng hành động
của học sinh trong tình huống đang xét, cả ở phương diện kiểu định hướng hành
động học tập chỉ định, cũng như về phương diện kết hợp với việc thực hiện
nhiệm vụ nhận thức đặt ra. Chỉ khi đó câu hỏi mới có ý nghĩa là câu hỏi nhằm 7
định hướng hành động nhận thức của học sinh theo mục tiêu dạy học cụ thể.
- Câu hỏi phải vừa sức với học sinh, chỉ khi đó câu hỏi mới có thể đưa
đến sự đáp ứng của học sinh.[15. Tr50]
1.1.3. Nguyên tắc đặt câu hỏi
Theo Ivan hanel việc đặt câu hỏi dựa trên 7 nguyên tắc. Các nguyên tắc
này dựa trên những đặc điểm tâm lí của học sinh và môi trường dạy học.

Một câu hỏi ngẫu nhiên có thể không đúng hay không phù hợp với hệ
thống câu hỏi của bài học làm cho sự hình thành kiến thức của học sinh thêm
khó khăn. Do vậy giáo viên không nên hỏi vì mục đích suy đoán
Nguyên tắc 7: Khi học sinh trả lời " em không biết" đa phần là một cách
trốn tránh sự tham gia vào bài học. Hãy hỏi 1-3 dạng câu hỏi hơn thế sau khi
nhận được câu trả lời " em không biết".[9]
1.1.4. Các bước đặt câu hỏi
* Bước 1: Đặt tên (Ứng với bậc 1: Nhớ của phân loại Bloom)
- Thao tác đầu tiên của tư duy có phê phán trong HEQ(Hỏi – Đáp hiệu
quả cao) là đặt tên, xác định hay tìm thông tin chính trong các nội dung.
- Đây là kỹ năng tư duy bậc thấp
Ví dụ: Vận tốc trong chuyển động thẳng đều có độ lớn thay đổi hay
không đổi?
*Bước 2: Liên kết (Ứng với bậc 2: Hiểu của phân loại Bloom)
Trong trật tự đặt câu hỏi là yêu cầu học sinh liên kết, suy luận, so sánh,
đối chiếu và nhận ra những sự rời rạc trong nội dung, do đó bước 2 là liên kết
các chương, phần, mục.
*Bước 3: Thứ tự, trật tự, phân loại, nhóm họp, tóm tắt trước và tổng hợp.
(Ứng với bậc 2: Hiểu của phân loại Bloom)
Các câu hỏi trong bước 3 yêu cầu học sinh xắp xếp theo thứ tự, trật tự,
phân loại hay tóm tắt trước một loạt các ý, hay một phần nội dung.
Ghi chú: Ba bước đầu tiên trong 7 bước giúp học sinh đi từ bước cơ bản
đặt tên cho các ý đến kết hợp cả chu trình hay các quá trình. Một cách khác để
kết hợp là đi từ bộ phận đến tổng thể.
*Bước 4: (Ứng với bậc 2 phân loại của Bloom) 9
Bước 4 áp dụng cho việc giúp học sinh giải mã, hiểu hay đơn giản tìm
ra một câu hỏi kiểm tra viết hỏi gì. Trong khi bước 1,2 và 3 nhằm vào nội

Hoặc chỉ có thể trả lời có hoặc" không"
Câu hỏi này được sử dụng chủ yếu trong đánh giá kiến thức đã có, đánh
giá mức độ ghi nhớ thông tin, trong các trường hợp cần trả lời chính xác, cụ
thể, không đòi hỏi tư duy nhiều.
Câu hỏi đóng thường được dùng trong phần kết luận bài hoặc cuối
phần giới thiệu bài để kiểm tra xem học sinh đã hiểu nhiệm vụ và những
hướng dẫn cần thực hiện trong phần phát triển bài hay chưa?
Ví dụ: Hãy nhắc lại nội dung định luật 3 Niu Tơn ?
Câu hỏi đóng ít được sử dụng trong các cuộc trao đổi, thảo luận nhằm
chia sẻ thông tin hoặc phát triển tư duy của học sinh. Một số câu hỏi đóng hay
bán mở không hữu ích khi trao đổi thảo luận trong giờ học.
Câu hỏi đóng đã hàm ý câu trả lời
Ví dụ: Có thể xảy ra hiện tượng cảm ứng điện từ trong mạch hở được không?
Với những câu hỏi này học sinh chỉ có thể trả lời có hoặc không, không
cần phải trình bày thêm, ít phải suy nghĩ. Điều giáo viên mong muốn đã được
hàm ý nằm trong câu hỏi. Câu hỏi đã có sẵn gợi ý câu trả lời.
Câu hỏi đóng, mở đều bằng giả định của người hỏi.
Ví dụ:
- Hiện tượng khúc xạ ánh sáng có thể xảy ra khi ánh sáng đi từ nước
vào thuỷ tinh?
Loại câu hỏi này cũng bao hàm một gợi ý. Học sinh không có quyền tự
do lựa chọn để đưa ra câu trả lời của mình.
Câu hỏi " Bán mở" là những câu đã chỉ rõ dạng câu trả lời mà người hỏi
muốn người trả lời hướng theo gợi ý của mình. Giáo viên muốn có thông tin
về ý kiến hoặc suy nghĩ của học sinh hoặc muốn tìm hiểu, kiểm tra về kiến
thức của học sinh thì cần sử dụng câu hỏi mở.
1.1.5.2. Câu hỏi mở
Câu hỏi mở là dạng câu hỏi có thể có nhiều cách trả lời. Khi đặt câu hỏi
mở, giáo viên tạo cơ hội cho học sinh chia sẻ ý kiến của cá nhân.
Một số loại câu hỏi mở:

- Để ý đến những nội dung, chưa rõ ràng trong câu trả lời.
- Giáo viên nên thứ sắp xếplại các câu trả lời và tìm ra mâu thuẫn giữa
các câu trả lời để đặt thêm câu hỏi.
- Ngữ điệu gợi mở 12
- Được hỗ trợ bằng ngôn ngữ cơ thể
1.1.5.3. Câu hỏi theo cấp độ nhận thức (đặt câu hỏi theo mức độ tư duy của Bloom)
Khi trả lời câu hỏi, học sinh phải động não, suy nghĩ, qua đó nâng cao
nhận thức và phát triển tư duy. Mức độ phát triển tư duy của học sinh phụ
thuộc cấp độ nhận thức mà câu hỏi đặt ra. Có thể chia các câu hỏi đóng và mở
theo cấp độ nhận thức của Bloom: Biết, hiểu, Áp dụng, phân tích, đánh giá,
sáng tạo.
* Câu hỏi yêu cầu ở trình độ biết:
+ Mục tiêu: Nhằm kiểm tra trí nhớ của học sinh về các dữ liệu, số liệu,
các định nghĩa, định lý, định luật, quy tắc, khái niệm tên người hoặc địa
phương…
+ Tác dụng đối với học sinh: Giúp học sinh ôn lại những gì đã biết, đã trải qua.
+ Cách thức dạy học: Khi hình thành câu hỏi giáo viên có thể sử dụng
các từ, cụm từ sau đây: Ai…? Cái gì…? Ở đâu…? Thế nào…? Hãy định
nghĩa…? Hãy mô tả…? Hãy kể lại…?
* Câu hỏi yêu cầu ở trình độ hiểu:
+ Mục tiêu: Nhằm kiểm tra học sinh cách liên hệ, kết nối các dữ kiện,
số liệu, các đặc điểm… khi tiếp nhận thông tin.
+ Tác dụng đối với học sinh: Học sinh có khả năng nêu ra được các yếu
tố cơ bản trong bài học, biết cách so sánh các yếu tố, các sự kiện… trong bài học.
+ Cách thức dạy học: Khi hình thành câu hỏi, giáo viên có thể sử dụng
các cụm từ sau đây: Vì sao…? Hãy so sánh…? Hãy liên hệ…? giải thích…?
* Câu hỏi yêu cầu ở trình độ áp dụng:

định giá trị.
+ Cách thức dạy học: Giáo viên có thể trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra
đáp án, tiêu chí đánh giá… và đặt câu hỏi yêu cầu học sinh đánh giá.
* Câu hỏi sáng tạo:
+ Mục tiêu: Câu hỏi " sáng tạo" nhằm kiểm tra khả năng của học sinh
có thể đưa ra dự đoán, cách giải quyết vấn đề, các câu trả lời hoặc đề xuất có
tính sáng tạo. 14
+ Tác dụng đối với học sinh: Kích thích sự sáng tạo của học sinh hướng
các em tìm ra nhân tố mới.
+ Cách thức dạy học: Giáo viên cần tạo ra những tình huống, những câu
hỏi, khiến học sinh phải suy đoán có thể tự do đưa ra những lời giải mang tính
sáng tạo riêng của mình.[9]
1.1.6. Kĩ thuật thiết kế câu hỏi trong dạy học
Bước 1: Xây dựng nội dung của vấn đề học tập
Nội dung của vấn đề học tập chính là đáp án của câu hỏi. Giáo viên chuẩn
bị nội dung một cách đầy đủ, chính xác để làm cơ sở cho thiết kế câu hỏi. Tránh
tình huống đưa ra câu hỏi không rõ rang, đa trị, thậm chí lạc đề, đồng thời cần
cân nhắc khoảng thời gian cần cho học sinh giải quyết trong bao lâu, học sinh
trong hay ngoài giờ học
Bước 2: Tách lọc các dữ kiện, thông tin cần cho biết và yêu cầu của câu hỏi
Giáo viên dựa trên đáp án của câu hỏi, từ đó tách lọc thông tin cần và đủ
của hoạt động giải quyết vấn đề. Đối với câu hỏi, cần cung cấp thông tin để
học sinh hiểu rõ về cái gì và trả lời chúng như thế nào
Bước 3: Lựa chọn từ hỏi thích hợp
Các từ hỏi thường là: (hãy) trình bày, giải thích, nêu, phát biểu, nhận xét…
Các từ hỏi nghi vấn: tại sao; vì sao; phải chăng; nguyên nhân nào; là gì…
Bước 4: Xây dựng câu hỏi

có vai trò quyết định đến việc đặt câu hỏi[9]
16
Sơ đồ 1.1. Hệ thống câu hỏi định hướng tư duy giải quyết vấn đề
trong dạy học vật lí [15. Tr 145]
điều đã biết hoặc từ điều giả định nào đó)
8. Đối chiếu với các kết quả thực nghiệm và
kết quả suy luận lý thuyết có thể kết luận
thế nào và tính chất? mối liên hệ?

Khi khảo sát lý thuyết
Và đối chiếu thực nghiệm
6. Có thế xác lập (rút ra) tính chất/ mối liên
hệ đó từ lí thuyết (từ điều đã biết hoặc từ
điều giả định nào đó) như thế nào?
7. Làm thế nào để có thể quan sát được/ đo
được cái gì cần cho việc kiểm tra điều này?
Và từ đó rút ra kết luận thế nào?
8. Đối chiếu các kết quả suy luận, lí thuyết
và kết quả thực nghiệm, có thể kết luận thế
nào về tính chất/ mối liên hệ?

Khi nêu ra kết luận khái quát:

9. Điễn đạt (một cách cô đọng chính xác) như thế nào điều mới xây dựng được/ điều cần huy
động để vận dụng
Khi kiểm nghiệm hoặc ứng dụng thực tế kiến thức:

1. Vì sao như thế? Có tác dụng gì? giải thích thế nào?
2. Sẽ thế nào nếu….?
3. Phải thế nào để….?
4. Làm thế nào tạo ra được… trong thực tế 17

Trích đoạn Diễn giải sơ đồ cấu trúc nội dung chương “Các định luật bảo toàn” Mục tiêu dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Hệ thống bài tập trắc nghiệm Hệ thống bài tập tự luận Xây dựng hệ thống câu hỏi định hướng tư duy và hướng dẫn học sinh giả
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status