Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Hà Thành - Pdf 30


MỤC LỤC
1

LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập quốc tế - xu hướng toàn cầu hoá đã và đang nổi lên như một trào
lưu mới trong nền kinh tế thế giới hiện nay. Cùng với công cuộc đổi mới và
phát triển đó, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã chủ động tích cực tham gia
quan hệ với các định chế kinh tế- tài chính toàn cầu và khu vực và đã đạt
được những thành tựu đáng kể. Ở nước ta, hoạt động của ngành ngân hàng đã
góp phần vào việc huy động vốn, mở rộng vốn đầu tư cho sản xuất phát triển,
tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng trưởng kinh tế trong nước.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Hà Thành là một
trong những chi nhánh được tổ chức theo mô hình ngân hàng hiện đại, thực
hiện công tác huy động vốn, thực hiện cho vay và các nghiệp vụ kinh doanh
khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước đối với hệ thống ngân hàng
thương mại.
Trong thời gian đầu thực tập tại Ngân hàng ĐT&PT Hà Thành, được sự
giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn cô: Nguyễn Thị Ái Liên và các cô, chú trong
phòng thẩm định em đã hoàn thành tốt nội dụng thực tập tổng hợp. Em xin
chân thành cảm ơn cô giáo cùng các cô chú trong Ngân hàng ĐT&PT Hà
Thành đã giúp đỡ em trong thời gian thực tập tổng hợp vừa qua.
2

Chương I. Tổng quan về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam-
Chi nhánh Hà Thành.
I. Giới thiệu chung về quá trình hình thành và phát triển của Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ trước tới nay.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) được thành lập ngày
26/04/1957 với tên gọi ban đầu là Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam theo Nghị
định số 177/TTg của Thủ tướng Chính phủ, trực thuộc Bộ Tài chính. Trong

nhiệm vụ xây dựng cơ bản thời chiến, cung ứng vốn kịp thời cho các công
trình phòng không, sơ tán, di chuyển các xí nghiệp công nghiệp quan trọng,
cấp vốn kịp thời cho công tác cứu chữa, phục hồi và đảm bảo giao thông thời
chiến, xây dựng công nghiệp địa phương.
4. Giai đoạn 1975- 1981.
Ngân hàng Kiến thiết đã cùng nhân dân cả nước khôi phục và hàn gắn vết
thương chiến tranh, tiếp quản, cải tạo và xây dựng các cơ sở kinh tế ở miền
Nam, xây dựng các công trình quốc kế dân sinh mới trên nền đổ nát của chiến
tranh. Hàng loạt công trình mới được mọc lên trên một nửa đất nước vừa đ-
ược giải phóng: các rừng cây cao su, cà phê mới ở Tây Nguyên, Đông Nam
Bộ và Quảng Trị; Hồ thuỷ lợi Dầu Tiếng (Tây Ninh), Phú Ninh (Quảng
Nam),… Khu công nghiệp Dầu khí Vũng Tàu, các công ty chè, cà phê, cao su
ở Tây Nguyên,... các nhà máy điện Đa Nhim, xi măng Hà Tiên,...
5. Giai đoạn 1981- 1990. Ngân hàng đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và
Xây dựng Việt Nam.
Việc ra đời Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam có ý nghĩa quan
trọng trong việc cải tiến các phương pháp cung ứng và quản lý vốn đầu tư cơ
bản, nâng cao vai trò tín dụng phù hợp với khối lượng vốn đầu tư cơ bản tăng
4

lên và nhu cầu xây dựng phát triển rộng rãi. Chỉ sau một thời gian ngắn, Ngân
hàng Đầu tư và Xây dựng đã nhanh chóng ổn định công tác tổ chức từ trung
ương đến cơ sở, đảm bảo các hoạt động cấp phát và tín dụng đầu tư cơ bản
không bị ách tắc. Các quan hệ tín dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản được
mở rộng, vai trò tín dụng được nâng cao. Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng đảm
bảo cung ứng vốn lưu động cho các tổ chức xây lắp, khuyến khích các đơn vị
xây lắp đẩy nhanh tiến độ xây dựng, cải tiến kỹ thuật, mở rộng năng lực sản
xuất, tăng cường chế độ hạch toán kinh tế.
6. Giai đoạn 1990- 2000. Ngân hàng đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status