Dạy học môn toán lớp 1, lớp 2, lớp 3 ở trường tiểu học mê linh, huyện mê linh, thành phố hà nội và những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học (LV01272) - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 NGUYỄN THU HƯỜNG DẠY - HỌC MÔN TOÁN LỚP 1, LỚP 2, LỚP 3
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC MÊ LINH, HUYỆN MÊ LINH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TIỂU HỌC

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC HÀ NỘI, 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 NGUYỄN THU HƯỜNG

DẠY - HỌC MÔN TOÁN LỚP 1, LỚP 2, LỚP 3
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC MÊ LINH, HUYỆN MÊ LINH,
Nguyễn Thu Hường

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là luận văn do tôi nghiên cứu số liệu kết quả
nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài
khác.Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.

Tác giả Nguyễn Thu Hường
1.5. Một số kỹ năng và yêu cầu dạy học Toán ở Tiểu học 21
1.5.1. Kỹ năng dạy học Toán ở Tiểu học 22
1.5.2. Yêu cầu chuẩn kiến thức và kỹ năng đối với giáo viên Tiểu học
trong dạy học môn Toán. 24
1.6. Mối quan hệ giữa thầy và trò, giữa gia đình, nhà trường, xã hội trong
dạy học môn Toán ở Tiểu học 29
1.6.1. Mối quan hệ giữa thầy và trò 29
1.6.2. Nhà trường 30
1.6.3. Gia đình 31
1.6.4. Xã hội 32
Kết luận chương 1 33
Chương 2. THỰC TRẠNG DẠY- HỌC MÔN TOÁN LỚP 1, LỚP 2, LỚP 3
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC MÊ LINH HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ
NỘI 34
2.1. Khái quát về thực trạng dạy - học môn Toán lớp 1, 2, 3 ở trường Tiểu
học Mê Linh 34
2.1.1 Về công tác quản lý của nhà trường 34
2.1.2. Về đội ngũ giáo viên 37
2.1.3. Về học sinh các lớp 1, lớp 2, lớp 3 38
2.1.4. Về sự quan tâm của xã hội và phụ huynh đối với việc học tập của
con em mình 38
2.1.5. Về sự chỉ đạo của các cấp quản lý của xã hội có liên quan đến chất
lượng môn Toán 39
2.1.6. Về cơ sở vật chất 40
2.2. Nhân xét tổng quát về chất lượng dạy - học môn Toán lớp 1, lớp 2, lớp
3 trường Tiểu học Mê Linh 42
2.2.1. Chất lượng dạy học của giáo viên 42
2.2.2. Chất lượng học tập của học sinh 45
2.3. Kinh nghiệm dạy học môn Toán lớp 1, lớp 2, lớp 3 ở một số trường
Tiểu học 49

có trình độ, năng lực, phẩm chất tốt mới có thể làm chủ mọi lĩnh vực, thực
hiện tốt các mục tiêu của quốc gia và đóng góp cho cộng đồng Quốc tế.
Giáo dục và Đào tạo là yếu tố tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo
nguồn nhân lực. Chất lượng Giáo dục Đào tạo tốt sẽ tạo được nguồn nhân lực
cao cho đất nước. Nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo chính là mục tiêu
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội.
Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập,
việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội đã trở thành nhiệm vụ
trọng tâm, Giáo dục Đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu. Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định việc đổi mới căn bản và toàn
diện Giáo dục Việt Nam, tập trung thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, phát
triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đặc biệt là nâng cao chất lượng
Giáo dục.
Trong hệ thống Giáo dục quốc dân, Tiểu học là bậc học có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng vì nó là bậc học nền tảng cơ bản nhất tác động đến toàn xã
hội.
2
Dạy học Toán ở Tiểu học hiện nay là một vấn đề có rất nhiều điều đáng
quan tâm. Học sinh lớp 1, lớp 2 , lớp 3 là lứa tuổi học sinh đầu cấp khi mà các
em mới chuyển từ hoạt động vui chơi là chủ yếu sang hoạt động học tập nên
gặp không ít những khó khăn trong việc dạy hoc. Chính từ thực trạng đó của
hoạt động dạy- học nói chung, học Toán ở trường Tiểu học nói riêng đồng
thời cũng là để phù hợp với xu thế chung của thời đại đã dẫn đến nhu cầu đổi
mới phương pháp nói chung và đổi mới phương pháp dạy học môn Toán nói
riêng. Từ đó yêu cầu giáo viên phải tổ chức được các hoạt động và thông qua
hoạt động để hình thành củng cố kiến thức. Trước khi dạy giáo viên cần dự
kiến các hoạt động chủ yếu của học sinh, dự đoán quan sát, giải toán, tranh
luận vấn đề đặt ra. Giáo viên phải suy nghĩ diễn biến của hoạt động thấy trước
những khó khăn của học sinh.
Với yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học nói chung, dạy Toán nói

6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
- Nghiên cứu thực trạng của việc dạy và học Toán ở trường Tiểu học.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng Giáo dục
Tiểu học.
7. Dự kiến đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về việc dạy học môn Toán ở
trường Tiểu học.
- Đề xuất được một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng Giáo
dục Toán ở Tiểu học.
4
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của việc dạy – học môn Toán ở Tiểu học
Chương 2. Thực trạng dạy – học môn Toán lớp 1, lớp 2, lớp 3 ở trường
Tiểu học Mê Linh, Huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội.
Chương 3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng Giáo dục
Tiểu học
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY – HỌC MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC

đắn ở người học mà còn góp phần phát triển tính tích cực và tổ chức các hoạt
động học tập của học sinh ( [28],12).
Dạy là hoạt động của giáo viên, không chỉ là hoạt động truyền thụ cho
học sinh những nội dung đáp ứng được các mục tiêu đề ra, mà còn hơn nữa là
hoạt động giúp đỡ chỉ đạo và hướng dẫn học sinh trong quá trình lĩnh hội. Chỉ
khi nào nắm bắt được các điều kiện bên trong (hiểu biết, hứng thú, năng
lực ) của học sinh thì giáo viên mới đưa ra được những tác động sư phạm
phù hợp để hoạt động học đạt được kết quả mong muốn.
Tóm lại dạy được hiểu là một hình thức đặc biệt của Giáo dục, xem như
là một trường hợp riêng của Giáo dục. Dạy là con đường đặc biệt quan trọng
trong mối quan hệ biện chứng và phối hợp với các con đường, các hoạt động
khác trong quá trình Giáo dục để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của
Giáo dục đặt ra.

1.1.2. Khái niệm về học
Trong cuộc sống đời thường con người luôn luôn có quá trình tích tiếp
thu, tích luỹ những kinh nghiệm sống, trên cơ sở đó tạo nên những tri thức
tiền khoa học, làm cơ sở tiếp thu những khái niệm khoa học ở trong nhà
trường. Đó chính là việc học, là cách học theo phương pháp của cuộc sống
thường ngày … Trên thực tế, chỉ có phương thức đặc thù( phương thức nhà
trường) mới có khả năng tổ chức để cá nhân tiến hành hoạt động đặc biệt đó
là hoạt động học, qua đó hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học, năng
lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn; và trong tâm lý học sư phạm, hoạt
7
động học là khái niệm chính được dùng để chỉ hoạt động học diễn theo
phương thức đặc thù, nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.
Học là quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách
chọn nhập và xử lí thông tin từ môi trường xung quanh. Học theo nghĩa rộng
nhất, được hiểu là quá trình cơ bản của sự phát triển nhân cách trong hoạt động
của con người, là sự lĩnh hội những “ sức mạnh bản chất người” đã được đối

lứa tuổi này.
Tóm lại hoạt động dạy – học bao gồm hai mặt của quá trình đó là dạy và
học luôn đi kèm biện chứng với nhau. Hoạt động dạy – học có các đặc trưng sau
đây:
- Thể hiện vai trò chủ đạo của giáo viên.
- Là một hoạt động có mục đích rõ ràng.
- Có nội dung, chương trình kế hoạch cụ thể.
- Diễn ra trong một môi trường nhất định (lớp học, phòng thực hành,
phòng thí nghiệm ).
- Sử dụng các phương tiện đa dạng (ngôn ngữ, thiết bị, tài liệu).
- Đa dạng về hoạt động: nhận thức, trí tuệ, vận động, thao tác,
- Kết quả hoạt động dạy – học được đánh giá thông qua kết quả hoạt
động học( [28],13).
1.2. Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học
Ở học sinh Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 1, lớp 2, lớp 3 diễn ra một
sự phát triển toàn diện về các quá trình nhận thức. Đặc điểm nhận thức của
học sinh Tiểu học ở các lớp đầu cấp là năng lực phân tích, tổng hợp chưa phát
triển, tri giác thường dựa vào hình thức bên ngoài gắn với hành động, vật thật.
9
Nhận thức chủ yếu dựa vào cái quan sát được, chưa biết phân tích để nhận ra
thuộc tính đặc trưng bên trong. Cụ thể như sau:
1.2.1. Về tri giác
Tri giác là quá trình nhận thức tâm lý, phản ánh một cách chọn vẹn các
thuộc tính, hình ảnh của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động
vào giác quan ( [1] ).
Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chi
tiết và không chủ định, do đó các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính
xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn. Đến những năm học sau tri giác bắt
đầu mang tính xúc cảm, học sinh thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu
sắc sặc sỡ, hấp dẫn, tri giác của học sinh đã mang tính mục đích, có phương

giọng điệu vì nó góp phần quan trọng trong việc hình thành độ bền vững của
chú ý cho học sinh.
1.2.3. Về trí nhớ
Trí nhớ có nghĩa là ghi nhớ, cũng là quá trình ghi lại những kí ức hoặc
sự vật đã xảy ra trong não. Đặc điểm trí nhớ của trẻ tiểu học được chia thành
hai giai đoạn:
Thời gian đầu học sinh đi học tiểu học (lớp 1 và 2), khả năng ghi nhớ
còn rất máy móc. Học sinh thường ghi nhớ bằng cách khôi phục nguyên văn
các sự kiện của tài liệu. Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý
nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát
hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu. Đến giữa lớp 1 và sang lớp 2, đa
số học sinh đã biết ghi nhớ dựa trên cơ sở hiểu nghĩa (ghi nhớ ý nghĩa); biết
phân chia tài liệu thành từng ý.
11
Có hai loại trí nhớ: trí nhớ không chủ định, trí nhớ có chủ định. Ở học
sinh Tiểu học, cả hai loại trí nhớ đều đang phát triển. Tuy nhiên, lứa tuổi này,
trí nhớ không chủ định vẫn chiếm ưu thế.
Giai đoạn lớp 1, lớp 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và
chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh chưa biết tổ chức
việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết
cách khái quát hóa hay xây dựng cách để ghi nhớ tài liệu. Càng về những lớp
sau, trí nhớ có chủ định phát triển mạnh hơn, học sinh đã bước đầu biết cách
ghi nhớ, phân biệt tài liệu, dùng hình vẽ, sơ đồ tóm tắt bài toán để hỗ trợ cho
việc ghi nhớ.
Nắm được điều này, giáo viên phải giúp học sinh phải biết khái quát
hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng
cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ, phải đơn giản
dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt hình thành ở các em tâm lý hứng thú
và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.
1.2.4. Về tư duy

trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn.
Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền
vững và dễ thay đổi.
Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những
hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương
đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng
sáng tạo Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối
13
mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều
gắn liền với các rung động tình cảm của các em.
Qua đây, giáo viên phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của học sinh
bằng cách biến các kiến thức “ khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc,
đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các
hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình
nhận thức lí tính của mình một cách toàn diện.
1.3. Năng lực học Toán của học sinh Tiểu học
Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học ở các lớp đầu Tiểu học là
năng lực phân tích, tổng hợp, chưa phát triển, tri giác thường dựa vào hình
dạng bên ngoài, gắn với hành động vật thật, nhận thức chủ yếu dựa vào cái
quan sát được, chưa biết phân tích để nhận ra thuộc tính đặc trưng nên khó
phân biệt khi có thay đổi.
Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu
trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm/củng cố qua kinh
nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí (John Erpenbeck1998).
Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực
hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể”(OECD, 2002).
Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay
có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Năng lực
cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách

Do đó việc nhận thức các khái niệm Toán học nói chung đối với các em
là phải dựa vào mô hình vật thật. Trên cơ sở đó trí tưởng tượng của học sinh
15
mới phát triển được. Tuy đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học là ham học
hỏi, thích tìm tòi, khám phá cái mới lạ nhưng chưa kiên trì, khả năng thực
hiện các hành động chính xác còn thấp. Mặt khác, để giải các bài Toán ở Tiểu
học yêu cầu học sinh không những phải năm được nội dung kiến thức mà còn
phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo những kiến thức đã được học.
Với những năng lực học Toán chưa phát triển hết giáo viên phải lựa
chọn và sử dụng những phương pháp dạy học phù hợp để đạt được hiệu quả
cao, phát huy hết khả năng của học sinh giúp các em hiểu bản chất của bài
Toán, biết cách giải các bài Toán linh hoạt, sáng tạo và từ đó phát huy trí
tưởng tượng cho các em.
1.4. Nội dung và mục tiêu dạy học Toán lớp 1, lớp 2, lớp 3 trong Sách
giáo khoa
1.4.1. Về số tự nhiên và phép tính
Lớp 1:
* Số học:
+ Các số đến 10, phép cộng và phép trừ trong phạm vi 10
- Nhận biết quan hệ số lượng (nhiều hơn, ít hơn bằng nhau).
- Đọc, đếm, viết, so sánh các số đến 10.
Sử dụng các dấu = (bằng), < (bé hơn), > (lớn hớn).
- Bước đầu giới thiệu khái niệm về phép cộng.
- Bước đầu giới thiệu khái niệm về phép trừ.
- Bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi 10.
- Số 0 trong phép cộng, phép trừ.
- Tính giá trị biểu thức số có đến dấu hai phép tính cộng, trừ.
+ Các số đến 100. Phép cộng và phép trừ không nhớ trong phạm vi 100.
- Đọc, đếm, viết, so sánh các số đến 100. Giới thiệu hàng chục, hàng
đơn vị. Giới thiệu tia số.

có 1 thừa số chưa biết khi biết tích và thừa số kia. Giới thiệu số bị chia, số
chia, thương.
- Lập bảng nhân với 2,3,4,5 có tích không quá 50.
- Lập bảng chia cho 2,3,4,5 có số bị chia không quá 50.
- Nhân với 1 và chia cho 1.
- Nhân với 0. Số bị chia là 0. Không thể chia cho 0.
- Nhân, chia nhẩm trong phạm vi các bảng tính. Nhân số có đến 2 chữ
số với số có 1 chữ số không nhớ. Chia số có đến 2 chữ số cho số có 1 chữ số,
các bước chia trong phạm vi các bảng tính.
- Tính giá trị biểu thức số có đến 2 dấu phép tính cộng, trừ hoặc nhân,
chia. Giải bài tập dạng: “Tìm x biết: a × x =b; x:a= b (với a là số có 1 chữ số,
khác 0; b là số có 2 chữ số)”.
- Giới thiệu các phần bằng nhau của đơn vị (dạng , với n là các số tự
nhiên khác 0 và không vượt quá 5).
Lớp 3:
+ Phép nhân và phép chia trong phạm vi 1000 (tiếp)
- Củng cố các bảng nhân với 2, 3,4,5 (tích không quá 50) và các bảng
chia 2,3,4,5( số bị chia không quá 50). Bổ sung cộng, trừ các số có ba chữ số
có nhớ không quá một lần.
- Lập các bảng nhân với 6,7,8,9 (tích không quá 100) và các bảng chia
cho 6,7,8,9 (số bị chia không quá 100).
- Hoàn thiện các bảng nhân và bảng chia.
- Nhân chia ngoài bảng trong phạm vi 1000, nhân số có 2, 3 chữ số cho
1 số có 1 chữ số. Chia hết và chia có dư.
- Thực hành tính: tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính, nhân nhẩm số
có 2 chữ số với số có 1 chữ số, không nhớ; chia nhẩm số có 2 chữ số cho số
18
có 1 chữ số, không có dư ở từng bước chia, ; củng cố về cộng, trừ, nhân,
chia trong phạm vi 1000 theo các mức độ đã xác định.
- Làm quen với biểu thức số và giá trị của biểu thức. Giới thiệu thứ tự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status