Biên soạn Nguyễn Hoàng Bảo Ngày 12 tháng 10 năm 2005
1
Tiểu luận
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động
của nó đến các quốc gia đang phát triển
Biên soạn Nguyễn Hoàng Bảo Ngày 12 tháng 10 năm 2005
2
Biên soạn Nguyễn Hoàng Bảo Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tác động của vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài đến các quốc gia đang phát triển cho các kết
quả trái ngược nhau.
Helleiner (1989) cho rằng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
không chỉ ảnh hưởng đến tổng nguồn vốn đầu tư, mà còn ảnh
hưởng đến tốc độ thay đổi tính hiệu quả của đầu tư. Vốn đầu tư
nghiệp, không tận dụng lợi thế so sánh và tạo thế kinh tế ốc đảo).
Van Wijnbergen (1986) cho rằng FDI sẽ làm tăng tổng cầu trong nước và sẽ
làm gia tăng mức giá của hàng hóa phi mậu dịch so với hàng hóa mậu dịch.
Điều này sẽ làm tăng tỷ giá hối đoái thực
1
. Tình huống này sẽ có thể dẫn đến
mức gia tăng chi phí ở khu vực mậu dịch và hậu quả có thể đưa đến là quốc
gia này khó có thể cạnh tranh một cách hiệu quả trên thị trường khu vực và
thế giới. Mặt khác, FDI cũng có thể đưa đến một mức gia tăng nhập khẩu và
lệ thuộc vào hàng nhập khẩu
2
. Khu vực sản xuất hàng hóa để xuất khẩu có
khuynh hướng sử dụng lượng giá trị đầu vào nhập khẩu nhiều hơn so với
khu vực sản xuất hàng hóa để tiêu dùng trong nước, bởi vì khu vực này
muốn đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng quốc tế về sản phẩm.
Một số tác động tiêu cực khác có thể có của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài:
(1) sử dụng công nghệ lạc hậu và lỗi thời, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
không phù hợp; (2) trong cùng một ngành, FDI thường có lợi thế cạnh tranh
cao hơn so với các nhà đầu tư trong nước (chi phí vốn rẻ hơn, kênh phân
phối tiêu thụ sản phẩm, công nghệ hiện đại, trình độ quản lý cao) cho nên
các nhà đầu tư có thể khai thác tối đa thế lực độc quyền và tạo sự lệ thuộc
vào hàng hóa nhập khẩu; (3) FDI thường phân bố tập trung ở các đô thị lớn,
nơi tập trung những tiện ích cuộc sống, gần bến cảng, cơ sở hạ tầng tốt, gần
nguồn lao động, gần thị trường tiêu thụ (đo lường ở mức thu nhập bình quân
đầu người và mật độ dân cư), làm cách biệt rõ giữa nông thôn và thành thị,
phân hóa sâu sắc giàu nghèo và tạo sự di cư từ nông thôn đến thành thị; (4)
FDI có thể làm cho cán cân ngoại hối quốc gia thâm hụt: nhập hàng hóa
trung gian, chuyển lợi nhuận về nước, chi phí quản lý, trả tiền bản quyền tác
FDI đóng góp không nhỏ vào kinh tế Việt Nam, chẳng hạn như mở rộng
quan hệ kinh tế quốc tế, đổi mới công nghệ, xuầt khẩu, nguồn thu chính phủ
và các tác động khác. Tuy nhiên, để cải thiện môi trường đầu tư, Việt nam
cần phải tập trung vào các chính sách vĩ mô và vi mô dưới đây:
Chính sách vĩ mô
(1) Chuyển từ xuất khẩu tài nguyên thiên, sang xuất khẩu nông sản và công
nghiệp chế biến và sang xuất khẩu hàng hóa thâm dụng lao động.
(2) Xây dựng cơ sở hạ tầng và giáo dục.
Biên soạn Nguyễn Hoàng Bảo Ngày 12 tháng 10 năm 2005
5(3) Xây dựng các ngành hỗ trợ cho FDI.
(4) Xây dựng môi trường pháp lý và cơ hội kinh doanh như nhau cho các
hình thức sở hữu (nước ngoài, liên doanh, tư nhân và chính phủ).
(5) Tái cấu trúc và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
(6) Chuyển hoàn toàn sang nền kinh tế thị trường và kết hợp với những
định hướng lớn của nhà nước.
Chính sách vi mô
(1) Thật sự chống tham nhũng và buôn lậu
(2) Công khai và công bằng trong hệ thống thuế
Trong đó
Ip
t
: đầu tư tư nhân ở thời điểm hiện hành (thời gian t)
Ip
(t-1)
: đầu tư tư nhân ở thời điểm trước đó (thời gian t -1)
Ig
t
: đầu tư chính phủ ở thời điểm hiện hành (thời gian t)
C
2
: tác động ngắn hạn của đầu tư chính phủ lên đầu tư tư nhân
C
2
/(1-C
1
) : tác động dài hạn của đầu tư chính phủ lên đầu tư tư nhân
Mô hình này tính toán cho trường hợp của Thái Lan (giai đoạn 1970 – 2000)
như sau: tác động của đầu tư chính phủ lên đầu tư tư nhân trong ngắn hạn là
-0,4709 và trong dài hạn là 6,6495 (mức ý nghĩa thống kê là 0,05). Tiến trình
làm giảm (crowding out) đầu tư tư nhân trong ngắn hạn và làm tăng đầu tư
tư nhân trong dài có thể giải thích như sau: (1) một mức đầu tư công tăng lên
có thể dẫn đến sự khan hiếm nguồn tài chính trong nước, và điều này làm
giảm đầu tư tư nhân khi các khoản vay mượn của chính phủ gia tăng. Các
ngân hàng sẽ đẩy lãi suất lên cao và sẽ có sự chuyển dịch quyền sử dụng vốn
từ khu vực tư nhân sang khu vực chính phủ; (2) đầu tư của chính phủ trong
ngắn hạn, chẳng hạn như cơ sở hạ tầng và giáo dục, có thể không tác động
Khan, M.S. and C.M. Reinhart (1990) “Private Investment and Economic
Growth”, World Development, Vol. 18, No. 1, pp. 19-27.
Van Wijnbergen, S. (1986) “Macroeconomic Aspects of the Effectiveness of
Foreign Aid: The Two-gap Model, Home Goods Disequilibrium
and Real Exchange Rate Misalignment”, Journal of International
Economics, Vol. 21, pp. 123-136. Biên soạn Nguyễn Hoàng Bảo Ngày 12 tháng 10 năm 2005
9