kế hoạch phát triển thị trường của công ty cổ phần Thành Đức đến 2012 - Pdf 30

Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Trờng đại học kinh tế quốc dân
khoa kế hoạch và phát triển
---------oOo---------
CHUYÊN Đề TốT NGHIệP
CHUYÊN Đề TốT NGHIệP
Đề tài:
Kế hoạch phát triển thị trờng của công ty cổ
phần thành đức đến 2012
Sinh viên thực hiện : phạm thị mận
Lớp : kế hoạch a
Giáo viên hớng dẫn : ts. Nguyễn tiến dũng
Hà Nội, 04 - 2008
Phm Th Mn Lp: K hoch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU.
Sau hơn hai mươi năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có rất nhiều
thay đổi. Chúng ta chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ
chế thị trường. Sự thay đổi tất yếu này đã tác động mãnh mẽ đến sự phát
triển của các thành phần kinh tế và đổi mới tư duy kinh tế của các doanh
nghiệp. Trong cơ chế mới, quy luật của thị trường được chấp nhận, mọi
thành phần, tổ chức kinh tế được bình đẳng phát triển và cạnh tranh. Cạnh
tranh ngày càng ở mức độ cao thì mỗi doanh nghiệp càng cần phải có những
công cụ biện pháp quản lý, những chiến lược, tầm nhìn rộng để nắm bắt cơ
hội phát triển, chiếm lĩnh thị trường.
Đối với một doanh nghiệp thì phát triển và mở rộng thị trường là rất
quan trọng. Nhưng để làm được điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự cố
gắng, lỗ lực và có kế hoạch cụ thể. Sau một thời gian thực tập tại công ty cổ
phần Thành Đức, dựa vào bản báo cáo tổng hợp em đã chọn đề tài:”Kế
hoạch phát triển thị trường của công ty cổ phần Thành Đức”. Trong khuôn

tường khác nhau. Nhưng thị trường luôn là nơi trao đổi hàng hoá, dịch vụ, là
nơi gặp gỡ giữa cung và cầu.
Đối với một doanh nghiệp, một cách chung nhất, thị trường là tập hợp
các cá nhân, tổ chức mà về lý thuyết, có thể mua sản phẩm( thị trường tiềm
năng). Quy mô thực tế của thị trường này không chỉ phụ thuộc vào dân số
mà còn phụ thuộc vào sức mua và mong muốn mua( thị trường thực tế).
Thị trường được cấu thành bởi ba yếu tố: Cung, cầu, giá cả.
Việc phân loại thị trường cũng căn cứ vào nhiều yếu tố.
- Dựa vào vị trí của sản phẩm trong tái sản xuất, thị trường được
chia thành thị trường đầu ra và thị trường đầu vào.
Phạm Thị Mận Lớp: Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Căn cứ vào tính chất kinh doanh có thị trường bán buôn và thị
trường bán lẻ.
- Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh thị trường được chia ra thị
trường hàng hoá, thị trường dịch vụ, thị trường sức lao động, thị trường tài
chính.
- Dựa vào phạm vị lưu thông có thị trường dân tộc, thị trường
khu vực, thị trường thế giới.
1.2.Vai trò, chức năng của thị trường.
1.2.1.Vai trò.
Đối với một doanh nghiệp thì mục tiêu luôn là tối đa hoá lợi nhuận. Sản
phẩm của một doanh nghiệp phải được trao đổi trên thị trường. Lợi nhuận,
doanh thu của doanh nghiệp cũng được thu về từ thị trường. Vì vậy, thị
trường quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.Mặc dù bản thân
nó không tránh khỏi những khiếm khuyết như thông tin không đầy đủ, cung
cấp hàng hoá công cộng… Nhưng nói chung doanh nghiệp và thị trường
luôn có mối quan hệ chặt chẽ. Doanh nghiệp luopon chịu sự tác động, phụ
thuộc rất nhiều vào thị trường. Một doanh nghiệp không thể tồn tại nếu
không gắn với thị trường và không được thị trường thừa nhận.

Thị trường thừa nhận công cụ xã hội của hàng hoá( giá trị sử dụng) và
lao động đã chi phí để sản xuất ra nó, thông qua việc hàng hoá đó có bán
được không? Và bán với giá như thế nào?
Khi một sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường tức là sản phẩm đã được
chấp nhận. Và hàng hoá, dịch vụ đó phải được thực hiện giá trị trao đổi.
Chức năng điều tiết của thị trường thông qua việc kích thích hay hạn chế
sản xuất kinh doanh. Câu hỏi sản xuất với sản lượng bao nhiêu là do thị
Phạm Thị Mận Lớp: Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trường quyết định. Doanh nghiệp không thể tự mình áp đặt sản xuất với
lượng sản phẩm bao nhiêu mà phải dựa vào cầu thị trường, cầu của ngành và
cầu của doanh nghiệp.
Thị trường điều tiết sự ra nhập hay rút lui khỏi ngành của doanh nghiệp.
Khi cung thị trường về một sản phẩm vượt quá cầu thì điều tất yếu là một số
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này phải rút lui khỏi thị trường hoặc
sản xuất với sản lượng ít hơn. Quá trình đào thải sẽ diễn ra khi một doanh
nghiệp không còn đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Ngược lại, khi cung
thiếu hụt, hoặc một ngành mà mang lại lợi nhuận cao, sức hút lớn thì sẽ kích
thích sự tham gia của các doanh nghiệp ngoài ngành và những nhà đầu tư
mới. Việc ra nhập hay rút lui khỏi ngành còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố của
thị trường và lĩnh vực đó. Ví dụ rào cản ra nhập hay rút lui khỏi ngành, mức
độ hấp dẫn của ngành, sự liên kết của các nhà cung ứng sẵn có, hay mức độ,
nhu cầu của thị trường.
Thị trường còn kích thích các nhà đầu tư giỏi. Điều tất yếu là khi một
nhà đầu tư giỏi sẽ hoạt động tốt và đứng vững trên thị trường. Ngược lại,
những đầu tư kém hiệu quả sẽ bị sụp đổ. Các mặt hàng mới, lĩnh vực có lợi,
có tiềm năng cũng sẽ được kích thích phát triển. Bởi vì các mặt hàng mới thì
luôn thu hút được sự quan tâm, kích thích người mua muốn mua. Và khi cầu
tăng thì cung sẽ phải tăng để đáp ứng nhu cầu. Và đối với các doanh nghiệp,
các nhà đầu tư thì mục đích cuối cùng vẫn là lợi nhuận. Vì vậy, họ sẽ tìm

mở rộng theo địa lý hay mở rộng theo khách hàng.
Mở rộng theo sản phẩm tức là đưa thêm nhiều dạng sản phẩm, hàng hoá,
dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu, thị hiếu của khách hàng từ đó tối đa việc
tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Doanh nghiệp sẽ xác định lĩnh vực hoạt
Phạm Thị Mận Lớp: Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
động, nhóm hàng hoặc một sản phẩm mà doanh nghiệp có lợi thế nhất để tập
trung nguồn lực vào sản xuất kinh doanh.
Có hai hướng là có thể mở rộng sản phẩm mới hoàn toàn theo công
năng, giá trị sử dụng. Theo đuổi mục đích này doanh nghiệp phải đầu tư chi
phí lớn về máy móc, thiết bị, nghiên cứu thị trường, giới thiệu sản phẩm ra
thị trường…Hoặc hướng thứ hai mà doanh nghiệp có thể theo đuổi là cải
tiến, hoàn thiện sản phẩm, thay thế sản phẩm hiện có. Doanh nghiệp sẽ có
các thay đổi về chất lượng, kiểu dáng, kích thước, bao bì, nhãn hiệu,… tạo
sự khác biệt cho sản phẩm của mình.
Mở rộng theo địa lý tức là mở rộng địa bàn hoạt động của doanh nghiệp
bằng hệ thống các đại lý, cửa hàng, quầy hàng, điểm bán…. Mở rộng địa lý
có thể thực hiện tại khu vực đang hoạt động của doanh nghiệp, hoặc xâm
nhập vào nhưng khu vực mới, thị trường.
Mở rộng theo khách hàng từ những khách hàng truyền thống , khách
hàng mới, khách hàng tiềm năng mà doanh nghiệp xác định. Doanh nghiệp
tiến hành phân chia khách hàng theo nhóm tuổi, giới tính, thu nhập, thị
hiếu… Nghiên cứu nhu cầu, mong muốn của từng nhóm đối tượng và dựa
vào khả năng của mình để có chiến lược cụ thể cho từng nhóm đối tượng.
Mở rộng thêm đối tượng phục vụ dựa vào hành vi tiêu thụ, phạm vi địa lý và
căn cứ vào mối quan hệ khách hàng, doanh nghiệp.
1.3.2. Các phương thức phát triển thị trường.
Các doanh nghiệp có thể phát triển thị trường theo hai phương thức
chính. Đó là phát triển theo chiều rộng hoặc theo chiều sâu hoặc doanh
nghiệp có thể phát triển đồng thời trên hai phương diện cả về chiều rộng lẫn

đáo.
Phạm Thị Mận Lớp: Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Nhu cầu về sản phẩm của doanh nghiệp tại các thị trường hiện tại của
doanh nghiệp tương đối lớn và ổn định.
+ Vòng đời sản phẩm còn đang trong giai đoạn phát triển trên thị trường
đó.
+ Doanh nghiệp có quy mô hạn chế.
1.3.3.Sự cần thiết phải phát triển thị trường.
1.3.2.1. Xu thế chung của nền kinh tế.
Nếu như trước kia nền kinh tế Việt Nam còn có sự phân biệt giữa thành
phần kinh tế nhà nước và tư nhân, thậm chí chúng ta chủ trương chỉ phát
triển thành phần kinh tế nhà nước. Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung thị
trường và các quy luật của thị trường không tồn tại. Các doanh nghiệp thực
hiện sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước do đó không có động lực
để phát triển. Khi các quan hệ kinh tế thị trường không được thừa nhận thì sẽ
dẫn đến nền kinh tế đi ngược quy luật và đổi mới là tất yếu. Hiện nay, tất cả
các thành phần kinh tế đều bình đẳng và có cơ hội phát triển. Sự can thiệp
của nhà nước giảm dần và chuyển từ can thiệp trực tiếp sang can thiệp gián
tiếp bằng các chính sách vĩ mô. Sự bình đẳng này cũng dẫn đến các doanh
nghiệp luôn phải cạnh tranh và cạnh tranh bình đẳng trên thị trường. Do đó,
để có thể đứng vững thì không còn cách nào khác mỗi doanh nghiệp phải tự
lựu chọn cho mình một hướng đi và có những chiến lược chiếm lĩnh thị phần
nhất định.
Khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật bùng nổ các giới hạn về địa lý
không còn là vấn đề đáng quan tâm, thị trường của doanh nghiệp không bị
bó hẹp trong nước cũng như khu vực. Các doanh nghiệp có cơ hội vươn ra
nước ngoài thì cũng có nguy cơ bị xâm nhập bởi các doanh nghiệp nước
ngoài. Cạnh tranh gay gắt hơn và doanh nghiệp không thể không nghiên cứu
Phạm Thị Mận Lớp: Kế hoạch 46A

1.3.2.3. Các quy luật của nền kinh tế.
Quy luật cạnh tranh.
Trong nền kinh tế, khái niệm cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua
giữa các doanh nghiệp trong việc giành lấy một nhân tố sản xuất hoặc khách
hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường. Cạnh tranh có thể đưa
lại lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác, song xét dưới góc độ
lợi ích toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực. (Ví dụ: chất lượng
tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn...). Giống như các quy luật sinh tồn và
đào thải tự nhiên, quy luật của cạnh tranh là thải loại những thành viên yếu
kém trên thị trường, duy trì và phát triển những thành viên tốt nhất và qua đó
hỗ trợ đắc lực cho quá trình phát triển toàn xã hội.
Quy luật cung cầu.
Quy luật về vòng đời sản phẩm. Một sản phẩm bắt đầu được tung ra thị
trường, đến giai đoạn tăng trưởng, phát triển rồi bão hòa và biến mất khỏi thị
trường. Do vậy để một doanh nghiệp có thể tồn tại được thì khi vòng đời của
sản phẩm còn chưa chấm dứt doanh nghiệp cần phải không ngừng mở rộng
quy mô và liên tục cải tiến sản phẩm của mình trên nhiều phương diện nhằm
thu được lợi nhuận tối đa và có những sản phẩm mới thay thế sản phẩm cũ
khi nó đến giai đoạm bão hòa.
1.4. Các yếu tố tác động đến phát triển thị trường.
1.4.1. Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô.
 Môi trường kinh tế: Thực trạng kinh tế và xu hướng trong tương lai có
sự ảnh hưởng đến thành công của doanh nghiệp. Môi trường kinh tế trước
hết phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh tế chung về cơ cấu ngành kinh tế,
cơ cấu vùng kinh tế, lạm phát.Môi trường kinh tế cũng bao gồm các yếu tố
ảnh hưởng đến sức mua và cơ cấu chi tiêu của người tiêu dùng như thu nhập,
sự phân hoá thu nhập.
Phạm Thị Mận Lớp: Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
 Môi trường công nghệ, kỹ thuật: Môi trường công nghệ bao gồm các

M. Porter đã đưa ra mô hình năm áp lực cạnh tranh:
Trong một ngành sẽ bao gồm nhiều doanh nghiệp có thể đưa ra các sản
phẩm và dịch vụ giống nhau hoặc tương tự để có thể thay thế được cho
nhau. Nhiệm vụ của các nhà kinh doanh là phải phân tích và phán đoán
các thế lực cạnh tranh trong môi trường ngành để xác định các cơ hội và
đe doạ đối với doanh nghiệp của họ. Và điều tất nhiên, mỗi lực lượng
trong số 5 lực lượng trên càng mạnh thì càng hạn chế khả năng cho các
doanh nghiệp có cơ hội mở rộng thị trường của mình.
 Về đối thủ hiện tại:
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong một ngành sản xuất thường bao
gồm các nội dung chủ yếu như: cơ cấu cạnh tranh ngành, thực trạng cầu
của ngành và các rào cản lối ra.
Phạm Thị Mận Lớp: Kế hoạch 46A
Doanh nghiệp và
đối thủ hiện tại
Sản phẩm thay
thế
Đối thủ tiềm ẩn
Khách hàngNhà cung ứng
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Cơ cấu cạnh tranh của ngành dựa vào khả năng phân phối sản phẩm của
doanh nghiệp trong ngành sản xuất. Cơ cấu cạnh tranh khác nhau có các ứng
dụng khác nhau cho cạnh tranh. Thông thường ngành riêng lẻ bao gồm một
số lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ, không có một doanh nghiệp nào trong
số đó có vị trí thống trị ngành. Trong khi đó một ngành tập trung có sự chi
phối bởi một số ít các doanh nghiệp lớn thậm chí chỉ một doanh nghiệp duy
nhất gọi là độc quyền. Bản chất và mức độ cạnh tranh đối với các ngành tập
trung rất khó phân tích và dự đoán.
- Tình trạng cầu của một ngành là một yếu tố quyết định về tính mãnh liệt
trong cạnh tranh nội bộ ngành. Thông thường, cầu tăng tạo cho doanh

thành công. Bên cạnh đó, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp
chinh phục được thị hiếu, sở thích của khách hàng. Khách hàng sẽ luôn tìm
được những điều mới từ sản phẩm của doanh nghiệp so với các đối thủ trên
thị trường mà doanh nghiệp xâm nhập.
- Về uy tín hay thương hiệu của doanh nghiệp ngày nay cũng là một trong
những yếu tố then chốt. Sản phảm của một doanh nghiệp có uy tín lớn và đã
gây dựng được thương hiệu trên thị trường sẽ dễ được khách hàng chấp nhận
hơn. Thương hiệu của doanh nghiệp như một sự bảo đảm của doanh nghiệp
với khách hàng và tạo ra ưu thế nhất định so với đối thủ cạnh tranh. Nhất là
đối với doanh nghiệp muốn mở rộng thị trường thì thương hiệu của doanh
nghiệp sẽ khiến cho sản phẩm dễ tạo được lòng tin với khách hàng và có thể
được khách hàng chấp nhận với mức giá cao hơn sản phẩm cùng loại.
- Về tiềm lực của doanh nghiệp như quy mô tài chính, load động, công nghệ,
hệ thống phân phối, con người,.. trong doanh nghiệp cũng ản hưởng tới việc
Phạm Thị Mận Lớp: Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phát triển thị trường của doanh nghiệp. Nếu nghiệp có đội ngũ quản trị giỏi,
đội ngũ công nhân lành nghề thì doanh nghiệp sẽ thích ứng nhanh và nắm
bắt được các cơ hội kinh doanh.
Đối thủ tiềm ẩn: Đây là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh trong
cùng một ngành sản xuất, nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và
quyết định gia nhập ngành. Đây là đe doạ cho các doanh nghiệp hiện tại và
mức độ của cạnh tranh sẽ trở nên khốc liệt hơn.Cơ hội để doanh nghiệp phát
triển thị trường sẽ bị thu hẹp bởi các đối thủ tiềm ẩn này.
 Nhà cung ứng
Nhà cung ứng có thể được coi là một áp lực đe doạ khi họ có khả năng tăng
giá bán đầu vào hoặc giảm chất lượng của các sản phẩm, dịch vụ mà họ
cung cấp. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và giá thành của sản phẩm.
 Sản phẩm thay thế
Là sản phẩm khác có thể thoả mãn cùng nhu cầu của người tiêu dùng. Đặc

Trước kia, trong nền kinh tế kế haọch hoá tập trung hệ thống chỉ tiêu kế
hoạch là cơ sở điều tiết mọi hoạt động tổ chức và quản lý của doanh nghiệp.
Khi đó, kế hoạch sẽ tạo ra các tỷ lệ tiết kiệm và tích luỹ cao, thực hiện được
các cân đối cần thiết trong tổng thể kinh tế quốc dân, nề kinh tế đạt được
những mức cung ứng cần thiế để nền kinh tế phát triển. Nhờ cơ chế kế hoạch
hoá nhà nước có thể hướng các nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục
tiêu và các lĩnh vực ưu tiên trong từng thời kỳ.
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải thường
xuyên đối mặt với các quy luật thị trường, những dấu hiệu của thị trường là
cơ sở để doanh nghiệp đưa ra các quyết định của mình. Tuy vậy, kế hoạch
Phạm Thị Mận Lớp: Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hoá vẫn thực sự cần thiết. Nó giúp tập trung sự chú ý của các hoạt động
trong doanh nghiệp vào các mục tiêu. Thị trường rất linh hoạt và thường
xuyên biến động, kế hoạch và quản lý bằng kế hoạch giúp các doanh nghiệp
dự kiến được những cơ hội, thách thức có thể xẩy ra để quyết định nên làm
cái gì, làm như thế nào, khi nào làm và ai làm trong một thời kỳ nhất định.
Nếu như không có kế hoạch và tổ chức quá trình hoạt động thông qua các
mục tiêu định lập trước thì rủi ro trong hoạt động sẽ tăng lên.
Công tác kế hoạch giúp ứng phó với các bất định và thay đổi của thị
trường. Do đó, ngoài việc soạn lập kế hoạch thì phải tiến hành các nội dung
khác của công tác kế hoạch hoá như triển khai thực hiện, kiểm tra, điều
chỉnh.
Công tác kế hoạch hoá tạo khả năng tác nghiệp kinh tế trong doanh
nghiệp. Công tác kế hoạch hoá giúp doanh nghiệp cực tiểu chi phí, chú trọng
vào các hoạt động hiệu quả. Kế hoạch thay thế sự hoạt động manh mún,
không được phối hợp bằng sự nỗ lực có định hướng chung, thay thế luồng
hoạt động bất thường bằng các luồng hoạt động đều đặn, thay thế các phán
xét vội vàng bằng những quyết định có cân nhắc.
Công tác kế hoạch hoá tạo cơ sở cho việc nhìn nhận logic các nội dung

2.3.Kế hoạch phát triển thị trường.
2.3.1. Quan niệm.
Phạm Thị Mận Lớp: Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Kế hoạch phát triển thị trường là một bộ phận của kế hoạch tác
nghiệp.Kế hoạch phát triển thị trường là quá trình phân tích tình hình thị
trường, nhu cầu, mong muốn và những biến đổi trong thị hiếu, biến đổi của
thị trường. Từ đó, doanh nghiệp sẽ căn cứ vào khả năng, lợi thế của mình và
đối thủ cạnh tranh để xác định các chỉ tiêu, mục tiêu tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp cho từng vùng, từng sản phẩm, khách hàng và đưa ra các giải
pháp thực hiện để thực hiện mục tiêu đã đề ra.
Trong phát triển thị trường, doanh nghiệp có thể xâm nhập sâu vào thị
trường mục tiêu với những giải pháp marketing mạnh mẽ hơn trên thị trường
đã có để tăng mức tiêu thụ, thu hút thêm khách hàng bằng các cải tiến về sản
phẩm, thay đổi chính sách giá cả hay các tiện ích cho khách hàng…thu hút
thêm khách hàng tiềm ẩn. Doanh nghiệp cũng có thể xâm nhập vào các đoạn
thị trường mới để tăng lượng tiêu thụ.
Căn cứ để doanh nghiệp xác định các mục tiêu phát triển và lập kế hoạch
phát triển thị trường là những nghiên cứu về thị trường, thị trường mới, mức
tiêu thụ của đối thủ cạnh tranh. Các kết quả tiêu thu của doanh nghiệp thời
kỳ trước và khả năng về tài chính, sản xuất, nhân sự của doanh nghiệp.
2.3.2. Vai trò và mục tiêu.
2.3.2.1. Vai trò.
Kế hoạch phát triển thị trường có sự liên kết với các kế hoạch khác trong
doanh nghiệp. Kế hoạch giúp doanh nghiệp nắm bắt, duy trì và mở rộng thị
trường một cách tốt hơn. Khi doanh nghiệp chuẩn bị tung ra sản phẩm mới
hay có ý định cải tiến sản phẩm, xâm nhập vào thị trường mới sẽ có những
căn cứ, hướng đi và thực hiện theo những trình tự logic tránh mò mẫm.
Kế hoạch thị trường giúp doanh nghiệp hạn chế những rủi ro khi tiến
hành ra nhập đoạn thị trường mới. Đặc biệt thị trường ngày càng biến động

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khi doanh nghiệp dự tính tung sản phẩm mới vào thị trường hoặc mở
rộng phạm vi phục vụ tới những khách hàng tiềm năng, xâm nhập vào khu
vực địa lý khác thì mục tiêu của kế hoạch phát triển thị trường là sản phẩm
được chấp nhận, thu hút được khách hàng và chiếm được thị phần nhất định
trên đoạn thị trường mới đó.
Khi hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều muốn sản
phẩm của mình được thị trường chấp nhận và bán được hết hàng. Mục tiêu
của phát triển thị trường cũng không nằm ngoài mong muốn này.
Đối với một doanh nghiệp thì hình ảnh của doanh nghiệp trong tâm trí
khách hàng và hình ảnh sản phẩm, nhãn hiệu sản phẩm là rất quan trọng. Đối
với cùng một loại sản phẩm, khàch hàng sẽ quyết định lựa chon nhãn hiệu
mà khách hàng tin tưởng và có ấn tượng tốt, và có cảm tình với tên tuổi
doanh nghiệp. Do đó, để đạt được mục tiêu cuối cùng thì việc tạo hình ảnh
tốt, tăng vị thế, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường và trong tâm trí
khách hàng là cực kỳ quan trọng.
2.4.Nội dung của kế hoạch phát triển thị trường.
Một bản kế hoạch phát triển thị trường tốt sẽ là cơ sở thực hiện và
chương trình hành động của công ty để đạt được mục tiêu. Thông thường
một bản kế hoạch về phát triển thị trường sẽ bao gồm những kết luận từ
nghiên cứu thị trường; những tóm lược về thực hiện của côgn ty như doanh
số, sản lượng tiêu thụ, lợi nhuận; hiện tình thị trường của công ty như sản
phẩm, cạnh tranh, phân phối, giá cả…; phân tích các cơ hội, thách thức,
điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp. Và rất quan trọng trong bản kế
hoạch là các mục tiêu về khối lượng tiêu thụ, thị phần, lợi nhuận trên những
đoạn thị trường mà doanh nghiệp hướng theo đuổi. Sau khi có các mục tiêu
sẽ là các giải pháp, chương trình hành động dự kiến làm gì, khi nào làm, ai
làm chi phí bao nhiêu? Trong bản kế hoạch cũng có thể dự kiến lỗ lãi,
Phạm Thị Mận Lớp: Kế hoạch 46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

về qui mô thị trường, sản phẩm thay thế, khách hàng tiềm năng, thái độ
khách hàng, đối thủ cạnh tranh. Từ đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các quyết
định mở rộng hay thu hẹp mạng lưới phân phối, mở rộng thì sẽ mở rộng theo
hướng nào? Đưa sản phẩm mới nào thì tốt? Thị trường mà doanh nghiệp
hướng tới là gì?
2.4.2. Xây dựng các căn cứ xác định mục tiêu.
Để xác định được mục tiêu của kế hoạch doanh nghiệp cần có các kết
quả nghiên cứu thị trường, nghiên cứu môi trường bên trong và bên ngoài
doanh nghiệp.
Để có thể tranh những mục tiêu xa vời hoặc mục tiêu quá thấp làm lãng
phí nguồn lực thì lập kế hoạch cần có kết quả, tình hình nguồn lực của công
ty như khả năng sản xuất, khả năng tài chính, nhân sự, nguồn vốn.
Một yếu tố rất quan trọng làm căn cứ cho xác định mục tiêu của doanh
nghiệp là tình hình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Tình hình tiêu thụ
thể hiện ở tổng mức cung ứng ra thị trường, thị phần của doanh nghiệp, tốc
độ tăng trưởng thị phần, tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận của từng
mặt hàng.
2.4.3. Xác định các chỉ tiêu đánh giá và xây dựng mục tiêu.
Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kế hoạch và đánh giá thành công, đánh
giá quá trình thực hiện kế hoạch phải được xây dựng một cách thông nhất và
đồng bộ.
Các chỉ tiêu để đánh giá là doanh thu, lợi nhuận, tốc độ tăng doanh thu
và lợi nhuận; thị phần, tốc độ tăng trưởng của thị phần; cơ cấu và tốc độ tăng
của từng loại sản phẩm.
2.4.4. Đưa ra các giải pháp thực hiện.
Phạm Thị Mận Lớp: Kế hoạch 46A

Trích đoạn Tăng cường cỏc hoạt động Marketing
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status