ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀO THỊ ÁNH DƯƠNG Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NITƠ VÀ PHỐTPHO TRONG NƯỚC THẢI
CHĂN NUÔI LỢN BẰNG HỆ BÙN HOẠT TÍNH AAO CẢI TIẾN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2013 - 2015
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Đỗ Thị Lan
Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
mà còn truyền đạt cho em rất nhiều kiến thức bổ ích, tận tình giúp đỡ cho em
trong những năm học tập và rèn luyện tại trường.
Cuối cùng em xin cảm ơn đến gia đình bạn bè, những người luôn tin
tưởng và cổ vũ cho em trong suốt thời gian qua, để em có thể hoàn thành tốt
đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên ĐÀO THỊ ÁNH DƯƠNG
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Một số đặc trưng vận hành hệ thống xử lý sinh học 6
Bảng 2.2. Hợp chất photpho và khả năng chuyển hóa 7
Bảng 3.1. Chất lượng nước thải dự kiến đưa vào hệ pilot để khảo sát 23
Bảng 4.1. Thành phần nước thải trại lợn sau pha loãng 26
Bảng 4.2. Tổng hợp các kết quả khảo sát hệ xử lý AAO cải tiến 40
Hình 4.6. Hiệu suất xử lý các thành phần N và P trong chế độ HRT = 24 giờ 31
Hình 4.7. Diễn biến của COD trong chế độ thời gian lưu (HRT): 36 giờ, Qr =
7,2 m
3
/h 32
Hình 4.8. Diễn biến của N tổng trong chế độ thời gian lưu (HRT): 36 giờ, Qr
= 7,2 m
3
/h 33
Hình 4.9. Diễn biến của NH
4
+
trong chế độ thời gian lưu tổng số (HRT): 36
giờ, Qr = 7,2 m
3
/h 33
Hình 4.10. Diễn biến của NO
3
-
trong chế độ HRT: 36 giờ, Qr = 7,2 m
3
/h 34
Hình 4.11. Diễn biến của octophotphat và P tổng trong chế độ HRT: 36 giờ,
Qr = 7,2 m
3
/h 35
Hình 4.12. Hiệu suất xử lý các thành phần N và P trong chế độ thời gian lưu
tổng số (HRT): 36 giờ, Qr = 7,2 m
3
/h 35
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AAO Anaerobic - anoxic - oxic Yếm khí - thiếu khí - hiếu khí
BOD Biochemical Oxygen Demand
Nhu cầu oxi sinh hóa
BTNMT Bộ tài nguyên môi trường
COD Chemical Oxygen Demand Nhu cầu oxi hóa học
COD
t
COD tổng
COD
ht
COD hòa tan
HSXL Hiệu suất xử lý
HRT Hydrcalic Residence time Thời gian lưu
PAO Polyphosphate Accumulatin
Organisms
Vi khuẩn tích lũy photpho
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
NSXL Năng suất xử lý
T-N Tổng số nito
T-P Tổng số photphat
TSS Tổng chất rắn lơ lửng
3.4. Phương pháp nghiên cứu 21
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm 21
3.4.2. Phương pháp thực nghiệm 24
3.4.3. Các phương pháp phân tích 24
3.4.4. Các phương pháp thu thập số liệu 25
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1. Diễn biến thành phần nước thải 26
4.2. Đánh giá các chế độ 27
4.2.1. Chế độ thời gian lưu nước 24h, Qr = 7,2 m
3
/ h 27
4.2.2. Chế độ thời gian lưu nước 36 giờ, Qr = 7,2 m
3
/h 31
4.2.3. Chế độ thời gian lưu nước 36 giờ, có vật liệu xốp PU gắn biofilm 36
4.3. Mối quan hệ giữa năng suất xử lý và tải lượng 41
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
5.1. Kết luận 43
5.2. Kiến nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
I. Tài liệu tiếng Việt 44
II. Tài liệu tiếng Anh 45
PHỤ LỤC
1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
việc xử lý các chất thải chứa thành phần chứa chất dinh dưỡng hay các hợp
2
chất hoá học đặc biệt nêu trên.
Nhận biết được mức độ gây hại của thành phần dinh dưỡng trong nước
thải, vào thập kỷ 90, một loạt các nước công nghiệp đề ra chiến lược và qui
định kiểm soát các yếu tố trên.
Công nghệ xử lý nước thải luôn được phát triển và hoàn thiện trên cơ
sở những thành tựu mới về khoa học, kỹ thuật nhằm hạ giá thành xây dựng và
vận hành hệ thống xử lý nước thải cũng như nâng cao chất lượng nước sau
khi xử lý. Tuy nhiên hiện nay việc xử lý nước thải nói chung và nước thải
giàu N, P nói riêng theo hướng áp dụng các kỹ thuật sinh học được chú trọng
phát triển mạnh trong thời gian gần đây do chúng có tính bền vững, thích nghi
với nhiều điều kiện trong tự nhiên.
Từ các lý do trên em lựa chọn thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu xử lý nitơ và phốtpho trong nước thải chăn nuôi lợn
bằng hệ bùn hoạt tính AAO cải tiến”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá các chế độ vận hành hệ xử lý phối hợp đồng thời nitơ và
phốtpho hệ thí nghiệm quy mô phòng thí nghiệm, đánh giá ảnh hưởng của
thời gian lưu, tải lượng đến khả năng xử lý N và P.
- Thiết lập quan hệ tải lượng hữu cơ - năng suất xử lí N và P, nhằm đưa ra
giá trị thông số thiết kế áp dụng cho các hệ thống qui mô lớn trong thực tiễn.
1.3. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá số liệu, hiệu chỉnh vận hành phù hợp; đề xuất hiệu chỉnh cho
quy trình tổng thể hợp nhất xử lý nước thải giàu N, P. Đánh giá hiệu quả kinh
tế của đề tài.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
4
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Các cơ sở nghiên cứu của đề tài
2.1.1. Nước thải giàu N, P
Nước thải giàu nitơ, photpho là những loại nước thải khá phổ biến, có
lẽ trừ công nghiệp phân bón (sản xuất phân nitơ, photpho) phần lớn các loại
nước thải kiểu này đều có nguồn gốc hữu cơ, do đó chúng phổ biến ở những
nước có nền nông nghiệp đang phát triển-có nền chăn nuôi đang phát triển, có
nhu cầu lớn về phát triển công nghiệp chế biến các nông - hải sản như Việt
Nam. Chúng là nước thải chăn nuôi tập trung, nước thải từ các lò giết mổ gia
súc, nước thải công nghiệp chế biến hải sản, nước thải từ các hầm cầu (tiền)
xử lí phân, từ các bể metan phân hủy bùn sinh học của các trạm hay nhà máy
xử lí nước thải mà Việt Nam bắt đầu xây dựng… Nếu sử dụng các kĩ thuật
phản ứng thông dụng và xử lí độc lập từng đối tượng hệ xử lí sẽ rất phức tạp,
kéo theo chi phí xây dựng cơ bản cũng như chi phí vận hành rất cao, khó chấp
nhận (Lê Văn Cát, 2007) [ 1].
Nước thải được coi là giàu nitơ hay photpho về phương diện công nghệ
xử lý (vi sinh) được hiểu trong mối tương quan với chất hữu cơ, ví dụ trong
xử lý hiếu khí thì chỉ khi BOD: N: P vượt tỉ lệ 100: 5:1, trong xử lý yếm khí
thì 900: 5: 1. Xét theo khía cạnh đó thì nước thải chăn nuôi tại Việt Nam (khí
nitrat (khử nitrat với tư cách là chất oxy hóa và chất hữu cơ carbon là chất
khử). Thực hiện phản ứng oxy hóa khử trực tiếp giữa amoniac với nitrit và
nitrat bằng phương pháp vi sinh (quá trình Anamox). Oxy hóa xúc tác trực
tiếp amoniac thành khí nitơ. Oxy hóa amoniac với clo hoạt động (clo hóa tại
điểm đột biến) (Lê Văn Cát, 2007) [1].
- Chuyển hóa các hợp chất nitơ thành các thành phần trong tế bào của
sinh khối (thực vật và vi sinh vật). Quá trình chuyển hóa trên gắn liền với các
phản ứng sinh hóa xảy ra trong tế bào động, thực vật, trong quá trình quang
hợp của thực vật hay đồng hóa của vi sinh vật. Quá trình trên tồn tại trong tự
nhiên, là cơ sở của phương pháp xử lý bằng các loại thủy thực vật.
- Bốc hơi amoniac vào bầu khí quyển. Phương pháp này thật ra là
chuyển chất ô nhiễm từ nước vào không khí, sau đó phần lớn lại được hấp thụ
trở lại vào môi trường nước ở những vị trí khác. Để thực hiện phương pháp
trên, amoniac phải tồn tại ở dạng bay hơi (trung hòa) và do độ tan của
amoniac trong nước rất lớn nên để thúc đẩy cần phải sục khí với lượng rất lớn
và ở nhiệt độ cao.
- Tách amoniac ra khỏi môi trường nước có thể thực hiện bằng phương
pháp trao đổi ion trên cationit. Các loại nhựa cationit có độ chọn lọc trao đổi
thấp đối với amoni, dung lượng trao đổi động thấp, bị cạnh tranh mạnh bởi
các ion khác có mặt với nồng độ cao như canxi, magie. Loại zeolit tự nhiên
clinoptilolite có khả năng chọn lọc cao đối với amoni có thể được sử dụng
trong một số trường hợp. Nitrat cũng là cấu tử có độ chọn lọc trao đổi ion
6
thấp hầu hết trên các loại nhựa tổng hợp. Trên thị trường có một số anionit
đặc thù dành cho trao đổi nitrat (Lê Văn Cát, 2012) [ 2 ].
Sử dụng một số loại màng thích hợp: màng nanô, màng thẩm thấu
ngược hay điện thẩm tích cũng tách được các hợp chất nitơ đồng thời với các
200-700
1)
2,3
2)
3-6 1,0-1,2 > 75
Bùn hoạt tính,
nitrat hóa, khử từ
nitrit
200-700
1)
1,7
2)
2-4 0,8-0,9 > 75
Bùn hoạt tính,
oxy hóa trực tiếp
giữa NH
3
và NO
2
> 200-700
1
)
0,9 0 < 0,1 > 75
Ao tảo 15-30 0,1-0,1 6-7 10-15 23-78
Ao bèo 3-4 < 0,1 28 20-26 44-77
Vùng ngập nước
nhân tạo
3-26
4)
polyphotphat hay còn gọi là photphat trùng ngưng, muối photphat và photpho
trong tế bào sinh khối.
Xử lý hợp chất photpho dựa trên các nguyên tắc sau:
- Kết tủa photphat (đơn và một phần loại trùng ngưng) với các ion
nhôm, sắt, canxi tạo ra các muối tương ứng có độ tan thấp và tách chúng ra
dưới dạng chất rắn (Nguyễn Thị Hoa Lý (1994) [ 6 ].
Bảng 2.2. Hợp chất photpho và khả năng chuyển hóa
Hợp chất Khả năng chuyển hóa
Photpho hữu cơ Phân hủy thành photphat đơn và trùng ngưng
Photphat đơn Tan, phản ứng tạo muối, tham gia phản ứng sinh hóa.
Polyphotphat Ít tan, có khả năng tạo muối tham gia phản ứng sinh
hoá.
Muối photphat Phần lớn không có độ tan thấp hình thành từ photphat
đơn.
Photpho trong tế bào
Thành phần của tế bào hoặc lượng dư trong tế bào
của một số vi khuẩn.
- Phương pháp sinh học dựa trên hiện tượng là một số loại vi sinh vật
tích lũy lượng photpho nhiều hơn mức cơ thể chúng cần trong điều kiện hiếu
khí. Thông thường hàm lượng photpho trong tế bào chiếm 1,5 - 2,5% khối
lượng tế bào khô, một số loại có thể hấp thu cao hơn, từ 6 - 8%. Trong điều
kiện yếm khí chúng lại thải ra phần tích lũy dư thừa. Quá trình loại bỏ
8
photpho dựa trên hiện tượng trên gọi là loại bỏ photpho tăng cường. Photpho
được tách ra khỏi nước trực tiếp thông qua thải bùn dư (vi sinh chứa nhiều
9
Đồng thời loại bỏ hợp chất nitơ và photphat bằng cách kết tủa chúng
với ion magie tạo thành hợp chất có độ tan thấp là struvite, MgNH
4
PO
4
,
phương pháp này thích hợp cho nước thải có nồng độ cao,
ví dụ nước chiết ra
từ quá trình phân hủy bùn (vi sinh) yếm khí (Lê Văn Cát, 2007) (Lê Văn Cát,
2012) (Lê Văn Cát và cs., 2006) (Lê Văn Chiều, 2012)[ 1,2,3,4].
2.1.5. Xử lý thành phần chứa N, P bằng công nghệ vi sinh
Để xử lý nitơ, photpho bằng công nghệ vi sinh, như các nghiên cứu trên
thế giới đã nêu cần thực hiện hàng loạt quá trình, nhiều khi ở những điều kiện
nghịch nhau.
2.1.5.1. Xử lý N bằng công nghệ vi sinh
Để xử lí N-NH
4
+
trước hết phải thực hiện quá trình oxi hóa N-amôni
thành nitrit hoặc nitrat:
(11/20)NH
4
+
+ (15/20)O
2
−
sẽ được ôxi hóa tiếp thành NO
3
−
(được thực
hiện bởi Nitrobacter), đây là các quá trình được thực hiện bởi các vi khuẩn tự
dưỡng. Để đơn giản hóa ta thể hiện hai quá trình này dưới dạng phương trình
tổng (1).
Nitrat - sản phẩm cuối cùng của quá trình oxy hóa amoni chưa được
xem là bền vững và còn gây độc cho môi trường nên cần được tiếp tục chuyển
hóa về dạng khí nitơ, tức là thực hiện một quá trình khử hóa học, chuyển hóa
trị của nitơ từ +5 (NO
3
-
) về hóa trị không (N
2
) (2). Vi sinh vật thực hiện quá
trình khử nitrat có tên chung là Denitrifier bao gồm ít nhất là 14 loại vi sinh
vật, ví dụ Bacillus, Pseudomonas, Methanomonas,Thiobacillus (
M. Morikawa,
2006)
[13]. Phần lớn loại vi sinh trên thuộc loại tùy nghi với nghĩa là chúng sử
dụng oxy hoặc nitrat, nitrit làm chất oxy hóa (nhận điện tử trong các phản ứng
sinh hóa) để sản xuất năng lượng.
(1/5)NO
3
−
+ (0,5/50)NH
4
+
carbon hữu cơ để xây dựng tế bào ngoài phần sử dụng cho phản ứng khử
nitrat. Rất ít vi sinh vật Denitrifier thuộc loại tự dưỡng, ví dụ loại Thiobacillus
denitrificant sử dụng lưu huỳnh làm chất khử để sản xuất năng lượng và sử
dụng nguồn carbon vô cơ (CO
2
, HCO
3
-
) để xây dựng tế bào. Như vậy, với quá
trình (1) phản ứng cần một lượng nhất định Cacbon vô cơ dưới dạng CO
2
và
độ kiềm (HCO
3
-
); ngược lại quá trình (2) lại cần Cacbon hữu cơ (C
10
H
19
NO
3
là công thức trung bình của nước thải sinh hoạt, C
5
H
7
NO
2
là công thức trung
bình của vi khuẩn).
bất lợi của môi trường sống. Biofilm được hình thành từ các loài vi sinh vật
khác nhau bao gồm cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm như Escheriachia
11
coli, Pseudomonas aeruginosa, Vibrio cholera, Streptococcus sp., Bacillus
subtilis…
(M. Morikawa, 2006)
[13]. Màng sinh học (biofilm) có các tính chất,
vai trò chính:
- Bảo vệ cơ thể vi sinh vật khỏi hệ thống phòng thủ của chính vật chủ hay
vi sinh vật kẻ thù. Các vi sinh vật sống trên biofilm khi liên kết với nhau thường
có khả năng chống chịu cao với các chất kháng khuẩn so với tế bào sống tự do
trong môi trường nuôi cấy (độ chống chịu có thể cao hơn tới 1000 lần).
- Chống lại sự mất nước.
- Chống lại các chất kháng khuẩn thông qua việc tạo kiểu hình mới có
tốc độ sinh trưởng giảm, hạn chế sự tiếp xúc và có khả năng bất hoạt, trung
hòa với các chất kháng khuẩn.
- Nồng độ các chất dinh dưỡng trong biofilm thường tăng cao hơn so
với môi trường xung quanh.
Trong môi trường nước, vi sinh vật tồn tại ở hai trạng thái chính là
dạng huyền phù và dạng màng vi sinh. Trong dạng huyền phù, vi sinh vật tập
hợp lại với nhau thành các tập hợp keo tụ nhỏ có cấu trúc khá lỏng lẻo và các
tập hợp keo tụ đó phân bố khá đều trong môi trường nước. Màng sinh vật là
một tập hợp của vi sinh vật bám trên một chất mang với cấu trúc khá đặc, có
độ dày nhất định (ví dụ 0,1 - 0,3 mm). Ngoài hai dạng chính nêu trên, trong
hệ thống xử lý sử dụng kỹ thuật màng vi sinh luôn tồn tại vi sinh ít hay nhiều
ở trạng thái huyền phù, ví dụ trong kỹ thuật màng vi sinh chuyển động thì 80 -
85 % vi sinh tồn tại trong màng, 15 - 20 % tồn tại ở trạng thái huyền phù.
kết dính do vi sinh tiết ra dưới dạng polymer ngoại bào), trong đó vi sinh vật
tạo thành một lớp có chiều dày khác nhau (từ vài chục µm tới hơn 1 cm,
thường thấy nằm trong khoảng 1mm) bám trên chất mang dạng rắn và có cấu
trúc khá đặc. Phụ thuộc vào nguồn thức ăn và lực cọ sát trong môi trường
nước, cấu trúc của màng vi sinh hình thành cũng khác nhau và do đó ảnh
hưởng đến hiệu quả xử lý. So sánh với kỹ thuật huyền phù màng vi sinh trong
hệ thống xử lý nước thải có những đặc trưng sau:
• Khả năng tích lũy vi sinh cao. Đặc điểm nổi bật của màng vi sinh là
mức độ tập trung vi sinh vật rất cao so với dạng vi sinh trong trạng thái huyền
phù, ví dụ cao hơn 3 - 4 ngàn lần trong các dòng suối bần dưỡng chảy trên núi
cao và 200 lần cao hơn trong nhiều nguồn nước thải. Trong hệ thống xử lý
nước thải theo kỹ thuật bùn hoạt tính, mật độ vi sinh vật được duy trì trong
khoảng 700 - 2500 mg/l, trong khi mật độ vi sinh trong kỹ thuật lọc nhỏ giọt
đạt 2000 - 10000 mg trong một lít của bể lọc.
• Hoạt tính trao đổi chất lớn. Trong nhiều trường hợp quan sát được
hoạt tính vi sinh của màng vi sinh cao hơn nhiều so với vi sinh trong trạng
thái huyền phù. Vì trong tập đoàn vi sinh đó tỷ lệ loại vi sinh vật có hoạt tính
cao chiếm số đông, cũng như mức độ tập trung dinh dưỡng cao (do hấp phụ)
của các thành phần dinh dưỡng trên màng vi sinh. Do tính chất nhầy của
13
màng nên nó có thể bắt giữ cả các thành phần thức ăn ở dạng không tan. Mức
độ tập trung dinh dưỡng cao thúc đẩy sự phát triển của vi sinh và do đó có
hoạt tính cao. Cũng có ý kiến giải thích khả năng tăng hoạt tính nhờ quá trình
biến đổi gien của vi sinh vật trong trạng thái kết khối trong màng.
• Khả năng chống chịu độc tố cao. So với vi sinh vật trong trạng thái
huyền phù, vi sinh vật trong màng có khả năng chống chịu độc tố tốt hơn.
Nguyên nhân của hiện tượng là nhờ sự biến đổi gen hay nhờ nồng độ chất
Thứ hai, mật độ vi sinh cao đòi hỏi nguồn cung cấp thức ăn lớn để
chúng phát triển. Màng vi sinh khá đặc do đó hạn chế quá trình vận chuyển
(khuyếch tán) thức ăn cho vi sinh. Đó là hai hiệu ứng trái chiều nhau và là
một trong những điểm cốt lõi cần được giải quyết để tận dụng được các lợi
thế của kỹ thuật màng sinh vật.
Tăng cường quá trình chuyển khối là vấn đề cần được thúc đẩy và
được giải quyết theo phương hướng:
• Giảm độ dày của lớp màng vi sinh (giảm quãng đường khuếch tán)
mà vần duy trì mật độ sinh khối cao bằng cách sử dụng chất mang có diện
tích lớn.
• Sử dụng loại vật liệu xốp có kích thước mao quản phù hợp để khống
chế độ dày của màng vi sinh và chống quá trình bong màng.
• Tạo điều kiện để chất mang chuyển động trong môi trường nước.
Từ phương hướng giải quyết trên đã hình thành hai kỹ thuật cơ bản
trong công nghệ xử lý nước thải: kỹ thuật tầng lưu thể (fluidized bed, FB) và
màng vi sinh chuyển động (Moving Bed Biofilm Reactor, MBBR). Hai kỹ
thuật này có tính năng chuyển khối cao hơn nhiều so với kỹ thuật lọc sử dụng
tầng tĩnh (fixed bed).
Chất mang sử dụng trong kỹ thuật tầng lưu thể chủ yếu là cát thạch anh
có kích thước mịn (0,15 - 0,3 mm) với diện tích bề mặt tới 20000 m
2
/m
3
. Cát
thạch anh được duy trì chuyển động rất mạnh trong nước để tăng cường quá
trình chuyển khối. Năng lượng duy trì chuyển động của chúng khá cao do
khối lượng riêng của cát nặng (2,4 kg/l). Cát thạch anh có bề mặt nhẵn, vi
sinh khó bám dính và cộng với sự cọ sát nên màng vi sinh bám trên đó dễ bị
bong. Vì lý do trên, rất ít các công trình ngoài thực tế sử dụng kỹ thuật tầng
Hình 2.4. Sơ đồ công nghệ theo kỹ thuật màng vi sinh tầng tĩnh.
Màng vi sinh
chuyển động 1
Màng vi sinh
chuyển động 2
L
ọ
c
Nguồn
thải
Nguồn
thải
Màng vi sinh
tầng tĩnh
16
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trong quá trình xử lý các hợp chất nitơ trong nước, nếu áp dụng kỹ
thuật bùn hoạt tính, cần phải có thời gian lưu bùn lâu (có thể tới 7 ngày ở
chung, ô nhiễm nitơ nói riêng, các nước trên thế giới họ thường áp dụng các
công nghệ sau:
- Công nghệ phổ cập là công nghệ nitrat hóa - khử nitrat. Đây là quá
trình loại bỏ các hợp chất nitơ vô cơ mà sản phẩm cuối cùng tạo thành khí
nitơ, khép kín chu trình nitơ. Công nghệ này mang tính truyền thống và được
ứng dụng ở hầu hết các nước trên thế giới.
- Công nghệ SHARON: Đây là công nghệ được áp dụng đối với loại
nước thải giàu amoni nhưng chứa ít các hợp chất hữu cơ, tức là tỷ lệ C/N
thấp. Quá trình này bỏ đi hai giai đoạn là sự oxy hóa nitrite thành nitrate
(phần thứ hai của quá trình nitrate hóa) và quá trình khử nitrate thành nitrite
(phần đầu của quá trình khử nitrate), do vậy tiết kiệm được tới 40% nhu cầu
về oxy và nguồn COD. Quá trình này được áp dụng rộng rãi ở Hà Lan, Mỹ.
- Quá trình ANAMMOX. Quá trình loại bỏ amoni trong điều kiện kỵ
khí với nitrite là chất nhận điện tử, sản phẩm cuối cùng là khí nitơ, quá trình
này không cần oxy và nguồn COD. Quá trình này được áp dụng rộng rãi ở Hà
Lan, Mỹ.
- Quá trình SHARON-ANAMMOX, CANON là những quá trình kết
hợp phần đầu của quá trình nitrate hóa (oxy hóa amoni thành nitrite) và quá
trình ANAMMOX để loại bỏ amoni với hàm lượng cao. Các quá trình này có
thể được thực hiện trên một hoặc hai bể phản ứng.
Quá trình loại bỏ amoni kỵ khí đã và đang được các nước khác nhau
trên thế giới quan tâm nghiên cứu và áp dụng, tùy thuộc vào mỗi nước mà
hình thành các công nghệ với những tên gọi khác nhau như: quá trình
aerobic/anoxic deamomnification ở Đức, quá trình OLAND (oxygen limited
autotrophic nitrification-denitrification) ở Bỉ, quá trình CANON ở Hà Lan.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, tình trạng ô nhiễm amoni trong nước thải tại các làng nghề