VAI TRÒ CỦA TRỌNG ÂM TIẾT NHỊP TRONG CÂU TIẾNG VIỆT
Hoàng Thị Thanh Huyền
1 Theo quan điểm của ngữ âm học truyền thống, các ngôn ngữ có trọng âm
từ thường không có thanh điệu, còn trong các ngôn ngữ âm tiết tính có thanh điệu, thì
“không nên nói về trọng âm trong ý nghĩa nghiêm ngặt” của nó. Vậy, tiếng Việt –
một loại hình ngôn ngữ đơn lập, trọng âm có tồn tại hay không? Trả lời cho câu hỏi
này, tác giả bài báo “Vai trò của trọng âm tiết nhịp trong câu tiếng Việt” sẽ góp
thêm một ý kiến nhằm khẳng định sự tồn tại của nó trong lời nói của người Việt.
1. Đặt vấn đề
1.1. Trọng âm là một trong những đơn vị siêu đoạn tính (siêu tuyến tính) - đơn vị được nghiên
cứu ở lĩnh vực ngữ âm. Nó được hiểu là sự nhấn mạnh vào một yếu tố nào đó của từ hay câu. Sự nhấn
mạnh làm cho yếu tố đó được phát âm mạnh hơn, dài hơn và cao hay thấp hơn. Âm tiết mang trọng
âm, do đó, khác hẳn với những âm tiết khác. Điều này đã tạo nên “sự tương phản giữa các tiếng (âm
tiết) về độ dài, độ mạnh và tính trọn vẹn về đường nét thanh điệu” [1; tr137]. Sự tương phản này được
gọi là sự đối lập về trọng âm.
1.2. Trên thực tế, vấn đề trọng âm thường chỉ đặt ra đối với các ngôn ngữ thuộc loại hình phi
âm tiết tính (tổng hợp tính) như tiếng Anh, Nga, Đức Đối với những loại hình ngôn ngữ này, trọng
âm tồn tại một cách hiển nhiên trong bản thân mỗi từ. Nó là đặc trưng ngôn điệu của từ, có chức năng
quyết định đến ý nghĩa từ vựng học của từ. Đó là chức năng tạo đỉnh (liên kết các âm tiết trong từ lại
thành một chỉnh thể ngữ âm) và chức năng phân giới từ (phân biệt ý nghĩa của từ này với từ khác và
phân biệt hình thái từ) (so sánh: present [’prezent] (món quà, thời hiện tại) và present [pri’zent) (giới
thiệu, trưng bày, trình bày)).
1.3. Tiếng Việt, theo sự mô tả truyền thống thì không có sự tồn tại của trọng âm. Lí do là
tiếng Việt đã có một hệ thống thanh điệu khá phong phú, đủ “tư cách” để đảm đương vai trò thể hiện
sự nâng cao hay hạ thấp giọng nói trong một âm tiết. Tuy nhiên, thời gian gần đây, một số nhà nghiên
cứu ngôn ngữ học đã nghi ngờ điều đó và nhận định rằng: tiếng Việt, bên cạnh sự tồn tại của thanh
điệu thì đồng thời vẫn có sự “góp mặt” của trọng âm. Chẳng hạn, L. Thomson cho rằng trong tiếng
nghĩa – ngữ pháp. Sự thể hiện các âm tiết trong chuỗi lời nói theo những cách thức khác nhau về độ
mạnh – yếu, nặng – nhẹ, cao – thấp được gọi là tiết nhịp.
Mỗi câu (phát ngôn) tiếng Việt đều mang một hay nhiều trọng âm, mỗi trọng âm đánh dấu một
ngữ đoạn (theo quan niệm ngữ pháp) hay tiết nhịp (theo quan điểm ngữ âm). Trọng âm được đặt vào âm
tiết cuối cùng hay duy nhất của mỗi ngữ đoạn. Trong một chuỗi câu, trọng âm có chức năng phân giới từng
ngữ đoạn và giữa các ngữ đoạn kế tiếp nhau. Mỗi ngữ đoạn như vậy tương ứng với một nhóm tiết nhịp.
Trọng âm trong ngữ đoạn được gọi là trọng âm tiết nhịp. [2, tr214]
Ví dụ:
(1) Chị ấy// đi chợ // mua gà // về nhà // làm cơm // tiếp khách.
0 1 0 1 0 1 0 1 0 1 0 1
(2) Tre // giữ làng // giữ nước // giữ mái nhà tranh // giữ đồng lúa chín.
1 0 1 0 1 0 0 0 1 0 0 0 1
(Số [0] để chỉ các tiếng không có trọng âm và số [1] để chỉ các tiếng có trọng âm.
Kí hiệu [//] là kí hiệu phân định ranh giới tiết nhịp).
Như vậy, trọng âm thường rơi vào âm tiết cuối cùng của mỗi tiết nhịp. Nó là cái mốc để đánh
dấu tiết nhịp này với tiết nhịp khác trong chuỗi lời nói liên tục.
Theo giáo sư Cao Xuân Hạo, nếu một câu hay ngữ đoạn có ngữ khí từ hay tiểu từ tình thái ở
cuối thì câu hay ngữ đoạn đó sẽ kết thúc bằng một khinh âm. Chẳng hạn:
(3) Tôi về nhé! [010]
(so sánh với Tôi về nhà [001] hay Tôi về ngay [001]).
Đây cũng là tiêu chí để phân biệt một số ngữ khí từ với những thực từ đồng âm với nó. So
sánh:
(4) Đi hay không? [101] và Có đi không? [010]
Mô hình [101] cho phép người nghe hiểu “không” tồn tại với cương vị của một thực từ, giống
với cấu trúc trong những câu như: sách hay bút? đi hay ở? Còn với cấu trúc [010] thì “không” có
cương vị của một tiểu từ tình thái.
Dựa trên những đặc điểm đó, có thể xác định tiêu chí phân loại tiết nhịp như sau:
- Về ngữ âm: mỗi nhóm tiết nhịp sẽ được phát âm liên tục, không ngắt quãng, có đường nét âm
điệu riêng và kết thúc bằng một trọng âm ở âm tiết cuối (trừ trường hợp âm tiết cuối là hư từ).
- Về ngữ pháp: mỗi nhóm tiết nhịp sẽ tương ứng với một đơn vị ngữ pháp nào đó trong câu.
sử dụng trong quá trình giao tiếp nhằm đạt những mục đích giao tiếp khác nhau. Xét về bản chất, khi
đóng vai trò làm thay đổi quan hệ ngữ pháp giữa các nhóm tiết nhịp trong câu thì đồng thời, trọng âm
cũng làm thay đổi luôn quan hệ ý nghĩa giữa chúng. Đối với tiếng Việt, những hiện tượng “đồng tự”
mà người ta thường gọi là câu mơ hồ hay cấu trúc mơ hồ là một trong những hiện tượng phổ biến
trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Việt. Tuy nhiên, bằng giọng điệu, bằng trọng âm, bằng sự
ngắt nhịp người ta có thể dễ dàng làm mất đi tính mơ hồ trong ngôn ngữ viết.
(10) Mẹ con đi chợ chiều mới về.
Nếu câu này được thể hiện bằng ngôn ngữ ở dạng viết thì thật khó để xác định đây là câu nói
của ai (người mẹ / đứa con hay của nhân vật thứ ba nói về hai mẹ con), cũng thật khó để xác định nội
dung thông báo của câu là gì (đi chợ mới về hay đi chợ buổi chiều mới về). Nhưng nếu câu đó được
thể hiện bằng phát ngôn và đặt trong hoàn cảnh cụ thể thì người nghe dễ dàng hiểu được ý nghĩa của
chúng. Cụ thể, nó có thể được biểu đạt bằng những ý nghĩa sau:
a. Mẹ con // đi chợ // chiều mới về.
b. Mẹ con // đi chợ chiều // mới về.
c. Mẹ // con đi chợ // chiều mới về.
d. Mẹ // con đi chợ chiều // mới về.
Trong tiếng Việt, tương tự với những kiểu nói hay cấu trúc phát ngôn trên, chúng ta có thể
tìm thấy hàng loạt, chẳng hạn:
(11) Xin lỗi anh // tôi sai.
Xin lỗi // anh tôi sai.
(12) Bỏ nhau không được // ở với nhau.
Bỏ nhau // không được ở với nhau.
(13) Bài tập này // khó có thể làm được.
Bài tập này khó // có thể làm được.
(14) Tôi nói // mãi nó mới nghe.
Tôi nói mãi // nó mới nghe.
(15) Mẹ mắng // tôi không đi chơi nữa.
Mẹ mắng tôi // không đi chơi nữa.
(16) Con học // bố chữa xe.
Con học bố // chữa xe.
2.2.4. Trên phương diện văn bản, người viết có thể sử dụng các loại dấu ngắt câu trong việc
phân định ranh giới tiết nhịp. Tuy nhiên, sử dụng phương tiện hỗ trợ này không phải bao giờ cũng
thay thế hoàn toàn cho vai trò của trọng âm. Thực tế cho thấy, có một số trường hợp rất khó thực hiện
bằng phương tiện dấu ngắt. Chẳng hạn:
(26) Chúng ta hãy dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em.
(27) Mẹ gửi cho con một triệu đồng qua đường bưu điện.
Trong khi đó, bằng phương tiện ngữ âm, dễ dàng phân định ra:
-> Chúng ta // hãy dành tất cả những gì tốt đẹp nhất // cho trẻ em.
-> Mẹ // gửi cho con // một triệu đồng // qua đường bưu điện.
Hoặc:
(28) Hổ mang bò lên núi.
Câu này rất dễ dẫn tới hai cách hiểu: cách thứ nhất là “con hổ mang con bò lên núi” và cách
thứ hai là “con hổ mang (tên một loài rắn) bò lên núi”. Theo cách hiểu thứ nhất, trọng âm tiết nhịp sẽ
được thể hiện như sau:
-> Hổ // mang bò // lên núi.
1 0 1 0 1
Theo cách thứ hai, các vị trí của trọng âm trong câu sẽ là:
-> Hổ mang // bò lên núi.
0 1 0 0 1
Những kết quả phân tích ở trên đã cho thấy một tình hình quan trọng là: vấn đề thể hiện vị trí
trọng âm trong câu là điều quan trọng, quyết định tới ý nghĩa câu nói. Mỗi câu tiếng Việt đều tiềm
tàng trong nó một lượng thông tin nhất định. Quả là rất khó để hiểu được ý nghĩa nội hàm của những
trường hợp ở trên nếu như tách khỏi văn cảnh hoặc không sử dụng chính xác vị trí trọng âm, cách
ngắt nhịp trong câu. Xét về phương diện này thì vai trò của thanh điệu không thể thay thế được.
3. Kết luận
Đối với loại hình ngôn ngữ âm tiết tính như tiếng Việt, vai trò của trọng âm đã bị “mờ nhạt”
đi trước sự tồn tại của thanh điệu. Tuy nhiên, sẽ là không đúng nếu có thái độ cực đoan cho rằng tiếng
Việt hoàn toàn không có trọng âm. Qua những kết quả đã phân tích ở trên, tác giả bài báo đã phần nào
minh chứng cho sự tồn tại của nó trong lời nói của chúng ta. Có thể khẳng định rằng, sự có mặt của nó
là vô cùng quan trọng trong quá trình phân định ranh giới để xác định quan hệ ngữ pháp, nội dung ý