Công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp việt nam năm 2005 trong quan hệ so sánh với công ty cổ phần theo luật thương mại nhật bản - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG
 
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:

CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM NĂM 2005 TRONG QUAN HỆ
SO SÁNH VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT
THƢƠNG MẠI NHẬT BẢN Họ và tên sinh viên : Dƣơng Thị Mến
Lớp : A14
Khoá : 41
Giáo viên hƣớng dẫn : GS. TS. Nguyễn Thị Mơ

2
MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt 04
Lời nói đầu 05
Chƣơng 1: Một số vấn đề chung về công ty cổ phần và pháp luật về công
ty cổ phần của Việt Nam và Nhật Bản 08
I/ Tổng quan về công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần 08
1.Khái niệm về công ty cổ phần 08
1.1. Nền kinh tế Việt Nam và sự hình thành, phát triển các công ty cổ phần.
08
1.2. Công ty cổ phần và đặc điểm của công ty cổ phần ở Việt Nam 15
1.3. Vị trí, vai trò của công ty cổ phần ở Việt Nam 18
2. Pháp luật về công ty cổ phần 20
2.1. Sự cần thiết phải ban hành pháp luật điều chỉnh hoạt động của công ty cổ
phần 20
2.2. Những nội dung chủ yếu của pháp luật về công ty cổ phần 21
II/ Pháp luật về công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp Việt Nam năm
2005 và theo Bộ luật thương mại Nhật Bản 22
1. Pháp luật Việt Nam về công ty cổ phần 22
1.1. Từ luật Công ty năm 1990 đến Luật Doanh nghiệp năm 2005 22
1.2. Những quy định chủ yếu về công ty cổ phần 26
2. Pháp luật về công ty cổ phần của Nhật Bản 30
2.1. Đặc điểm về luật điều chỉnh của Nhật Bản 30
2.2. Những quy định chủ yếu về công ty cổ phần 31
Chƣơng 2: Một số điểm khác biệt về công ty cổ phần theo Luật Doanh
nghiệp Việt Nam năm 2005 và Bộ luật Thƣơng mại Nhật Bản sửa đổi
năm 2002 32
I. Khác biệt về thủ tục thành lập công ty cổ phần 33
Khoá luận tốt nghiệp
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.

2. Đánh giá đúng hiệu quả thực tế của các công ty cổ phần 75
Kết luận 76
Khoá luận tốt nghiệp
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.

4
Tài liệu tham khảo 78
Phụ lục 80
Khoá luận tốt nghiệp
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.

5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNXH
Chủ nghĩa xã hội
DNNN
Doanh nghiệp Nhà nước
TBCN
Tư bản chủ nghĩa
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
Khoá luận tốt nghiệp
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.

6


7
mẻ ở nước ta nên so với pháp luật về công ty cổ phần của nhiều nước, pháp
luật về công ty cổ phần của Việt Nam vẫn còn có những hạn chế nhất định,
chưa hoàn toàn tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho loại hình doanh nghiệp này ở
Việt Nam. Vì vậy, việc học tập kinh nghiệm của các nước phát triển trong
việc xây dựng hành lang pháp lý cho công ty cổ phần hoạt động có thể được
coi là một công việc rất cần thiết.
Nhật Bản, một quốc gia cũng thuộc vùng Châu Á- Thái Bình Dương,
có một số nét tương đồng về điều kiện tự nhiên, lịch sử và xã hội với Việt
Nam nhưng lại là một trong những cường quốc kinh tế lớn nhất của thế giới.
Để đạt được sự cường thịnh của nền kinh tế Nhật Bản có sự đóng góp không
nhỏ của các công ty cổ phần. Song để loại hình công ty này có điều kiện phát
triển tất yếu phải kể đến những quy định pháp lý rõ ràng, hợp lý trong Bộ
Luật Thương mại Nhật Bản (The Commercial Code of Japan) ban hành năm
1899, điều chỉnh hoạt động của các công ty cổ phần trong hơn 100 năm qua.
Vì lẽ đó, việc xem xét, nghiên cứu và so sánh để nhận ra những điểm hay
trong bộ luật này nhằm áp dụng vào việc xây dựng luật của Việt Nam là điều
nên làm. Đặc biệt trong thời điểm Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
mới chỉ có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 thì ta càng nên nhìn nhận nó trong tương
quan với Bộ luật Thương mại Nhật Bản để tìm ra những điểm tiến bộ mà luật
của Việt Nam đã đạt được với vị thế là người đi sau cũng như những gì cần
phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung để Luật Doanh nghiệp của Việt Nam được thực
thi có hiệu quả.
Xuất phát từ những căn cứ ấy tôi đã chọn vấn đề : “Công ty cổ phần
theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 trong quan hệ so sánh với
công ty cổ phần theo Luật Thƣơng mại Nhật Bản” làm đề tài cho khoá
luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Khoá luận tốt nghiệp

Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.

9
Chương 2: Một số điểm khác biệt về công ty cổ phần theo Luật Doanh
nghiệp Việt Nam năm 2005 và Bộ luật Thương mại Nhật Bản sửa đổi năm
2002.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường thực thi các quy định về
công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005.
Khoá luận tốt nghiệp
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.

10
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ
PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CỦA VIỆT NAM VÀ
NHẬT BẢN
I/ Tổng quan về công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần
1. Khái niệm về công ty cổ phần
Nền kinh tế Việt Nam và sự hình thành, phát triển của các công ty cổ
phần
Nền kinh tế thị trường ở nhiều nước trên thế giới đã tạo điều kiện cho
sự tồn tại và phát triển của các loại hình công ty như: công ty hợp danh, công
ty giao vốn, công ty TNHH, công ty cổ phần Các công ty này đã và đang có
những đóng góp quan trọng đối với hoạt động thương mại cũng như đối với
nền kinh tế của riêng từng nước và của toàn thế giới . Trong các loại hình
công ty đó, đáng chú ý hơn cả là sự vươn lên mạnh mẽ của các công ty cổ
phần.
Công ty cổ phần đầu tiên trên thế giới ra đời vào năm 1602 là công ty
Đông Ấn của Anh quốc. Sự ra đời của loại hình công ty này xuất phát từ nhu
cầu khách quan của đời sống kinh tế xã hội. Khi mà nền kinh tế hàng hoá

kỷ trước hoặc là mới có gần đây xong đã có những đóng góp không nhỏ cho
nền kinh tế Viêt Nam. Tuy nhiên trong bài khoá luận này, tác giả xin được đề
cập sâu hơn về loại hình công ty cổ phần ra đời do cổ phần hoá DNNN-một
chủ trương lớn đã và đang dành được rất nhiều sự quan tâm của Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta trong suốt những năm vừa qua.
Quá trình cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam có thể được chia làm ba
giai đoạn chủ yếu là: giai đoạn thí điểm cổ phần hoá (1992 - 1996), giai đoạn
mở rộng thí điểm cổ phần hoá (1996 - 1998) và giai đoạn thực hiện cổ phần
hoá trên diện rộng (1998 – nay). Kết quả thực hiện cổ phần hoá các DNNN
qua các giai đoạn được thể hiện qua bảng dưới đây:

Khoá luận tốt nghiệp
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.

12 Kết quả thực hiện cổ phần hoá các DNNN qua các giai đoạn
Giai đoạn
Số lượng DNNN cổ
phần hoá
Luỹ kế cuối mỗi giai
đoạn
6/1992 – 5/1996
5
5
5/1996 – 6/1998
25
30
6/1998 – 12/1999

cái mốc để nước ta bước vào thí điểm cổ phần hoá DNNN. Tuy nhiên tốc độ
Khoá luận tốt nghiệp
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.

13
trong gần 4 năm (6/1992 – 5/1996) thực hiện thí cổ phần hoá các DNNN là
rất chậm, chỉ có 5 doanh nghiệp thực hiện thành công việc chuyển đổi này.
Hơn thế nữa, 5 doanh nghiệp này trong thực tế đều là các DNNN mới được
thành lập, có quy mô vừa và nhỏ, chủ yếu sản xuất hàng hoá và dịch vụ trong
những lĩnh vực không quan trọng.
Để khắc phục tình trạng trên, Chính phủ đã ban hành Nghị định 28/CP
ngày 7/5/1996 về việc chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty
cổ phần và Nghị định 25/CP ngày 26/3/1997 sửa đổi một số điều của Nghị
định 28/CP. Nghị định 28/CP & 25/CP đã thể hiện một bước sự thông thoáng
trong việc cổ phần hoá DNNN như vấn đề xác định mục tiêu, đối tượng,
phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá, hình thức cổ phần
hoá, chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp và người lao động. Sau khi Nghị
định 28/CP & 25/CP ra đời đã có hơn 200 doanh nghiệp ở các tỉnh, thành phố,
tổng công ty 91 đăng ký thực hiện cổ phần hoá, chiếm trên 3% tổng số
DNNN. Đến tháng 6/1998, cả nước đã chuyển được 25 DNNN thành công ty
cổ phần, cổ phần hoá bước đầu được mở rộng. Tuy nhiên trong thời kỳ này
còn tồn tại hạn chế đó là hiện tượng cổ phần hoá nội bộ- rất ít doanh nghiệp
cổ phần hoá rộng rãi ra quần chúng.
Để tiếp tục đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá trên diện rộng, ngày
29/6/1998 Chính phủ ban hành Nghị định 44/1998/NĐ-CP thay cho Nghị
định 28/CP. Theo sau đó là việc chỉ trong 06 tháng cuối năm 1998 đã có 90
DNNN được cổ phần hoá, gấp hơn 3 lần so với kết quả của thời gian trước đó.
Năm 1999 được xem là một năm bội thu của công cuộc cổ phần hoá DNNN,
đã cổ phần hoá được 250 doanh nghiệp. Như vậy sau 2 năm kể từ khi Nghị
định 44/1998/NĐ-CP ra đời đã có gần 400 doanh nghiệp cổ phần hoá trong

năm này, Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 đã được ban hành để phù
hợp với thời kì đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, luật có hiệu
lực từ ngày 1/7/2006.
Tuy nhiên, sang đến năm 2006, kế hoạch dự kiến của Ban chỉ đạo đổi
mới và phát triển doanh nghiệp đặt ra là sẽ cổ phần hoá 600 doanh nghiệp
1
Nguồn: Bài của tác giả Công Thắng-Báo Lâo động-ngày 9/3/2006.
Khoá luận tốt nghiệp
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.

15
nhưng tính đến tháng 8/2006 cả nước mới cổ phần hoá được 3060 doanh
nghiệp,
2
tức là trong 8 tháng đầu năm nay mới chỉ có hơn 120 doanh nghiệp
được cổ phần hoá, như vậy tiến độ cổ phần hoá trong năm nay có thể coi là
tương đối chậm. Tuy nhiên ta có thể hy vọng rằng sau khi luật mới ra đời
cùng với những biện pháp phù hợp của các cơ quan chức năng tiến độ này sẽ
nhanh chóng được cải thiện.
Nhìn chung sau khi hệ thống cơ chế chính sách được ban hành đầy đủ,
tiến độ cổ phần hoá của các bộ ngành, địa phương và các tổng công ty đã thực
sự có những chuyển biến mạnh mẽ. Mặc dù tiến độ này qua các năm là
không đều nhau song chúng ta cũng vui mừng khi nhận thấy một điều rằng
tốc độ chuyển đổi sang công ty cổ phần của các DNNN ngày càng được cải
thiện và hầu hết các doanh nghiệp sau khi chuyển đổi đều đứng vững và phát
triển, quy mô vốn cũng như doanh số và thu nhập của người lao động đều
tăng khá. Hơn thế nữa, Nhà nước vừa không phải mất thêm nguồn ngân sách

Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo
hình thức công ty cổ phần thì ngoài các công ty cổ phần nước ngoài trực tiếp
vào Việt Nam hoạt động còn có cả các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động
theo hình thức khác nay được chuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần.
Theo số liệu thống kê thì đến 31/12/2005 có 14 doanh nghiệp nước ngoài
được đệ trình lên Chính phủ về vấn đề chuyển đổi sang hình thức hoạt động
của công ty cổ phần, trong đó có 10 doanh nghiệp đã chính thức được hoạt
động mà nổi bật hơn cả là các công ty như công ty kinh doanh quốc tế Hoàng
Gia, công ty TNHH Austnam, công ty cổ phần hữu hạn dây và cáp điện Taya,
công ty công nghiệp TNHH Tungkuang đây đều là các doanh nghiệp làm ăn
có hiệu quả tại Việt Nam với số vốn góp đạt mức cao.
4
Hy vọng rằng với sự
hoạt động hiệu quả của các công ty này và việc các công ty cổ phần của nước
ngoài vào Việt Nam hoạt động nhiều hơn trong thời gian tới khi mà Luật
Doanh nghiệp mới với nhiều chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài
được phổ biến rộng rãi, không những sẽ thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát
triển mà còn để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho các công ty cổ
phần còn non trẻ của Việt Nam.
3
Nguồn: Bài của TS. Nguyễn Anh Dũng-Báo Nhân dân-ngày 9/10/2006.
4
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài-Bộ kế hoạch và đầu tư.

Khoá luận tốt nghiệp
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.


Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.

18
quá trình hoạt động các thành viên công ty hoàn toàn không quan tâm đến
nhân thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp của họ bởi vì đối
với loại hình công ty này tư cách thành viên công ty và các quyền của cổ đông
trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động
của công ty được quyết định trước hết bởi số lượng các cổ phiếu của công ty
mà người đó nắm giữ. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập, mang
tính tổ chức cao, có cấu trúc vốn phức tạp. Công ty cổ phần được quyền phát
hành chứng khoán ra công chúng. Với tính chất này, công ty cổ phần là hình
thức tổ chức đặc biệt năng động có thể sử dụng để huy động vốn thông qua
các giao dịch trên thị trường chứng khoán.
1.2.2. Một số đặc điểm của công ty cổ phần ở Việt Nam
 Về hội viên:
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định thì công ty cổ phần phải
có ít nhất 3 cổ đông và không quy định số cổ đông tối đa.
Điều kiện để trở thành hội viên của công ty cổ phần (Điều 13) cũng
giống các điều kiện quy định cho các loại hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên,
có điểm lưu ý là: cán bộ viên chức Nhà nước, các sĩ quan tại ngũ trong lực
lượng vũ trang nhân dân không được tham gia thành lập hoặc quản lý công ty
cổ phần. Họ chỉ có quyền mua cổ phiếu của công ty.
 Về vốn pháp định:
Luật không quy định vốn tối thiểu với công ty cổ phần.
 Về thủ tục thành lập:
Doanh nghiệp chỉ cần tiến hành đăng ký kinh doanh với cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác
của nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh. Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách
nhiệm xem xét hồ sơ đăng ký kinh doanh và cấp Giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh hoặc thông báo bằng văn bản trong đó nêu rõ lý do và các yêu cầu

Hội đồng quản trị bầu một thành viên làm Chủ tịch. Chủ tịch Hội đồng
quản trị có thể kiêm Giám đốc (Tổng giám đốc) công ty nếu điều lệ không
quy định khác. Trong trường hợp Chủ tịch hội đồng quản trị không kiêm
Khoá luận tốt nghiệp
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.

20
Giám đốc (Tổng giám đốc) công ty thì Hội đồng quản trị cử một người trong
số họ hoặc thuê người khác làm Giám đốc (Tổng giám đốc).
Một điều đáng lưu ý là trong Điều 95 Luật Doanh nghiệp Việt Nam
năm 2005 quy định là Chủ tịch hội đồng quản trị hoặc Giám đốc (Tổng giám
đốc) là người đại diện theo pháp luật của công ty được quy định tại Điều lệ
công ty.
 Giám đốc (Tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động kinh doanh
hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc
thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao.
 Ban kiểm soát của công ty cổ phần có từ 3 đến 5 thành viên trong đó ít
nhất một thành viên là kế toán viên hoặc kiểm toán viên. Ban kiểm soát bầu
một thành viên làm Trưởng ban, Trưởng ban phải là cổ đông của công ty cổ
phần . Nhiệm vụ chủ yếu của Ban kiểm soát là kiểm tra tính chính xác, trung
thực, hợp pháp trong quản lý, điều hành hoạt động của công ty.
Kiểm soát viên không thể đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị,
không được là Giám đốc (Tổng giám đốc) công ty, không thể là vợ, chồng
hoặc người thân trực thuộc hệ ba đời của các thành viên Hội đồng quản trị,
của Giám đốc (Tổng giám đốc) công ty.
 Về giải thể công ty:
Điều 157 Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 quy định doanh
nghiệp bị giải thể trong các trường hợp sau:
 Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ của công ty mà không
có quyết định gia hạn;

Vinamobile, thì đóng góp của các công ty cổ phần vào nền kinh tế quốc dân
sẽ còn tăng mạnh và nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí hàng đầu trong nền kinh
tế.
Về vai trò của công ty cổ phần ở Việt Nam, ta có thể thấy các công ty
này đóng vai trò như sau:
Khoá luận tốt nghiệp
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.

22
 Công ty cổ phần tạo ra các công ty để có thể huy động vốn nhanh chóng,
với quy mô lớn và hiệu quả cao.
 Công ty cổ phần tạo ra một cơ chế phân tán rủi ro và do đó hạn chế
những tác động tiêu cực về kinh tế xã hội khi một công ty, một doanh nghiệp
lâm vào tình trạng khó khăn, khủng hoảng đến nỗi bị tuyên bố phá sản.
 Việc ra đời của công ty cổ phần cùng với việc phát hành cổ phiếu, các
loại chứng khoán và cùng với việc mua bán chuyển nhượng chứng khoán đến
một trình độ và phạm vi nhất định sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển
của thị trường chứng khoán.
 Công ty cổ phần đảm bảo sự tham gia đông đảo của công chúng, tạo điều
kiện cho người lao động tham gia quản lý công ty một cách thực sự, sử dụng
được người quản lý tài năng.
Tuy nhiên, cùng với các vai trò nêu trên, công ty cổ phần cũng có hàng
loạt các hạn chế như chuyển rủi ro sang chủ nợ, tính dân chủ trong công ty cổ
phần thực chất chỉ mang tính hình thức, tính công khai của công ty cổ phần
không phải lúc nào cũng thích hợp với các hoạt động có tính chất “kín đáo”
trong kinh doanh, thương mại Nhưng chắc chắn rằng trong quá trình vận
hành tự bản thân các công ty cổ phần và cả những người có trách nhiệm sẽ
tìm ra các phương kế để khắc phục các hạn chế này nhằm làm cho các công ty
cổ phần có điều kiện phát triển mạnh hơn.
Nói tóm lại, công ty cổ phần ở Việt Nam đóng một vai trò khá tích cực

Để đạt được các yêu cầu như trên thì pháp luật về công ty cổ phần phải
có những nội dung chủ yếu được nêu ở dưới đây.
2.2. Những nội dung chủ yếu của pháp luật về công ty cổ phần
Hai nội dung chủ yếu mà pháp luật về công ty cổ phần cần phải có
được là như sau:
Thứ nhất, các quy định về tổ chức và hoạt động của các công ty cổ phần
bao gồm các điểm chính yếu sau: các quy định cụ thể về việc thành lập cũng
Khoá luận tốt nghiệp
Dương Thị Mến-A14-K41-ĐHNT.

24
như việc tổ chức lại, giải thể hay phá sản của doanh nghiệp; về cơ chế hoạt
động, quyền lợi, nghĩa vụ và địa vị pháp lý của các công ty cổ phần.
Thứ hai, các quy định về nhiệm vụ và quyền hạn đối với các chủ thể
quản lý Nhà nước phải bao gồm các nội dung quản lý Nhà nước đối với
doanh nghiệp cũng như quy định về quyền hạn và trách nhiệm của các cơ
quan quản lý từ cao đến thấp, từ trung ương đến địa phương, đặc biệt là các
cơ quan có quan hệ mật thiết đối với sự hình thành và hoạt động của các cônh
ty cổ phần là cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế và cơ quan thanh tra.
II/ Pháp luật về công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm
2005 và theo Bộ luật Thƣơng mại Nhật Bản
1. Pháp luật Việt Nam về công ty cổ phần
1.1. Từ Luật Công ty năm 1990 đến Luật Doanh nghiệp năm 2005
Từ khi bắt đầu hình thành và phát triển tại Viêt nam , công ty cổ phần
cũng giống như một số loại hình công ty ngoài quốc doanh khác chịu sự điều
tiết chính của ba vân bản luật được ban hành qua các năm là Luật Công ty
năm 1990, Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 1999 và Luật Doanh nghiệp
Việt Nam năm 2005. Ở phần này ta sẽ tập chung nói về qúa trình ra đời các
văn bản luật trên còn nội dung chính của từng luật sẽ được nói đến ở phần
sau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status