Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông quan sơn 2, tỉnh thanh hoá - Pdf 51

MỤC LỤC
Trang
1. Lý do chọn đề tài.........................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu...................................................................................2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................................2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..............................................................2
4.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................2
4.1. Phạm vi nghiên cứu....................................................................................2
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................2
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận...............................................................2
5.2. Phương pháp toán học thống kê................................................................2
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GDĐĐ HỌC SINH THPT TRƯỜNG THPT
QUAN SƠN 2, TỈNH THANH HÓA...............................................................3
1. Khái niệm về đạo đức ................................................................................3
2. Giáo dục đạo đức ........................................................................................3
3. Giáo dục đạo đức trong trường trung học phổ thông .............................4
3.1. Đặc điểm của học sinh THPT ...................................................................4
3.1. Mục tiêu giáo dục đạo đức ........................................................................5
3.2. Nhiệm vụ giáo dục đạo đức ......................................................................5
4. Các yếu tố chi phối đên giáo dục đạo đức trong trường trung học
phổ thông ........................................................................................................6
4.1. Yếu tố giáo dục nhà trường .......................................................................6
4.2. Yếu tố giáo dục gia đình ...........................................................................6
4.3. Yếu tố giáo dục xã hội ...............................................................................6
4.3. Yếu tố tự giáo dục của bản thân học sinh .................................................6
II. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG
THPT QUAN SƠN 2, TỈNH THANH HOÁ....................................................7
1. Đặc điểm và quy mô phát triển lớp, số học sinh và CSVC......................7


2. Thực trạng về đạo đức học sinh trường THPT Quan Sơn 2...................7

: An toàn xã hội
3. ATGT
: An toàn giao thông
4. BCH
: Ban chấp hành
5. BGH
: Ban giám hiệu
6. CBQL
: Cán bộ quản lý
7. CBGV, NV : Cán bộ giáo viên, nhân viên
8. CMHS
: Cha mẹ học sinh
9. CN: Chủ nhiệm
10. CNTT
: Công nghệ thông tin
11. CSVC
: Cơ sở vật chất
12. GD&ĐT : Giáo dục - Đào tạo
13. GD
: Giáo dục
14. GDĐĐ
: Giáo dục đạo đức
15. GVCN
: Giáo viên
16. GVBM
: Giáo viên bộ môn
17. HĐNGLL : Hoạt động ngoài giờ lên lớp
18. HĐDH
: Hoạt động dạy học
19. HS

cũng sẽ tạo ra một số hậu quả nghiêm trọng. Một trong những biểu hiện quan
trọng là sự thay đổi giá trị và suy thoái đạo đức mạnh mẽ của một bộ phận thế hệ
trẻ hiện nay.
Để khắc phục tình trạng này, đảm bảo cho thế hệ trẻ vừa tiếp thu những
giá trị văn minh vừa gìn giữ được những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp cần
có sự chung tay giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội. Trong đó, giáo dục
nhà trường có vai trò nòng cốt, vô cùng quan trọng. GDĐĐ được xem là nền
tảng, gốc rễ tạo ra nội lực tiềm tàng cho giáo dục toàn diện của nhà trường.
“Cũng như sông có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn.
Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức,
không có đạo đức thì dù có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.
Trọn đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh
kính yêu đã để lại cho nhân dân ta, đất nước ta không chỉ một nền độc lập bền
vững, một cuộc sống tự do, hạnh phúc mà còn cả những tư tưởng vĩ đại, một tấm
gương đạo đức cách mạng trong sáng. Người đặc biệt quan tâm đến giáo dục
đạo đức cho thế hệ trẻ. Tại Đại hội Sinh viên Việt Nam lần thứ 2 (07/02/1958),
Người đã từng nói: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang. Vì vậy, phải tự
giác, tự nguyện cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình.
Tức là thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức giống như một
anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những
không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa…”. Đến khi
viết Di chúc, Người vẫn dành một phần quan trọng để bàn về vấn đề GDĐĐ cho
thanh niên và yêu cầu: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho
họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa
“hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất
quan trọng và rất cần thiết.
Đánh giá thực trạng đạo đức đồng thời cũng nêu lên những định hướng
cho giải pháp, Nghị quyết Trung ương lần thứ Hai của Đảng khóa VIII nhấn
mạnh: “Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng
suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài

hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai. Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá
nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”.
Như vậy, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là một mặt của đời sống
xã hội con người và là một hình thái chuyên biệt của quan hệ xã hội, thực hiện
chức năng xã hội quan trọng là điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh
vực của đời sống.
2. Giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, có tổ
chức của nhà giáo dục nhằm trang bị cho học sinh ý thức, niềm tin, tình cảm đạo
đức phù hợp với các chuẩn mực của xã hội.
Giáo dục đạo đức là một nội dung quan trọng trong giáo dục nhân cách
con người phát triển toàn diện. Mỗi giai đoạn lịch sử có mục tiêu, nội dung,
chương trình, phương pháp, hình thức giáo dục cụ thể nhằm xây dựng nhân cách
toàn diện cho thế hệ trẻ, đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi phát triển của xã hội.
GDĐĐ với chức năng trội là làm cho học sinh có nhận thức đúng đắn về
các yêu cầu, chuẩn mực xã hội và có hành vi, thói quen, hành động tương ứng.
Nó là một trong những kết quả, mục đích quan trọng nhất của HĐ dạy học trong
nhà trường. Nhà văn, nhà GD J.J. Rutxo đã khẳng định: “Trẻ em không phải là
người lớn thu nhỏ lại”.
GDĐĐ về bản chất là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực đạo đức,
những đòi hỏi từ bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên
trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của đối tượng giáo dục.
GDĐĐ hình thành cho con người những quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực đạo
đức cơ bản của XH. Nhờ đó, con người có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng
đắn các hiện tượng đạo đức và tự đánh giá hành vi của bản thân. GDĐĐ góp
phần hình thành và phát triển nhân cách con người mới phù hợp với từng giai
đoạn phát triển. GDĐĐ là quá trình tác động tới người học để hình thành cho họ
ý thức, tình cảm và niềm tin, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập được
những thói quen hành vi đạo đức.
GDĐĐ trong nhà trường THPT là một bộ phận của quá trình GD tổng thể,

của học sinh THPT với những biểu hiện sau:
- Các em chú ý nhiều hơn đến hình dáng bên ngoài của mình, hình ảnh về
thân thể là một thành tố quan trọng của sự tự ý thức của thanh niên mới lớn.
- Sự tự ý thức xuất phát từ hoạt động và các mối quan hệ trong tập thể,
trong xã hội. Các em hay ghi nhật ký, tự nhận thức về vị trí, vai trò của bản thân
hiện tại và tương lai.
- Các em có khả năng đánh giá sâu sắc những phẩm chất, mặt mạnh, mặt
yếu của những người cùng sống và chính mình. Đồng thời, các em cũng có
khuynh hướng độc lập trong việc phân tích, đánh giá bản thân. Song việc tự
đánh giá bản thân nhiều khi chưa khách quan, có thể sai lầm nên cần giúp đỡ để
các em hình thành một biểu tượng khách quan về nhân cách của mình.
- Học sinh THPT có nhu cầu tự giáo dục mạnh mẽ, các em đã tự ý thức,
khao khát những giá trị mà mình cho là hữu ích với cuộc sống.
3.1.4. Đời sống tình cảm:
Đời sống tình cảm của HS THPT rất phong phú, đặc biệt là tình bạn. Các
em có nhu cầu lớn về tình bạn và đặt ra những nhu cầu cao trong tình bạn như sự
chân thành, tin tưởng, đồng cảm, giúp đỡ lẫn nhau. Tình bạn của các em mang
tính xúc cảm cao, thường được lý tưởng hoá. Mối quan hệ nam - nữ ở lứa tuổi
này có sự phân hoá rõ rệt. Do vậy, nhu cầu về tình bạn khác giới tăng. Ở một số
em, xuất hiện những dấu hiệu của một tình cảm mới: tình yêu. Tình yêu ở HS
THPT thường trong sáng, hồn nhiên, giàu cảm xúc và khá chân thành. Vì vậy,
4


nhà trường cần phải giáo dục cho HS một tình yêu chân chính dựa trên cơ sở
thông cảm, hiểu biết, tôn trọng và cùng có một mục đích, lý tưởng chung.
Trong quá trình GDĐĐ cho HS THPT cần chú ý xây dựng mối quan hệ
tốt đẹp với các em trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Chúng ta cần tin
tưởng, tạo điều kiện để các em phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo độc
lập, giúp các em nâng cao tinh thần trách nhiệm của bản thân để tạo điều kiện

hiểu biết, học hỏi và làm theo trong quá trình hoàn thiện nhân cách của mình.
Giáo dục niềm tin và lý tưởng sống, lối sống cho học sinh để các em biết
xác định đúng đắn động cơ học tập và rèn luyện.
Giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, biết sống và làm việc theo
pháp luật, có kỉ cương nền nếp, có văn hoá trong các mối quan hệ giữa con
người với con người và con người với tự nhiên.
5


Nhận thức ngày càng sâu sắc những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực và
các giá trị đạo đức xã hội chủ nghĩa. Từ đó, biến các giá trị thành ý thức tình
cảm hành vi, thói quen và cách ứng xử trong đời sống hàng ngày.
Hình thành và phát triển nhu cầu tự rèn luyện đạo đức bản thân theo các
chuẩn mực đạo đức xã hội và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
4. Các yếu tố chi phối đến giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
4.1. Yếu tố giáo dục nhà trường
GD nhà trường là hoạt động GD thuộc hệ thống GD quốc dân theo mục
đích, nội dung, phương pháp có chọn lọc trên cơ sở khoa học và thực tiễn. GD
nhà trường được tiến hành có tổ chức, tác động trực tiếp, có hệ thống đến sự
hình thành và phát triển của nhân cách. Thông qua GD nhà trường, mỗi cá nhân
được bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, kiến thức khoa học, kĩ năng thực hành, đáp
ứng yêu cầu trình độ phát triển của xã hội trong từng giai đoạn.
Nhà trường là một hệ thống GD được tổ chức quản lý chặt chẽ, là yếu tố
quan trọng nhất trong quá trình GDĐĐ cho HS. Với hệ thống chương trình khoa
học, các tài liệu, sách giáo khoa, sách tham khảo phong phú, các phương tiện hỗ
trợ GD ngày càng hiện đại, đặc biệt là với một đội ngũ cán bộ giáo viên được
đào tạo cơ bản có đủ phẩm chất và năng lực để GD học sinh.
4.2. Yếu tố giáo dục gia đình
Gia đình là cơ sở đầu tiên, có vị trí quan trọng và ý nghĩa lớn đối với quá
trình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người. Vì vậy, mỗi người luôn

Trường THPT Quan Sơn 2 được thành lập theo quyết định số 217/QĐUBND ngày 21 tháng 01 năm 2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh
Hóa. Khu vực tuyển sinh của trường THPT Quan Sơn 2 là 04 xã vùng cao biên
giới (Na Mèo, Mường Mìn, Sơn Điện, Sơn Thủy).
Trong 5 năm qua số lớp THPT dao động từ 10 - 12 lớp và số học sinh dao
động từ 353 - 392 em. (Gồm học sinh người Thái, Mường, Mông, Kinh).
Diện tích đất của nhà trường là 25.560m2, cơ sở vật chất của nhà trường hiện
nay được đầu tư xây dựng cơ bản theo hướng kiên cố hoá, chuẩn hoá, tạo nên vẻ mỹ
quan, khang trang và thuận lợi cho việc học tập, vui chơi và tổ chức các hoạt động
khác bổ trợ cho công tác dạy và học ngày càng đạt hiệu quả.
Bảng 1: Quy mô HS – CBGV, NV trường THPT Quan Sơn 2
TT

1
2
3
4
5

Năm học

Số lớp

2012 - 2013
2013 - 2014
2014 - 2015
2015 - 2016
2016 - 2017

12
11


Trí dục (%)

Tốt

Khá

TB

Yếu

Giỏi

Khá

TB

Yếu

62,5
58,4
66,6
69,1
69,9

22,7
23,2
17,7
16,2
19,4


Kém
0,3
1,2
0
0
0,3

Tốt
nghiệp
(%)
100
99,03
88,2
96,6
Chưa

(Nguồn nhà trường)
2. Thực trạng đạo đức học sinh Trường THPT Quan Sơn 2
Trong những năm gần đây, sự phát triển Kinh tế - Xã hội đã mang lại
không ít những thuận lợi cho công tác giáo dục trong nhà trường. Sự quan tâm
đầu tư của Đảng, Nhà nước cùng với sự hỗ trợ tích cực từ xã hội, cơ sở vật chất,
trang thiết bị giáo dục của nhà trường ngày một khang trang, đảm bảo cho việc
dạy và học. Bên cạnh đó, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc
biệt là công nghệ thông tin đã hỗ trợ cho giáo viên và phụ huynh trong việc liên
lạc, trao đổi, nắm bắt nhanh những thông tin cần thiết trong phối hợp giáo dục;
đồng thời hỗ trợ tích cực cho hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi kể trên, những năm gần đây một bộ
phận học sinh rơi vào những tệ nạn xã hội, bạo lực học đường; không kính trọng
thầy cô, xem thường bạn bè, mọi người xung quanh; không hiếu thảo với ông bà

- Luôn có tư tưởng quấy phá, gây mất trật tự trong giờ học.
- Không chú ý nghe thầy, cô giảng dạy
- Thiếu văn hóa (nói tục, chửi thề).
- Đùa giỡn, chọc ghẹo, thiếu lễ phép, thích trêu ngươi người khác
- Sách vở không đầy đủ, thường xuyên không chép bài.
- Mê chơi game, lôi kéo, rủ rê bè bạn.
- Hay cãi lí với bố mẹ và thầy cô; Sẵn sàng bỏ học đi chơi cùng bạn
- Thường nói dối, thậm chí nói láo với người trên …
- Hút thuốc lá, uống rượu, bia
- Chia bè, kéo cánh đánh nhau, xử lý như giang hồ
* Một số nguyên nhân dẫn đến học sinh vi phạm đạo đức:
- Nguyên nhân môi trường xã hội: Sự bùng nỗ CNTT và các hình thức vui
chơi giải trí đã ảnh hưởng trực tiếp đến các hành vi đạo đức của học sinh.
- Nguyên nhân từ gia đình: Do bố mẹ mãi lo làm ăn, không có điều kiện
quan tâm đến con cái. Mặt khác, một số gia đình nuông chiều con cái dẫn đến
con cái chỉ biết bản thân mình, hay đòi hỏi bố mẹ, thiếu bản lĩnh và có thói quen
ỷ lại, dựa dẫm.
8


- Nguyên nhân từ phía nhà trường: Nhà trường chưa có đầy đủ thông tin
để nắm bắt các hiện tượng vi phạm đạo đức của học sinh để có biện pháp giáo
dục kịp thời. Một bộ phận nhỏ cán bộ giáo viên chưa thực sự gương mẫu, chưa
là tấm gương sáng về đạo đức để học sinh noi theo; một số nội dung, chương
trinh giáo dục còn nặng về lí thuyết và phương pháp chưa hợp lí.
- Nguyên nhân từ phía học sinh: Do lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi có
những biến đổi lớn về tâm sinh lí nên rất dễ bị tác động tiêu cực từ môi trường
bên ngoài vào nhận thức của các em.
- Nguyên nhân từ việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục: Sự phối hợp
giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường chưa đạt hiệu quả; các tổ


9


III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT QUAN SƠN 2, TỈNH THANH HOÁ

1. Yêu cầu đối với việc đề xuất các giải pháp
Các giải pháp đưa ra phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Phải đảm bảo tuân thủ đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; các
quy định của ngành GD&ĐT và mục tiêu phát triển ở địa phương.
- Giải quyết triệt để các vấn đề còn tồn tại đã chỉ rõ trong phần thực trạng.
- Dựa trên cơ sở lí luận, cơ sở khoa học đặc biệt là khoa học giáo dục;
khoa học tâm lí lứa tuổi học sinh.
- Xuất phát từ điều kiện thực tế ở trường THPT Quan Sơn 2.
- Bảo đảm tính khả thi khi triển khai áp dụng.
2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh
trường THPT Quan Sơn 2, tỉnh Thanh Hoá
1. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện để giáo dục
đạo đức học sinh
Giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo vì nó định hướng cho toàn bộ quá
trình giáo dục hình thành nhân cách của học sinh, khai thác có chọn lọc những
tác động tích cực và ngăn chặn những tác động tiêu cực từ gia đình và xã hội.
- Tổ chức, sắp xếp, tu sửa, trang điểm cơ sở vật chất khung cảnh của nhà
trường làm sao cho toàn trường đều toát lên ý nghĩa giáo dục đối với học sinh.
- Tạo lên bầu không khí giáo dục trong toàn trường và ở mỗi lớp học, hình
thành một phong cách sinh hoạt của nhà trường, biểu hiện như sau:
+ Nề nếp tốt: Trật tự, vệ sinh, ngăn nắp, nghiêm túc.
+ Có dư luận tập thể tốt, ủng hộ cái tốt cái tiến bộ, phê phán cái sai, cái
lạc hậu, có phong trào thi đua sôi nổi đúng thực chất.

- Tổ chức các phong trào thi đua thường xuyên, liên tục, đảm bảo tính
công bằng, trung thực phù hợp với nhu cầu năng lực của các em.
- Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm xây dựng lớp thành tập thể vững mạnh, có
lực lượng cốt cán làm nòng cốt, làm hạt nhân cơ bản của lớp là trợ thủ đắc lực
cho giáo viên chủ nhiệm.
* Đối với giáo viên
- Phải gương mẫu về mọi mặt, đoàn kết nhất trí thành một khối thống
nhất, có tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với học sinh.
- Phải không ngừng hoàn thiện nhân cách của mình, phải thương yêu, tôn
trọng, tin tưởng HS, có ý thức trách nhiệm về mọi hành vi ngôn ngữ cử chỉ của
mình đối với HS, đồng nghiệp, bản thân phải là tấm gương của HS noi theo.
* Đối với Đoàn thanh niên:
- Chủ động phối hợp với, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, tổ chức
phong trào thi đua học tập, rèn luyện đoàn viên.
- Tổ chức sinh hoạt hàng tuần, tạo sân chơi lành mạnh cho các em. Tổ
chức và sinh hoạt đều đặn các câu lạc bộ sở thích.
- Giáo dục tinh thần yêu nước cho các em thông qua việc thăm hỏi các bà
mẹ Việt Nam anh hùng địa phương, quan tâm đến hoạt động nhân đạo từ thiện
mà giáo dục cho đoàn viên biết yêu thương mọi người, biết trân trọng những con
người đã hy sinh vì Tổ Quốc, biết chia sẻ giúp đỡ khi người khác gặp khó khăn.
Giáo dục truyền thống nhân ái, trọng nhân nghĩa của dân tộc ta.
* Đối với nhân viên bảo vệ.
Khi phát hiện những biểu hiện vi phạm báo cáo BGH, cần phối hợp với
Ban nền nếp, Đoàn trường, Đội cờ đỏ, giáo viên chủ nhiệm để cùng giáo dục.
2.2. Nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục trong nhà trường:
Việc nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục rất quan trọng, ảnh
hưởng lớn đến chất lượng GD đạo đức cho học sinh và giáo dục toàn diện của
nhà trường. vì vậy cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho từng bộ phận sau:
- Đối với CBQL: Tiếp thu và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và
Nhà nước, các văn bản của Ngành GD&ĐT về công tác GD đạo đức. Từ đó, có kế

dịp kỷ niệm 20/10 ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và “Hoa ban
trắng” nhân kỷ niệm 26/03 ngày thành lập Đoàn.
- Đối với Hội CMHS và các lực lượng GD khác: BGH tổ chức cuộc họp
Hội CMHS, thông báo tình hình nhà trường, những thuận lợi và khó khăn trong
quá trình giáo dục HS. Đồng thời, huy động sự ủng hộ, đóng góp của Hội
CMHS đối với các hoạt động GD của nhà trường; giữ mối liên hệ thường xuyên
với chính quyền địa phương, các cơ quan, ban ngành trên địa bàn huyện.
2.4. Xây dựng tập thể học sinh tự quản tốt:
Nhằm liên kết các em HS trong lớp, trong trường thành một tập thể phát
triển hoàn thiện. Xây dựng cho HS thói quen làm chủ tập thể, làm chủ bản thân;
biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục.
Thực chất của xây dựng lớp tự quản là quá trình từng bước chuyển hóa
tâm huyết, nhiệt tình của thầy cô thành ý thức tự quản tự giác đầy trách nhiệm
và thích thú của trò, tức cũng là biến lớp học của những cá nhân HS thành một
tập thể HS biết tự quản dưới sự lãnh đạo của GVCN lớp.
Xây dựng một tập thể tự quản chính là bí quyết thành công của công tác
CN đồng thời đáp ứng được mục tiêu đào tạo thời mở cửa, thỏa mãn việc thực
hiện phương pháp giáo dục tích cực lấy HS làm trung tâm và quan trọng hơn
nữa, đối với công tác GDĐĐ, xây dựng lớp tự quản, thỏa mãn nhu cầu tâm lý
của các em HS đang trong độ tuổi mới lớn.
12


GVCN kết hợp với Đoàn trường xây dựng kế hoạch cụ thể về nội dung,
tiêu chuẩn của một tập thể HS tự quản. Trên cơ sở đó, giúp HS hiểu được trách
nhiệm của mình trong tập thể, biết tự quản trong mọi hoạt động học tập, lao
động, vui chơi, rèn luyện trong giờ chính khóa cũng như các buổi ngoại khóa.
HS biết chủ động, tự giải quyết sáng tạo những tình huống nảy sinh, tự điều
hành hoạt động của tập thể lớp, tự biết điều chỉnh hoạt động của mình để phù
hợp với mục đích chung đề ra để hoạt động của lớp học đạt hiệu quả cao.

phù hợp với từng đối tượng.
- Phối hợp với GVBM, Đoàn trường, thống nhất các biện pháp và kế
hoạch GD toàn diện. Tạo mọi điều kiện cho các hoạt động học tập, vui chơi, giải
trí của các em và phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm kỉ luật.
- Phối hợp chặt chẽ với gia đình trong công tác GD toàn diện. Thường
xuyên thông báo tình hình học tập và tu dưỡng đạo đức của HS về gia đình để
thống nhất với gia đình các biện pháp quản lí học sinh.
13


- Phối hợp với Ban nề nếp, giáo viên bộ môn, Đoàn trường và phụ huynh
nhận xét, đánh giá và xếp loại HS vào cuối học kì và cuối năm, đề nghị khen
thưởng HS, đề nghị danh sách HS được lên lớp hay ở lại.
- GVCN báo cáo thường xuyên và định kì với BGH về tình hình của lớp
chủ nhiệm. Đặc biệt, những trường hợp HS cá biệt cần xin ý kiến chỉ đạo để có
biện pháp giáo dục hợp lí, kịp thời và hiệu quả.
2.6. Thành lập Ban Nề nếp và Đội Cờ đỏ:
Nhằm theo dõi đánh giá hoạt động của học sinh và tập thể lớp trong nhà
trường hàng tuần thông qua Ban Nề nếp và Đội Cờ đỏ. Để thành lập được Ban
Nề nếp và Đội Cờ đỏ, phải căn cứ vào năng lực, uy tín của các thành viên:
- Hiệu trưởng tổ chức họp BGH và trưởng các tổ chức thăm dò ý kiến để
thành lập Ban Nề nếp từ 05 - 07 người: do 01 Phó Hiệu trưởng làm trưởng ban;
Bí thư Đoàn trường làm phó ban các thành viên lựa chọn các GV có năng lực,
uy tiến trách nhiệm, hăng hái và hiểu biết về phong tục tập quán.
- Ban Nề nếp có trách nhiệm thay mặt nhà trường cùng GVCN lớp xử lý
các hành vi vi phạm đạo đức của học sinh trong từng lớp; phối hợp với các lực
lượng GD trong và ngoài trường để giải quyết các tình huống sảy ra trong quá
trình giáo dục toàn diện của nhà trường.
- Ban nề nếp và Đoàn trường thống nhất chương trình phối hợp hành động
và thành lập Đội cờ đỏ, mỗi lớp GVCN lựa chọn cử 2 HS có phẩm chất đạo đức

sống nhất thiết phải vươn tới chân lý tốt đẹp: Nhân ái, vị tha, bản lĩnh tự tin,
khiêm tốn, văn minh lịch sự, dám nghĩ dám làm, hoà đồng và tôn trọng người
khác. Thực tiễn ngày nay cho thấy đôi khi kiến thức uyên bác, học vị cao lại
không làm nên sự thành đạt của con người bằng chính kĩ năng sống của họ.
Cuộc sống ngày càng phát triển, đất nước đang hội nhập với thế giới, cơ hội có
được vị trí trong xã hội và khẳng định bản thân của người lao động đang rộng
mở, nhưng số lượng người thất nghiệp vẫn không ngừng gia tăng. Một trong
những nguyên nhân quan trọng là do họ chưa được trang bị những kĩ năng sống
cơ bản của một người lao động. Chính vì vậy, kĩ năng sống cần được mỗi người
chúng ta rèn luyện ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Trong bốn trụ cột
của giáo dục được Unesco nêu ra là “học để biết, học để làm việc, học để làm
người (để tồn tại), học để cùng chung sống” đã có ba nội dung hàm chứa các
yêu cầu kĩ năng sống. Điều này càng khẳng định hơn nữa tầm quan trọng và cần
thiết của nhà trường trong việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Đành rằng
hình thành kĩ năng sống phải qua cả trường học và trường đời nhưng trường học
vẫn giữ vị trí nền móng vì hầu hết mọi người đều được đi học, và nội dung học ở
trường phổ thông gồm nhiều lĩnh vực tự nhiên, xã hội cùng nhiều bài học về lối
sống tốt đẹp của những bậc tiền nhân mà học sinh cần học tập noi theo.
2.8. Đa dạng hoá hoạt động ngoài giờ lên lớp:
Tổ chức HĐNGLL nhằm GD tư tưởng đạo đức, phẩm chất, nhân cách HS.
Nhà trường phải tổ chức các HĐNGLL phong phú đa dạng, phù hợp với tâm
sinh lý, đáp ứng nhu cầu, tạo hấp dẫn thu hút đối với HS.
- Đa dạng hoá các hình thức HĐNGLL: Hoạt động chính trị - xã hội,
không chỉ GD tư tưởng chính trị mà còn hình thành nhiều phẩm chất tốt đẹp ở
các em. Đó là tình đoàn kết gắn bó, yêu thương con người, tự hào về quê hương,
đất nước; Hoạt động công ích xã hội, GD ý thức xây dựng quê hương, giúp đỡ
gia đình sản xuất ra của cải vật chất, có thái độ đúng với người lao động, góp
phần bảo vệ thành quả lao động; Hoạt động văn hoá – nghệ thuật, đây là những
hoạt động nhằm nâng cao nhận thức và thẫm mĩ cho học sinh, giúp các em hiểu
được cái đẹp và biết sáng tạo cái đẹp trong cuộc sống; Hoạt động thể thao - tham

biệt, gia đình cần phải gặp trực tiếp nhà trường hoặc GVCN để nắm bắt nguyên
nhân, diễn biến và có các biện pháp giáo dục phù hợp.
Các bậc phụ huynh cần phối hợp với các cơ quan, đoàn thể, tổ chức ở địa
phương để uốn nắn, ngăn chặn những biểu hiện xấu của con em mình.
- Đối với nhà trường:
Tổ chức hội nghị với sự tham gia của đại diện của các tổ chức nhà trường,
Hội CMHS và các tổ chức ngoài xã hội để bàn về phối hợp GDĐĐ cho HS.
Đối với các tổ chức trong nhà trường như: Đoàn thanh niên, GVCN, các
tổ chuyên môn…BGH họp bàn và thống nhất kế hoạch GDĐĐ học sinh phân
công trách nhiệm cho từng bộ phận. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá hoạt động
của từng bộ phận để có sự điều chỉnh kịp thời.
Đối với các lực lượng GD ngoài nhà trường: BGH họp bàn thống nhất
việc thực hiện kế hoạch GDĐĐ học sinh với UBND xã, công an, các cơ quan
đoàn thể… có lịch hoạt động cụ thể với những nội dung thiết thực.
Xây dựng mối liên hệ chặt chẽ, thường xuyên giữa nhà trường và gia đình
thông qua các hình thức hoạt động.
- Đối với xã hội:
Chính quyền địa phương thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra trên địa bàn dân
cư xung quanh khu vực trường các tụ điểm vui chơi, giải trí và cương quyết xóa
bỏ những tụ điểm không lành mạnh.
Bộ đội biên phòng, Ban công an xã, Xã đội thường xuyên kiểm tra an
ninh trật tự trên địa bàn. Đảm bảo ANTT và ATXH. Phối hợp xử lý những đối
tượng học sinh có hành vi vi phạm pháp luật hoặc gây gỗ phá rối làm mất trật tự.
Ban văn hóa xã thường xuyên phát thanh tuyên truyền phòng chống các tệ
nạn xã hội, thông tin các vấn đề liên quan đến GD các hành vi vi phạm đạo đức
trên địa bàn và gần khu vực trường học.
Các tổ chức đoàn thể khác cần thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên
truyền GD thanh, thiếu niên luôn ý thức trách nhiệm, tích cực tham gia các hoạt
16


viên chủ nhiệm
Thành lập Ban Nề nếp và Đội Cờ đỏ
Chú trọng việc giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh
Đa dạng hoá các HĐ ngoài giờ lên lớp
Tăng cường phối hợp giữa nhà trường
với gia đình và xã hội

Tính cấp thiết (%)
Tính khả thi (%)
Rất cấp Cấp Không Rất khả Khả Không
thiết thiết cấp thiết thi
thi khả thi
92,5

5,0

2,5

92,5

5,0

25

90,0

5,0

5,0


95,0

2,5

2,5

95,0

2,5

2,5

92,5

2,5

2,5

87,5

7,5

5,0

85,0

10,0

5,0

Quan Sơn 2 nói riêng. Qua đó, cho thấy các giải pháp 1, 2, 5, 6 và 9 rất cần thiết
và rất khả thi cao trên 90%, khẳng định rằng đây là những giải pháp cốt lõi trong
công tác nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh hiện nay ở nhà trường.

17


PHÂN: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Giáo dục là quốc sách hàng đầu, thì việc giáo dục đạo đức học sinh chính
là trang đầu của quốc sách ấy. Vai trò của Giáo dục thật sự quan trọng và có thể
ảnh hưởng đến sự tồn vong của một dân tộc. Giáo dục là trụ cột của một quốc
gia để tạo dựng, giữ gìn và phát triển các giá trị xã hội.
GDĐĐ có vị trí, vai trò quan trọng đối với đời sống xã hội, là cơ sở để
xây dựng nguồn lực con người vừa “hồng” vừa “chuyên”. Vì vậy, nâng cao chất
lượng GDĐĐ học sinh là việc làm quan trọng, cần thiết để nâng cao chất lượng
GD toàn diện và thực hiện các mục tiêu GD&ĐT trong giai đoạn hiện nay.
Thông qua việc tổng hợp, hệ thống các cơ sơ lý luận đã khẳng định vai
trò, vị trí của giáo dục đạo đức và nâng cao chất lượng GDĐĐ học sinh ở trường
THPT Quan Sơn 2. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo
dục đạo đức cho học sinh gồm:
1. Xây dựng môi trường lành mạnh, thân thiện để GDĐĐ học sinh.
2. Nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục
3. Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức
4. Xây dựng tập thể học sinh tự quản tốt
5. Lựa chọn và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm
6. Thành lập Ban nề nếp và Đội cờ đỏ
7. Chú trọng việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
8. Đa dạng hoá các hoạt động ngoài giờ lên lớp
9. Tăng cường phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội

6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XII, Nxb
chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị
lần thứ tư của Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XII, Nxb chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2017.
8. Đại học Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh, Giáo trình phương pháp nghiên
cứu khoa học giáo dục, Nxb TP. Hô Chí Minh - 2015
9. Hồ Chí Minh, Di chúc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.
10. Học viện Chính trị Quốc gia, Giáo trình đạo đức học, Nxb Thanh
niên, 2008.
11. Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi,
Nxb Giáo dục, 2005.
12. Uỷ ban nhân dân huyện Quan Sơn, Báo cáo tổng hợp quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế-xã hội huyện Quan Sơn đến năm 2020 định hướng
đến năm 2030.
13. Vũ Trọng Dung (Chủ biên), Giáo trình Đạo đức học Mác - Lênin.
Nxb Chính trị Quốc gia, 2006.
14. Huỳnh Khái Vinh, Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị
xã hội. Nxb Chính trị Quốc gia, 2001.

19


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Bá Tuấn
Chức vụ và đơn vị công tác: Phó Hiệu trưởng - Trường THPT Quan Sơn 2


sữa chữa những sai lầm thường mắc trong
học kỹ thuật nhảy xa “Ưỡn thân” cho học
sinh khối 11 trường THPT Quan Sơn 2
Lựa chọn, ứng dụng một số bài tập nhằm
nâng cao hiệu quả xuất phát và chạy lao
sau xuất phát cho học sinh khối 10 Trường
THPT Quan Sơn 2
Một số giải pháp nâng cao chất lượng quản
lý hoạt động dạy học môn GDQP&AN của
tổ chuyên môn tại trường THPT Quan Sơn
2
Nghiên cứu, ứng dụng một số bài tập nhằm
sữa chữa những sai lầm thường mắc cho
học sinh nữ lớp 10 trường THPT Quan Sơn
2 trong học kỹ thuật nhảy cao “Nằm
nghiêng”.
Một số giải pháp quản lý nhăm duy trì sĩ số
học sinh trường THPT Quan Sơn 2

Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)

Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B,
hoặc C)


B

2011 2012

Tỉnh

C

2012 2013

Tỉnh

C

2013 2014

Tỉnh

C

2014 2015

1




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status