TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH CÔNG
ĐỀ TÀI
CHI TIÊU CHÍNH PHỦ VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ Ở NIGERIA, 1970 – 2008: PHƯƠNG
PHÁP PHÂN TÍCH TỪNG PHẦN GVHD : PGS.TS. SỬ ĐÌNH THÀNH
NTH : NHÓM 8
LỚP : CAO HỌC TCDN N2, K21
THÁNG 9/2012
Tài chính công - 2 -
Tóm tắt
Bài nghiên cứu nhận thấy tăng chi tiêu chính phủ không có có ý nghĩa rõ ràng trong việc
thúc đẩy tăng trưởng khi mà Nigeria vẫn bị xếp vào nhóm các nước nghèo nhất thế giới.
Trong một nghiên cứu thực nghiệm tác động của chi tiêu chính phủ đối với tăng trưởng
đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Đồng quan điểm, những nhà nghiên cứu: [2],
[1], [3], và [4] kết luận rằng tăng chi tiêu chính phủ góp phần tích cực vào tăng trưởng
kinh tế.
Tuy nhiên, có một vài nhà nghiên cứu không đồng tình với khẳng định này và tăng chi
tiêu chính phủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thay vào đó họ lại cho rằng chi tiêu chính phủ
càng cao có thể làm suy giảm hiệu quả tổng thể của nền kinh tế. Ví dụ, để tìm cách tài trợ
cho việc tăng chi tiêu, chính phủ có thể tăng thuế và/hoặc đi vay. Thuế thu nhập càng cao
không khuyến khích cá nhân làm việc nhiều hơn hoặc thậm chí không khuyến khích cá
nhân tìm kiếm việc làm. Điều này sẽ làm giảm thu nhập và giảm tổng cầu của toàn quốc
gia. Tương tự, thuế thu nhập doanh nghiệp càng cao có khuynh hướng tăng chỉ chí sản
xuất và giảm đầu tư cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp. Ngoài ra, nếu chính phủ tăng
vay nợ (đặc biệt từ những ngân hàng) để tài trợ cho việc chi tiêu, chính phủ sẽ lấn át khu
vực tư nhân, theo đó sẽ giảm đầu tư của khu vực tư nhân. Hơn nữa, với nổ lực có được sự
ủng hộ của dân chúng và đảm bảo quyền lực, các chính trị gia và các quan chức chính phủ
đôi khi phải tăng chi tiêu và đầu tư vào những dự án không hiệu quả hay những hàng hóa
mà lẽ ra khu vực tư nhân có thể sản xuất hiệu quả hơn. Vì vậy, đôi khi chính phủ phân
phối không hợp lý sai nguồn lực và ngăn cản sự tăng trưởng của sản lượng quốc gia.
Trong thực tế, những nghiên cứu được thực hiện bởi [5], [6], [7], và [8] cho rằng chính
phủ chi tiêu nhiều có tác động nghịch biến đến tăng trưởng kinh tế.
Tại Nigeria, chi tiêu chính phủ tiếp tục tăng cao nhờ vào nguồn thu khổng lồ từ việc sản
xuất và bán dầu thô, và nhu cầu gia tăng đối với các hàng hóa công như đường sá, truyền
thông, năng lượng, giáo dục và y tế. Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều nhu cầu cung cấp
an ninh bên trong và bên ngoài cho người dân và đất nước. Các số liệu thống kê sẵn có
cho thấy tổng chi ngân sách (đầu tư và thường xuyên) đã tiếp tục tăng lên trong ba thập
kỷ qua.Ví dụ, tổng chi thường xuyên của chính phủ tăng từ 3, 819.20 triệu Naira năm
1977 đến 4, 805.20 triệu Naira vào năm 1980 và xa hơn nữa là 36, 219.60 triệu Naira vào
Tài chính công - 4 -
- 5 -
chính phủ (vào cơ sở hạ tầng) sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế cao. Trái với quan điểm này,
Mô hình phát triển theo trường phái Tân Cổ Điển tranh luận rằng chính sách tài chính của
chính phủ không có bất kỳ ảnh hưởng nào lên sự tăng trưởng sản lượng quốc gia. Tuy
nhiên, chính sách can thiệp về tài chính chính phủ được cho rằng đã cải thiện sự thất bại
điều mà do bởi sự thiếu hiệu quả của thị trường. Nghiên cứu ban đầu của [10] đã mở ra
một vấn đề mới về nghiên cứu tầm ảnh hưởng của chính sách tài chính (chi tiêu chính
phủ) lên tăng trưởng kinh tế. Cùng quan điểm này, [11], [12] và [13] nhấn mạnh rằng hoạt
động của chính phủ ảnh hưởng lên xu hướng tăng trưởng kinh tế. Tương tự như vậy, [14]
đã chỉ ra rằng trong những mô hình tăng trưởng nội sinh, chính sách tài chính rất quan
trọng trong việc dự đoán sự tăng trưởng kinh tế trong tương lai.
Nhiều nhà nghiên cứu đã nổ lực xem xét tầm ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ lên sự
tăng trưởng kinh tế. Ví dụ, [15] khi xem xét tầm ảnh hưởng chi tiêu dùng chính phủ lên
tăng trưởng kinh tế với mẫu là 96 quốc gia, đã phát hiện một sự ảnh hưởng tiêu cực của
chi tiêu chính phủ lên sự tăng trưởng của sản lượng thực. [16] dùng kiểm tra thuyết nhân
quả Granger nghiên cứu mối liên hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế ở Thái
Lan. Kết quả cho thấy rằng chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế không đồng liên kết.
Tuy nhiên, những kết quả chỉ ra một mối quan hệ chỉ theo một chiều, có sự liên hệ từ chi
tiêu của chính phủ đến tăng trưởng. Sau cùng, những kết quả mô tả một ảnh hưởng tích
cực đáng kể của chi tiêu chính phủ lên tăng trưởng kinh tế. [17] điều tra về những mối
liên hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế của nhóm 30 quốc gia OECD suốt
những năm 1970-2005. Những kết quả hồi quy chỉ ra sự tồn tại một mối quan hệ dài hạn
giữa chi tiêu chính phủ và phát triển kinh tế. Thêm vào đó, những nhà nghiên cứu quan
sát những kết quả đơn nhất từ chi tiêu chính phủ đến tăng trưởng của 16 trong 30 quốc
gia, phù hợp theo giả thiết của Keynesian. Tuy nhiên, kết quả từ tăng trưởng kinh tế đi
đến chi tiêu chính phủ thì 10 trong số 30 quốc gia, phù hợp với định luật của Wagner. Sau
cùng, những nghiên cứu đã tìm thấy sự tồn tại mối quan tác động qua lại giữa chi tiêu
chính phủ và tăng trưởng kinh tế cho một nhóm bốn quốc gia.
đoạn 1947-2002. Kết quả chỉ ra là tổng chi tiêu của chính phủ là nguyên nhân của tăng
trưởng GDP. Ngược lại, tăng trưởng GDP không là nguyên nhân tăng chi tiêu chính phủ.
Mặt khác, kết quả chỉ ra rằng chi tiêu công sẽ làm tăng sự tăng trưởng kinh tế của Mỹ.
Tài chính công - 7 -
Các tác giả kết luận rằng theo đánh giá từ kiểm định nhân quả thì giả thiết Keynesian có
ảnh hưởng hơn là luật Wagber của Mỹ. [21] áp dụng kiểm định nhân quả 3 biến để kiểm
định mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế, sử dụng bộ dữ liệu của
Hy Lạp, Anh và Ireland. Các tác giả tìm thấy rằng có quan hệ nhân quả trong quy mô của
chính phủ dẫn đến tăng trưởng kinh tế trong tất cả các nước được nghiên cứu. Kết quả
đúng cho Ireland và Anh cả trong dài hạn và ngắn hạn. Kết quả cũng chỉ ra rằng nguyên
nhân tăng trưởng kinh tế là từ chi tiêu công của Hy Lạp, Anh (có xét đến yếu tố lạm phát
trong mô hình).
[22] sử dụng dữ liệu bảng để tìm ra ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ lên tăng trưởng kinh
tế. Các tác giả áp dụng kỹ thuật GMM, và khám phá rằng những quốc gia mà có chi tiêu
chính phủ lớn có khuynh hướng tăng trưởng cao hơn, nhưng sự ảnh hưởng này khác nhau
giữa các quốc gia. Tại Ả Rập Saudi, [1] phân tích mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và
tăng trưởng kinh tế. Tác giả báo cáo rằng quy mô chính phủ rất quan trọng trong việc thực
thi kinh tế. Tác giả khuyên rằng chính phủ nên tăng chi tiêu vào cơ sở hạ tầng, xã hội và
các hoạt động kinh tế. Thêm vào đó, chính phủ nên khuyến khích và hỗ trợ khu vực tư để
đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế.[23] Nghiên cứu các tác động khác nhau dưới các hình
thức khác nhau của chi tiêu đến tăng trưởng kinh tế cho 1 mẫu của 58 quốc gia. Các kết
quả nghiên cứu của họ chỉ ra rằng chi tiêu chính phủ về giáo dục và quốc phòng có ảnh
hưởng cùng chiều đến tăng trưởng kinh tế, trong khi chi tiêu cho phúc lợi xã hội có tác
động ngược chiều không đáng kể vào tăng trưởng kinh tế.
[24]. sử dụng phương pháp phân tích riêng lẻ để điều tra tác động của chi tiêu công về
tăng trưởng kinh tế của 30 nước đang phát triển trong những thập niên 70 và 80. Tác giả
Nigeria. Kết quả định lượng chỉ ra rằng chi tiêu đầu tư thực tế của chính phủ có một ảnh
hưởng tích cực đáng kể trên sản lượng quốc gia.Tuy nhiên, kết quả cho thấy rằng chi
thường xuyên thực của chính phủ chỉ ảnh hưởng ít đến tăng trưởng.
[31] Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ dài hạn giữa chi tiêu chính phủ và
tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, tác giả thấy rằng chi thường xuyên ảnh hưởng đến sự tăng
trưởng nhiều hơn chi đầu tư.
Tài chính công - 9 -
[32] Dùng phương pháp phần tích riêng lẻ để xác định các thành phần của chi tiêu chính
phủ - thúc đẩy sự tăng trưởng và những yếu tố không thúc đẩy sự tăng trưởng ( bao gồm
vốn / đầu tư , chi thường xuyên, hành chính, dịch vụ kinh tế - xã hội và cộng đồng, giao
thông vận tải). Tác giả kết luận rằng, không có mối liên hệ quan trọng giữa hầu hết các
yếu tố của chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế ở Nigeria.
Nghiên cứu này là 1 sự cải tiến so với các nghiên cứu khác về tăng trưởng kinh tế và về
mối quan hệ của chi tiêu chính phủ ở Nigeria vì hai lý do. Thứ 1, xem xét chi tiêu chính
phủ về quốc phòng như 1 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế . Những
nghiên cứu gần đây như [32] không bao gồm yếu tố ( chi tiêu quốc phòng) trong mô hình
tăng trưởng. Thứ 2, thời gian nghiên cứu kéo dài đến năm 2007.
3. Phương pháp
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp đồng liên kết và sửa lổi sai để phân tích mối quan
hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế. Khuôn mẫu lý thuyết của nghiên cứu
này dựa trên học thuyết keynes và mô hình tăng trưởng nội sinh. Mô hình keynes cho
rằng chi tiêu chính phủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mặc dù, các mô hình tăng trưởng nội
sinh cho rằng chính phủ không đóng bất kỳ vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng,
các tác giả như [10], [11], [12] nhấn mạnh tầm quan trọng của chính sách (hoạt động) của
chính phủ trong việc tăng trưởng kinh tế. .Hơn nữa, một số tác giả tập trung vào các thành
HEA + β
7
TRACO +
β
8
FISBA + β
9
IFN + U… ………………………………………… (1)
Các biến được đo lường như sau. Tăng trưởng kinh tế là những thay đổi trong GDP thực
tế. Trong đó, GDP thực tế được tính bằng cách chia GDP theo giá thị trường hiện cho chỉ
số giá tiêu dùng (CPI). TREC được tính bằng cách lấy tổng số chi thường xuyên chi phí
chia cho chỉ số giá tiêu dùng. TCAP được được tính bằng cách lấy tổng chi phí đầu tư
chia cho chỉ số giá tiêu dùng. DEF được tính bằng cách lấy chi ngân sách cho quốc
phòng chia cho chỉ số giá tiêu dùng. AGR được được tính bằng cách lấy chi tiêu của
chính phủ cho nông nghiệp chia CPI. HEA được được tính bằng cách lấy chi tiêu chính
phủ về y tế chia cho chỉ số giá tiêu dùng. EDU được được tính bằng cách lấy chính phủ
chi tiêu cho giáo dục chia cho chỉ số giá tiêu dùng. TRACO được được tính bằng cách lấy
chi tiêu chính phủ về vận tải và truyền thông chia cho chỉ số giá tiêu dùng. FISBA là cán
cân tài khóa tổng thể, trong khi IFN là tỷ lệ lạm phát. U là sai số. Các khoản mục chi tiêu
khác nhau [9] là các khoản thanh toán cho các giao dịch trong vòng một năm (trong
trường hợp chi thường xuyên), và các khoản thanh toán cho các tài sản phi tài chính được
sử dụng trong quá trình sản xuất cho nhiều hơn một năm (trongtrường hợp của chi thường
xuyên). Vì vậy, chúng tôi giả định các khoản mục chi tiêu là chi phí thực tế. trước ước
lượng mô hình tăng trưởng ở trên, các kiểm định kinh tế lượng tiêu chuẩn như kiểm định
tính dừng và kiểm định đồng liên kết được thực hiện để tránh việc tạo ra các kết quả hồi
quy giả. Kết quả kiểm định tính dừng (nghiệm đơn vị) được hiển thị trong bảng dưới
đây:
Bảng 1: Kết quả kiểm định tính dừng ( nghiệm đơn vị ).
Bi
ến
biệt đầu tiên
TCAP -8.620840
(0.0000)
1% = -2.647120
5% = -1.952910
10% = -1.610011
Dừng ở sự khác
biệt đầu tiên
DEF -2.083667
(0.0376)
5% = -1.952473
10% = -1.610211
Dừng ở các mức
AGR -5.991573
(0.0000)
1% = -2.650145
5% = -1.953381
10% = -1.609798
Dừng ở sự khác
biệt đầu tiên
TRACO -4.461950
(0.0001)
1% = -2.644302
5% = -1.952473
10% = -1.610211
Dừng ở các mức
EDU -7.621234
(0.0000)
1% = -2.647120
5% = -1.952910
- 12 -
10% = -1.610011
Các kết quả kiểm định tính dừng (nghiệm đơn vị ) cho thấy rằng TREC, TCAP, AGR,
EDU, HEA, FISBA, và IFN dừng tại sự khác biệt đầu tiên, trong khi GRY, DEF, và
TRACO dừng ở các mức. Hơn nữa, biến sửa lổi ECM dừng ở các mức ngụ ý rằng các
biến là đồng liên kết. Cuối cùng, chúng tôi ước lượng hàm tăng trưởng ở trên. Các kết quả
hồi quy được trình bày trong bảng dưới đây:
Bảng 2: Kết quả hồi quy.
Biến phụ thuộc: GRY
Phương pháp: Bình phương bé nhất
Ngày: 03/22/10 giờ: 18:21
Mẫu (hiệu chỉnh): 1979 2007
Số quan sát: 29 sau khi điều chỉnh điểm cuối
Tài chính công - 13 -
4. Thảo luận
Các kết quả ước lượng cho thấy rằng các biến giải thích cùng chiếm khoảng 58,9% thay
đổi trong tăng trưởng kinh tế. Thống kê Durbin Watson (1.96) thể hiện rằng không có mối
tương quan tự động. Các kết quả ước lượng cho thấy các biến như -tổng chi tiêu vốn
(TCAP), tổng số chi tiêu thường xuyên (TREC), chi tiêu cho vận tải và truyền thông
xác, ngụ ý rằng tồn tại một trạng thái cân bằng hay mối quan hệ lâu dài giữa các biến.
5. Kết luận
Theo những kết quả đã được báo cáo ở phần trước, các tác giả đưa ra những đề nghị sau.
Thứ nhất, chính phủ nên bảo đảm rằng chi tiêu đầu tư và chi tiêu duy trì được quản lí một
cách đúng đắn để làm tăng quy mô sản xuất của quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, chính phủ nên tăng mức đầu tư vào giao thông và thông tin liên lạc, vì điều này
sẽ giúp giảm bớt chi phí hoạt động của doanh nghiệp cũng như tăng khả năng sinh lời của
các công ty. Thứ ba, chính phủ nên khuyến khích nền giáo dục và chăm sóc sức khỏe qua
việc tăng cường các quỹ đóng góp, cũng như bảo đảm rằng những nguồn lực được quản lí
Tài chính công - 15 -
một cách đúng đắn và được sử dụng cho sự phát triển giáo dục và các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe. Cuối cùng, chính phủ nên tăng các quỹ cho các cơ quan chống hối lộ hay tham
nhũng như Cục điều tra vi phạm về Kinh tế và tài chính (EFCC) và Cục chống tham
nhũng Độc lập (ICPC) nhằm bắt giữ và xử phạt những người đã dùng sai mục đích hoặc
biển thủ những quỹ của cộng đồng.
6. Các quan điểm mâu thuẫn
Các tác giả tuyên bố rằng họ không có quan điểm mâu thuẫn nào.
7. Những đóng góp của các tác giả
AN đã chuẩn bị cho phần giới thiệu, mô hình ước lượng và quyết định, giải thích kết quả
và đề xuất chính sách cho những kết quả đã tìm được, bao gồm những đề xuất và kết luận.
AU đã chuẩn bị cho phần cơ sở lý luận, khung lí thuyết và đã hỗ trợ cho việc phát thảo