Trách nhiệm tài sản của công ty hợp danh và thành viên của Công
ty hợp danh nhìn từ góc độ của Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005
so với những quy định về trách nhiệm tài sản của Công ty hợp danh
và các thành viên của công ty hợp danh theo luật pháp của Pháp
A.Lời Nói Đầu
Công ty là một hiện tượng kinh tế xuất hiện và phát triển trong điều kiện kinh tế, xã hội
nhất định. Trong xã hội Cộng sản nguyên thủy, con người chưa biết đến kinh doanh nên
chưa có công ty. Chỉ đến khi nền sản xuất hàng hóa hình thành và phát triển đến một mức
độ nhất định, công ty mới có thể hình thành và phát triển. Đặc biệt là trong điều kiện nền
kinh tế thị trường hiện nay, sự cạnh tranh giữa các nhà kinh doanh diễn ra vô cùng khốc liệt
do tác động mạnh mẽ của quy luật kinh tế khách quan thì người kinh doanh phải tìm đủ mọi
cách để nâng cao năng xuất lao động, hạ giá thành sản phẩm sao cho giá trị hàng hóa cá
biệt của mình phải thấp hơn giá trị hàng hóa của mình phải thấp hơn giá trị hàng hóa hội thì
mới có lãi và mới có thể tồn tại và phát triển. Muốn nâng cao năng xuất lao động và hạ giá
thành sản phẩm thì người kinh doanh cần có nhiều vốn để đầu tư theo chiều sâu như cải
tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ công nghệ sản xuất hoặc đầu tư theo chiều rộng bằng cách
mở rộng quy mô kinh doanh, thay đổi mặt hàng hoặc lĩnh vực kinh doanh. Người có ít vốn
sẽ không có khả năng đầu tư, như vậy có thể bị thua trong cuộc cạnh tranh với người nhiều
vốn. Để có thể cạnh tranh người nhiều vốn thì những người có ít vốn buộc phải liên kết với
nhau bằng cách góp vốn để kinh doanh chung. Chính sự liên kết của các nhà kinh doanh
thông qua việc góp vốn để kinh doanhchung đã tạo một hình thức tổ chức kinh doanh mới
đó là công ty.
Có thể nói sự ra đời của công ty là một hiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường. Công
ty xuất hiện đầu tiên ở một số thành phố lớn ở Châu Âu ( cuối thế kỷ XIII). Ban đầu, nó có
hình thức rất đơn giản: những người anh em trong gia đình, bạn bè thân thiết cùng nhau
góp vốn để kinh doanh chung, đó là hình thức của công ty đối nhân. Chúng được thành lập
dựa trên độ tin cậy về nhân thân của các thành viên, việc góp vốn chỉ là thứ yếu. Đây là
hình thức công ty ra đời sớm nhất trong lịch sử kinh doanh của nhân loại. Do vậy khi nghiên
cứu về công ty người ta thường nhắc đến loại hình công ty này trước nhất – Công ty Hợp
danh. Hợp danh theo nghĩa rộng xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử. Những chỉ dẫn đầu tiên
tới hình thức này là trong Bộ luật Hammurabi của Babylon, khoảng năm 2300 trước Công
Do ảnh hưởng của pháp luật thương mại Pháp, nước ta bắt đầu có các công ty thuơng mại
và các quy định về công ty thương mại. Năm 1954, đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai
miền, miền Nam vẫn phát triển nền kinh tế thị trường nên các Công ty thương mại vẫn có
điều kiện để tồn tại và hoạt động. Trong khi dó ở miền Bắc, chúng ta xây dựng nền kinh tế
tập trung và bao cấp nên đã triệt tiêu môi trường tồn tại của Công ty hợp danh. Từ cuối
những năm 80 của thế kỷ XX, khi chúng ta tiến hành chuyển đổi nền kinh tế tập trung, bao
cấp sang nền kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh phát triển. Ngày
21/12/1990, Quốc Hội đã ban hành Luật công ty cho đến nay, Luật Doanh nghiệp năm 2005
đã quy định chi tiết, cụ thể về các loại hình công ty. Do vậy, cho đến nay, chúng ta đã có
những quy định riêng của mình về vấn đề này song vẫn không thể phủ nhận sự ảnh hưởng
của Luật thương mại Pháp.
B. Nội Dung
Theo quan niệm của các nhà luật học nước ngoài thì Công ty hợp danh là một trong hai loại
hình công ty đối nhân. Đó là công ty mà trong đó các thành viên cùng nhau tiến hành hoạt
động kinh doanh dưới một hãng chung và cùng nhau chịu trách nhiệm vô hạn về mọi nghĩa
vụ tài chính của công ty. Công ty Hợp danh được hình thành dựa trên độ tin cậy về nhân
thân của các thành viên trong gia đình hay dòng họ, các thành viên rất thân thiết với nhau.
Chỉ có những người thực thực sự tin tưởng nhau mới có thể sống chết có nhau và liên đới
chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty.
Tuy nhiên, theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 ở nước ta thì Công ty Hợp danh cần có một số
điểm cần lưu ý. Công ty Hợp danh theo pháp luật Việt Nam được quy định cụ thể tại Điều
130 Luật Doanh nghiệp 2005 được định nghĩa như sau:
1.Công ty Hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
a , Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh
dưới một tên chung( sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có
thể có thành viên góp vốn;
b , Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm vô hạn bằng tài sản của mình về
các nghĩa vụ của công ty;
c, Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ cả công ty trong phạm vi số
vốn đã góp vào công ty.
hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ
của công ty”. Thành viên hợp danh bắt buộc phải có trong công ty hợp danh và phải là cá
nhân. Ngoài những điều kiện chung mà pháp luật quy định đối với thành viên công ty, thành
viên hợp danh phải có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp. Đối với công ty kinh
doanh những ngành nghề mà pháp luật quy định phải có chứng chỉ hành nghề thì tất cả các
thành viên phải có cứng chỉ hành nghề, đối với các công ty kinh doanh các ngành nghề khác
thì các thành viên hợp danh phải là người được đào tạọ về ngành nghề đó.
Đặc biệt, thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn và trách nhiệm liên đới. Điều
này có nghĩa là: Khi tài sản cuả công ty không đủ để thanh toán các khoản nợ và các nghĩa
vụ của công ty thì thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ và các khản
nợ của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình ( bao gồm tài sản đầu tư vào kinh doanh và
tài sản dân sự). Chủ nợ có quyền yêu cầu bất kỳ thành viên hợp danh nào thanh toán toàn
bộ các khoản nợ của công ty đối với chủ nợ ( Bộ luật Thương mại Pháp, Điều 221-1). Bộ luật
ương mại Pháp còn quy định: sau 8 ngày kể từ ngày chủ nợ yêu cầu công ty thanh toán nợ
mà công ty vẫn chưa thanh toán thì chủ nợ có quyền yêu cầu các thành viên thanh toán.
Khi các thành viên nhận yêu cầu thanh toán thì không được phép từ chối và cũng không thể
yêu cầu chủ nợ phải yêu cầu công ty cũng như không thể yêu cầu chủ nợ chia yêu cầu đói
nợ cho tất cả các thành viên khác.
Khi các thành viên hợp danh đã thanh toán các khoản nợ của công ty cho chủ nợ thì có
quyền yêu cầu các viên khác thanh toán lại với mình và trong trường này các thành viên
phải hoàn trả số nợ cho người đã thanh toán theo tỷ lệ được quy định trong điều công ty,
nếu trong điều lệ công ty không quy định theo tỷ lệ đóng góp vốn vào điều lệ( Bộ luật Dân
sự Pháp, Điều 1844, Khoản 1 và Bộ luật Dân sự Việt Nam Điều 298, 299). Tuy nhiên đối với
công ty hợp danh thì việc hy động vốn từ các ngân hàng rất dễ dàng do các thành viên chịu
trách nhiệm vô hạn và liên đới nên đây là điều kiện đảm bảo chi việc thanh toán các khoản
nợ của ngân hàng, nên ngân hàng sẽ ít chịu rủi ro hơn nên họ dễ chấp nhận hợp tác hơn.
1.3 Thay đổi thành viên hợp danh trong công ty hợp danh
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 133 Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005: “ Thành viên hợp
danh không được chuyển một phần hoặc toàn bộ cổ phần vốn góp của mình tại công ty cho
người khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại”. Điều này
góp vốn thì công ty hợp danh theo pháp luật Việt Nam có điểm khác so với quy định của
pháp luật Pháp.
Trong tiếng anh công ty hợp danh còn được gọi là “ general partnership” hay “ simply
partnership” . Sở dĩ phải phân biệt điều này vì công ty hợp danh theom quy định của Luật
Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 nếu Công ty Hợp danh có hai thành viên hợp danh trở lên
mà không có thành viên góp vốn thì nó trở thành Công ty Hợp danh đúng như bản chất của
nó- đó là sự liên kết giữa các thương nhân đơn lẻ để kinh doanh dưới một tên chung và
thành viên hợpdanh phải chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới. Tuy nhiên theo quy định của
Luật Doanh nghiệp 2005 thì ngoài hai thành viên này, công ty hợp danh có thể có thành
viên góp vốn, hai loại hình thành viên này có chế độ chịu trách nhiệm khác nhau về tài sản.
Thành viên hợp danh thì chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới, thành viên góp vốn chịu trách
nhiệm hữu hạn trong số vốn góp vào công ty. Như vậy chế độ chịu trách nhiệm về tài sản
của thành viên góp vốn của công ty hợp danh giống như chế độ chịu trách nhiệm của thành
viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn. Trong các quy định của pháp luật Pháp về công ty
hợp danh không có quy đinh này, mà mô hình công ty có một thành viên hợp danh trở lên
kết hợp với thành viên góp vốn là mô hình công ty hợp vốn đơn giản. Loại hình công ty này
của Pháp có nhiều khía cạnh giống như công ty hợp vốn cổ phần của Việt Nam, nhưng vốn
của nó không được đại diện bởi những chứng khoán có thể chuyển nhượng thông thường.
Đây là những công ty ra đời trên cơ sở chuyển đổi từ công ty hợp danh để có thể kết nạp
người thừa kế hợp pháp của thành viên hợp danh đã chết làm thành viên hợp vốn do người
thừa kế này chưa thành niên( không có tư cách thương nhân nên không thể trở thành thành
viên hợp danh).
2.2 Tiếp nhận thành viên hợp danh
Theo Điều 139 Luật Doanh nghiêp 2005 thì: “ công ty hợp danh có thể tiếp nhận thêm
thành viên hợp danh hoặc thành viên góp vốn, việc tiếp nhận thành viên mới của công ty
phải được Hội đồng thành viên chấp thuận”. Tuy nhiên, có một vấn đề đặt ra trong thực tế:
Trong trường hợp công ty có hai thành viên hợp danh, không may vì một lý do nào đó mà
một thành viên hợp danh chết đi, phần vốn của thành viên này sẽ trở thành di sản thừa kế.
Nếu như người con của thành viên hợp danh chính là người thừa kế hợp pháp và muốn tham
gia vào công ty nhưng thành viên còn lại không muốn bất kỳ ai tham gia vào công ty vì
hạn thì có thể cùng nhau xây dựng công ty ở một mức độ như nhau được không? Điều này
không thể xảy ra vì theo quy định của pháp luật và thực tế, thành viên hợp danh quyết định
mọi vấn đề của công ty, thành viên góp vốn chỉ đơn thuần góp vốn mà thôi. Đồng thời
quyền lợi của thành viên góp vốn trong công ty cũng bị hạn chế do trách nhiệm mà họ chịu
là hữu hạn.
Hơn nữa, một trong những lợi thế của công ty hợp danh là các thành viên chịu trách nhiệm
hữu hạn và liên đới. Đây là điều mà khách hàng hướng tới khi đặt quan hệ làm ăn với công
ty hợp danh. Theo quy định của pháp luật thì: “ các thành viên hợp danh có quyền đại diện
theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động cuả công ty hợp danh”.
Như vậy, cùng một vấn đề nhưng cách nhìn nhận và xử lý vấn đề của pháp luật mỗi quốc
gia là khác nhau. Khi so sánh một số vấn đề của công ty Hợp danh giữa Luật thương mại
Việt Nam và Bộ luật Thương mại Pháp ta mới thấy được điểm tiến bộ và hạn chế của trong
các quy định của Luật thương mại Việt Nam về công ty Hợp danh.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về công ty hợp danh
Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã quy định khá cụ thể, rõ ràng mọi vấn đề về thành lập công
ty đến cơ cấu tổ chức, điều hành công ty, quyền và nghĩa vụ từng loại thành viên công
ty. . . . Đây được coi là một điểm tiến bộ của Luật doanh nghiệp 2005, từ đó tạo thuận lợi
cho việc tìm hiểu, nghiên cứu và giảm bớt những mâu thuẫn phát sinh trong việc hướng dẫn
và thi hành luật. Mặc dù vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự phát triển và vị thế
của từng loại hình công ty ở Việt Nam ngày càng thể hiện rõ nét và trên thực tế số lượng
công ty hợp danh là rất ít so với các loại hình công ty khác, điều này xuất phát từ nguyên
nhân khác nhau. Trước hết là do quy định của pháp luật có một số bất cập chưa phù hợp với
thực tiễn, sau đây em xin đưa ra một số kiến nghị như sau:
Thứ nhất: Luật Doanh nghiệp nên phân chia rõ hai loại hình công ty hợp danh. Bởi với việc
quy định “hai trong một” như hiện nay dễ dẫn đến một điều không hợp lí là: cùng là công ty
hợp danh nhưng lại có công ty hợp danh chỉ có một loại thành viên chịu trách nhiệm vô hạn
và có công ty hợp danh lại có hai loại thành viên: thành viên chịu trách nhiệm vô hạn và
thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn. Mặt khác, nếu trong công ty hợp danh vừa có thành
viên chịu trách nhiệm vô hạn và thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn thì khách hàng phải
biết rõ thành viên nào chịu trách nhiệm hữu hạn, thành viên nào chịu trách nhiệm vô hạn