Hệ thống tương tác trực tuyến – giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học theo hướng hệ thống tín chỉ - Pdf 30

HỆ THỐNG TƢƠNG TÁC TRỰC TUYẾN – GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
Đỗ Hoàng Ánh
1Hệ thống tương tác trực tuyến (HTTTTT ) trong giáo dục đào tạo là một
mạng máy tính tập hợp các nhu liệu số đa phương tiện được thiết kế để kết hợp được
với những phần cứng, phần mềm máy tính tương ứng tạo nên một chỉnh thể thống
nhất có khả năng tương tác với những hoạt động của người dạy, người học, qua đó
giúp gia tăng hiệu quả phương pháp sự phạm tương tác, nâng cao chất lượng giáo
dục. HTTTTT là kết quả của việc sự ứng dụng và phát triển những thành tựu của
công nghệ thông tin và truyền thông vào lĩnh vực đào tạo, khai thác những điểm
mạnh của hệ thống tín chỉ để nâng cao chất lượng đào tạo. Bài nghiên cứu phân tích
các cơ sở khoa học, khái niệm, nội dung, đặc điểm, tác động của hệ thống tương tác
trực tuyến (HTTTTT) tới việc nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt với hoạt động
giảng dạy của giảng viên, học tập của sinh viên trong hệ thống đào tạo theo tín chỉ
bậc đại học.

1. Đặt vấn đề
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin – truyền
thông (CNTT-TT) và xu thế toàn cầu hóa kinh tế đang chi phối sự phát triển của nhân loại. Đây là
những tác động phổ biến, đòi hỏi các quốc gia - dân tộc phải mở cửa, hội nhập để phát triển. Trong
bối cảnh đó, vấn đề đổi mới theo hướng hiện đại hóa, ứng dụng và phát triển có hiệu quả những thành
tựu của công nghệ thông tin vào lĩnh vực giáo dục - đào tạo đã và đang đặt ra những yêu cầu cấp
bách, đặc biệt khi Việt Nam đang xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang đào tạo theo hệ thống
tín chỉ. Việc chuyển từ đào tạo đại học theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ thực sự là cuộc đổi mới
lớn trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, không phải chỉ đơn thuần là đổi mới về phương pháp
dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá mà gồm cả tư tưởng, tổ chức, quản lý giáo dục- đào tạo.
Cùng với sự thay đổi hình thức đào tạo, các lĩnh vực, các khía cạnh khác của giáo dục đại học cũng
phải tạo lập các đặc điểm phù hợp, trong đó đặc biệt phải kể đến phương pháp và các hệ thống hỗ trợ

việc ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục đã được Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục -
Đào tạo đặc biệt quan tâm
2
.
Thực tế hiện nay cho thấy, hiện phần lớn các cơ sở đào tạo trong nước khi chuyển sang đào tạo
theo học chế tín chỉ mới chỉ chú trọng tin học hóa hoạt động quản lý như công tác tuyển sinh, giáo
vụ, hành chính - tài vụ.v.v. Phần lớn các hệ thống này đều được phát triển cục bộ và rất khó dùng
chung được dữ liệu với nhau. Mặt khác, các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông
phục vụ cho đối tượng đông đảo và quan trọng nhất trong các trường là giảng viên và sinh viên, đặc
biệt là các hệ thống phục vụ trực tiếp cho tự học, giảng dạy và nghiên cứu khoa học còn rất thiếu hoặc
chưa được đầu tư đúng mức.
Học tập là quá trình nhận thức tích cực, chủ động “khai phá dữ liệu” của học viên [5], cho nên rất
cần tạo môi trường tương tác, hỗ trợ thuận lợi, hấp dẫn sinh viên làm việc và rồi nhận được kết quả từ
đó [4]. Giáo dục đại học Việt Nam hiện nay đang phát triển mạnh mẽ về số lượng, tuy nhiên còn cần
nỗ lực nhiều để nâng cao chất lượng. Dạy và học chủ động, tích cực hóa quá trình nhận thức của sinh

2
Chỉ thị số 58 của Bộ Chính trị, ký ngày 17/10/2000, về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nêu rõ: "Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công
tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho
nhu cầu học tập của toàn xã hội. Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo,
kết nối Intemet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo"; Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của
Bộ trưởng Bộ GDĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục
giai đoạn 2008-2012; Quyết định 698/QĐ-TTg ngày 1/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế
hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.v.v.
Xem thêm: Vũ Quang Hiển, Đỗ Hoàng Ánh (2008): “Quan điểm của Đảng về ứng dụng và phát triển công
nghệ thông tin trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 11(216), tr.52-58.

viên đang được đề cập đến như là một phương pháp để nâng cao chất lượng. Không tích cực hoá quá
trình nhận thức không thể đào tạo nên đội ngũ chuyên gia năng động, sáng tạo, có năng lực nhận thức,

viên với sinh viên.
2.2. Khái niệm HTTTTT
Mô hình dạy – học tương tác cho ta thấy có 3 nhân tố: người dạy, người học và tương tác. Đây có
thể coi là 3 đỉnh của tam giác dạy học. Giữa ba đỉnh của tam giác dạy học đó có mối quan hệ hai
chiều, đồng thời, khi các tri thức cụ thể được xây dựng thành một hệ thống (hệ thống tương tác) sẽ tạo
ra khả năng tương tác độc lập theo 2 hướng: người học - hệ thống tương tác và người dạy - hệ thống

3
Xem thêm Nguyễn Ngọc Bích, Tôn Quang Cường, Phạm Kim Chung: Phương pháp và công nghệ dạy, Hà
Nội, 2007, ww.eduf.vnu.edu.vn/elearning về đặc điểm tâm sinh lý trong việc việc thu nhận trí thức. Ngoài ra,
trung tâm thực nghiệm về đào tạo quốc gia, Đại học Manie (Mỹ) cũng đã công bố các nấc thang “hình tháp”
mức độ tiếp thu trong học tập, trong đó khi có sự kết hợp tất cả các giác quan và có sự tương tác tri thức sẽ cho
hiệu quả cao nhất: Thảo luận nhóm (Discussion group) 50%; - Làm bài ở nhà, ghi lại, viết lại (Practice by
doing) 75%; Dạy người khác (Teach others/immediate use of learning) 90%.
tương tác, qua đó tăng hiệu quả song hành trong dạy và học. Dễ thấy tính chủ động của người dạy và
người học, khả năng tạo ra môi trường tương tác của hệ thống tương tác là một trong những yếu tố giữ
vai trò quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả giáo dục đào tạo. Do đó, việc xây dựng được một hệ
thống có tính tương tác cao có ý nghĩa lớn với việc nâng cao chất lượng của hoạt động dạy và học.
Cùng với sự xuất hiện mạng máy tính khái niệm trực tuyến (online) ra đời. Hiện nay, tùy vào mục
đích sử dụng mà có những cách hiểu khác nhau xoanh quanh thuật ngữ trực tuyến [3]. Ở trong
nghiên cứu này, trực tuyến là thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng các chủ thể thông tin đã được kích hoạt,
sẵn sàng trao đổi, xử lý thông tin thông qua các thiết bị phần cứng và phần mềm qua mạng nội bộ
(LAN - Local Area Network) hay mạng toàn cầu (Internet). Chỉ cần có máy tính nối mạng hoạt động,
người dùng có thể trực tuyến để liên lạc, trao đổi thông tin với nhau mà không bị phụ thuộc hoàn toàn
về thời gian không gian mang tính tập trung, mối liên hệ phẳng được hình thành qua mạng trong “thế
giới phẳng” [10].
Tương tác trực tuyến trong giáo dục là hoạt động thông qua môi trường mạng để tạo nên sự tương
tác của 3 yếu tố: người dạy, người học và tri thức. Tương tác trực tuyến với những thế mạnh về công
nghệ thông tin và truyền thông tạo ra khả năng tương tác trực tuyến đa phương tiện. Truyền thông
được hiểu là các phương tiện để giao tiếp giữa con người với nhau như tiếng nói, đồ họa, điệu bộ,

Thành tố cấu thành nên HTTTTT gồm 2 yếu tố: mạng máy tính và nội dung số. Do vậy, hệ thống
này có sự kết hợp chặt chẽ của phần mềm và phần cứng máy tính để tạo ra một chỉnh thể thống nhất.
Nó mang những đặc điểm của một mạng máy tính và của thông tin đã số hóa. Mạng máy tính phải có
khả năng trực tuyến, cho phép người dùng tương tác với các nội dung số và kết nối với nhau bằng
những phân hệ chức năng như trao đổi nhanh, diễn đàn, tin nhắn v.v… Nội dung số bao gồm các
nguồn nội dung đa phương tiện như âm thanh, đồ họa, hoạt họa, mô phỏng, văn bản v.v. Nội dung số
trong hệ thống này được thiết kế để tạo ra tính tương tác cao, mô phỏng các hoạt động khác nhau của
quá trình giảng dạy. Phần nội dung số có thể bao gồm các tư liệu chuyên biệt trong lĩnh vực giáo dục
như các đoạn phim giảng viên giảng bài, phim tư liệu minh họa cho bài giảng, các đoạn phim mô
phỏng, giáo trình - bài giảng đã được số hóa, các bài tập củng cố kiến thức (trắc nghiệm, các câu hỏi
củng cố v.v ), các tư liệu mở rộng, các nhu liệu tham khảo khác v.v Những thành phần trong nội
dung số thuộc một nhóm theo những tiêu chí cho trước phải có tính định hướng nội dung, phải có khả
năng hỗ trợ lẫn nhau trong việc nâng cao hiệu quả nhận thức, sáng tạo của người học, chất lượng của
người giảng dạy.
HTTTTT gồm nhiều phân hệ chức năng khác nhau để gia tăng tính tương tác, nâng cao khả năng
sử dụng các nội dung số chuyên biệt trong việc tăng hiệu quả tích lũy, khám phá tri thức của người
học, việc cung cấp và định hướng tri thức của người dạy. Những phân hệ chức năng chính là: bài học,
bài tập, đánh giá, nhật ký tương tác, hội thảo học tập, nhóm học tập, diễn đàn, nhắn tin nhanh, trao đổi
thông tin đa phương tiện, từ điển thuật ngữ… Tất cả các phân hệ chức năng này đều hướng tới việc
tạo ra khả năng tương tác của các yếu tố người học, người dạy, nội dung trong HTTTTT.
Với hệ thống này, tính tương tác đa chiều, đa không gian được hình thành. Tính tương tác không
chỉ mang các thuộc tính vật lý mà còn bao gồm cả các yếu tố tâm lý. Tương tác không chỉ bao gói gọn
trong quá trình hỏi/đáp, nêu và giải quyết vấn đề ở lớp mà còn hiện diện trong cả quá trình tư duy của
người học. Thông thường, có ba chiều tương tác của quá trình dạy-học là: giao tiếp giữa người học-
nội dung bài giảng; giao tiếp giữa thầy giáo - học trò và giao tiếp giữa người học - người học.
HTTTTT không phủ định bất cứ loại hình nào trong các loại hình kể trên, ngược lại các phân hệ chức
năng, các tư liệu tương tác đa phương tiện truyền thông còn khuyến khích người học có cơ hội nâng
cao chất lượng tương tác so với các phương pháp tương tác truyền thống, trong đó nhấn mạnh đến sự
tương tác chủ động có tính tổ hợp của 3 nhân tố: người dạy, người học, hệ thống tương tác trực
tuyến

lý và người học.
HTTTTT phục vụ hoạt động giáo dục - đào tạo nhưng không phải là hệ thống đào tạo trực tuyến,
mặc dù có những điểm chung và kế thừa tính mềm dẻo của đào tạo trực tuyến trong việc lựa chọn cơ
hội học tập cho người học [8]. Hệ thống này chỉ tạo ra môi trường tương tác hỗ trợ học tập và giảng
dạy chứ không phải là một chương trình đào tạo để có những công nhận kết quả đánh giá tương tác có
tính pháp lý. Tuy vậy với những đặc điểm của mình nó cũng là cơ sở cho hệ thống đào tạo trực tuyến.
Như vậy, HTTTTT là một phương pháp hiệu quả và khả thi, tận dụng tối đa những tiến bộ của
khoa học và công nghệ, thông qua mạng (mạng nội bộ và mạng toàn cầu) để truyền tải các kiến thức
và kỹ năng đến những người học, người dạy là cá nhân hoặc tổ chức ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, tại
bất kỳ thời điểm nào và thúc đẩy người học tiềm năng tham gia vào giáo dục đại học. Với các phân hệ
chức năng phong phú, cộng đồng tương tác trực tuyến đông đảo, có thể kết hợp tốt song song với các
hình thức tuyền thống khác, hệ thống này giúp mọi người mở rộng cơ hội học tập, khám phá và tự đào
tạo cho mình những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho cuộc sống, công việc sau này.
Ngoài những điều nói trên, chúng ta còn thấy rằng việc xây dựng và vận hành một HTTTTT
không chỉ là sự tiếp nhận và phát triển của một hệ thống cụ thể mà đó phải được hiểu là sự tiếp nhận
và phát triển một quy trình làm việc mới, cách tư duy mới về giáo dục - đào tạo và những thành tựu
thích hợp mới nhất của khoa học - công nghệ. Nhân loại đang bước vào một thời đại kinh tế mới, đó
là thời đại mà thông tin, trí tuệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thời đại của nền kinh tế tri thức,
thời đại của xã hội thông tin. Khác với loại hình kinh tế trước đây lấy công nghiệp truyền thống làm
nền tảng sản xuất, lấy nguồn tài nguyên thiên nhiên thiếu thốn và ít ỏi làm chỗ dựa để phát triển sản
xuất, kinh tế thông tin lấy công nghệ cao làm lực lượng sản xuất, lấy trí lực - nguồn tài nguyên vô tận
làm chỗ dựa chủ yếu, lấy công nghệ thông tin - truyền thông làm nền tảng phát triển. Trong kinh tế
thông tin, năng lực cạnh tranh, hiệu quả lao động phụ thuộc chủ yếu vào năng lực thu thập, lưu trữ, xử
lý và trao đổi thông tin. HTTTTT tạo ra môi trường tương tác thông tin giúp người học, người dạy
phát triển năng lực này.
2.4. Tương lai hoạt động dạy học có sự hỗ trợ của HTTTTT
Với những thế mạnh của mình, HTTTTT sẽ làm giáo dục có những chuyển biến mạnh theo
hướng tích cực:
Tương tác đa phương tiện được sử dụng phổ biến: với đặc tính linh hoạt, dễ triển khai, và hiệu
quả cao với hoạt động dạy và học, tương tác đa phương tiện ngày càng được nhiều cơ sở đào tạo sử

của mình. Cũng qua trao đổi mới nắm được học viên như nào. Cùng lúc có thể đánh giá được nhiều
học viên, nâng cao công tác quản lý lớp học trong giảng dạy, từ đó có những hoạt động hỗ trợ, điều
chỉnh cho phù hợp. Ngoài ra, chính qua tương tác, hỏi/đáp này dần dần sẽ hình thành một tư liệu quan
trọng cho các hoạt động của giảng viên.
Như vậy với tính tương tác phù hợp cao hệ thống này đáp ứng việc coi trọng những kiến thức, kỹ
năng, thái độ và niềm tin mà người học mang vào lớp. Phần kiến thức mà sinh viên thu nhận được vì
vậy không chỉ là kiến thức một ngành học cụ thể trong một môi trường tiện nghi, mà còn là toàn bộ
hành trang kiến thức nền tảng và kỹ năng mềm giúp họ hòa nhập cuộc sống dễ dàng và thành đạt. Đây
chính là phát triển mô hình hướng tới sự hài hòa giữa người học với người dạy.
Kích thích tinh thần say mê học tập, nâng cao kỹ năng tự đào tạo bản thân, kỹ năng mềm của
người học: Ta biết rằng con người có năng lực tri thức không phải là con người được nhồi nhét nhiều
tri thức một cách thụ động, mà phải là người biết chủ động tiếp thu tri thức qua việc học, biến tri thức
học được thành tri thức của mình, biết cách tự mình tìm kiếm những tri thức mà mình muốn có, và rồi
từ đó có khả năng vận dụng những tri thức đã biết để tạo ra tri thức mới cần cho cuộc sống và hoạt
động của mình. Yêu cầu có một năng lực tri thức như vậy đang trở thành phổ biến đối với mỗi con
người trong xã hội tri thức thế kỷ XX. Và chính để có năng lực tri thức đó mà việc học sẽ chủ yếu
phải là tự học, học liên tục và học suốt đời. Nền giáo dục của một quốc gia trong tương lai phải xem
việc tổ chức hệ thống học cho toàn xã hội, với các hình thức hỗ trợ việc tự học, học liên tục, học suốt
đời cho mọi công dân là một nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của mình. Hệ thống đào tạo trực
tuyến nói chung và hệ thống tương tác trực tuyến nói riêng phục vụ đắc lực cho quá trình hình thành
kỹ năng quan trọng này. HTTTTT hướng học tập giống với môi trường xã hội thực tế mà trong đó
sinh viên sẽ thực sự áp dụng các kỹ năng đã học được của mình. Hệ thống này có thể tạo ra sự tiến bộ
của một học viên phù hợp với tốc độ của họ trong tương quan với phương hướng và mục đích đào tạo.
Nhờ đó, nó tạo ra và duy trì niềm say mê học tập trong người học. Trong niềm say mê học tập này,
người học sẽ làm tăng thêm sự tích lũy kiến thức và hiểu biết của mình. HTTTTT mô phỏng được môi
trường thực tế cho phép sinh viên có thể thấy được sự liên quan giữa cái họ đang nghiên cứu với xã
hội, nhờ vậy, làm tăng khả năng hòa nhập vào thực tế.
Cơ sở để hình thành, hỗ trợ những hệ thống đào tạo trực tuyến có tính pháp lý: HTTTTT mới chỉ
dừng ở mức độ tham gia hỗ trợ cho quá trình giáo dục. Nhiều cơ sở đào tạo ở nước ta đã áp dụng hình
thức đào tạo trực tuyến, nhưng thuật ngữ “đào tạo trực tuyến” ở đây mới chỉ mang nghĩa là bổ trợ kiến

Thông tin KHKT & Kinh tế bưu điện, (Số 7), tr.54, 2008.
10. Thomas L. Friedman, Thế giới phẳng. Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI, NXB Trẻ, 2006.
11. Ngô Hữu Tình, “Dạy học không giáp mặt – xu hướng cần phát triển trong xã hội học tập hiện
đại”, Tạp chí Giáo dục, Số 132, kỳ 2-2/2006, tr19, 2006.
12. UN Development Programme Viet Nam, Achieving MDGs through ICT: Experiences and
Challenges in Viet Nam, Hanoi, 2003.

INTERACTIVE ONLINE SYSTEM - A SOLUTION TO IMPROVE CREDIT - BASED
HIGHER EDUCATION QUALITY
Do Hoang Anh
Abstract
An interactive online system in education and training is a computer system which assembles
multimedia learning resources and is designed to connect compatible computer hardware and software
in order to establish a consistent entity which can interact with teaching and learning activities. This
results in the improvement in interactive pedagogy and education quality. The interactive online
system is the application and development of information and communication technology (ICT) in
education and training; it enhances the advantages of the credit system and, thus, improves the quality
of education and training. This study analyzed the scientific bases, concepts, contents, features, and
impacts of the interactive online system on promoting education and training quality, especially, on
the teaching and learning activities in the credit system at tertiary level.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status