CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM TỪ MỘT
SỐ MỤC TIÊU
Nguyễn Thị Nhung
1
Tóm tắt: Một trong những vấn đề mà các quốc gia trên thế giới quan tâm hàng đầu là tăng
trưởng kinh tế. Tuy nhiên Việt Nam trong những năm qua chủ yếu vẫn là tăng trưởng nóng,
tăng trưởng theo chiều rộng. Để phát triển kinh tế bền vững chúng ta cần quan tâm đến chất
lượng tăng trưởng: như tăng trưởng theo chiều sâu, tăng trưởng phải bảo vệ môi trường.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Có nhiều cách tiếp cận vấn đề chất lượng tăng trưởng kinh tế. Chất lượng tăng trưởng
kinh tế là sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, thể hiện qua năng suất
các nhân tố tổng hợp tăng và ổn định, mức sống của người dân được nâng cao không ngừng,
cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp với từng thời kì phát triển, sản xuất có tính cạnh tranh
cao, đi theo đó là tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, quản lí kinh tế của nhà
nước có hiệu quả…[3]. Khác với chất lượng tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế
phản ánh mặt ngoài của quá trình tăng trưởng, thể hiện mức độ lớn, nhỏ, nhanh, chậm của
việc mở rộng qui mô của nền kinh tế. Chất lượng tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng trưởng
kinh tế là hai mặt của một vấn đề, có quan hệ biện chứng và thống nhất với nhau. Trong quá
trình phát triển kinh tế, việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế phải đồng thời nâng cao
chất lượng tăng trưởng kinh tế, điều đó mới tạo nên sự phát triển kinh tế bền vững.
Như vậy, chất lượng tăng trưởng kinh tế thể hiện qua các đặc trưng sau:
- Tốc độ tăng trưởng cao và được duy trì trong một thời gian dài.
- Tăng trưởng có hiệu quả, thể hiện qua năng suất lao động cao và ổn định, và đóng góp
của TFP cao (hệ số tổng hợp các yếu tố như sự thay đổi công nghệ, tăng trưởng kĩ năng sản
xuất, vốn nhân lực và các yếu tố khác liên quan tới tăng trưởng kinh tế).
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng nâng cao hiệu quả, phù hợp với từng giai đoạn
phát triển.
- Nền kinh tế có tính cạnh tranh cao.
- Tăng trưởng kinh tế đi đôi với đảm bảo hài hòa đời sống xã hội.
thể theo năm 2006 cả nước là 2.1 % trong khi đó khu vực thành thị là 4,8% nhưng đến năm
2011 cả nước có 2.3 % và khu vực nhà nước tỷ lệ này giảm còn 3,6%. Điều này, thể hiện Việt
Nam không chỉ quan tâm đến tăng trưởng mà còn quan tâm đến tăng trưởng phải giải quyết
được việc làm[3].
Tăng trưởng kinh tế cao nhưng vẫn có sự đổi mới cơ cấu kinh tế: từ năm 2000 đến nay,
đổi mới về cơ cấu ngành kinh tế được thực hiện trên một số mặt chủ yếu: xét về tổng thể cơ
cấu ngành kinh tế ở Việt Nam đã có sự chuyển dịch theo hướng hiện đại: tỷ trọng nhóm
ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản tiếp tục giảm, tỉ trọng nhóm ngành công nghiệp - xây
dựng tăng lên, tỉ trọng nhóm ngành dịch vụ đã chặn lại được sự giảm sút liên tục trong 10
năm. Cơ cấu thành phần kinh tế cũng có sự chuyển biến khá rõ nét, thể hiện sự tham gia ngày
càng nhiều và sâu rộng của khu vực ngoài quốc doanh, đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài vào các hoạt động kinh tế. Theo xu hướng này, tỉ trọng trong GDP của kinh tế
nhà nước giảm xuống, tỉ trọng trong GDP của khu vực ngoài quốc doanh và khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài tăng đánh dấu những bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở nước
ta.
Về Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế: mặc dù chỉ số cạnh tranh tổng hợp toàn cầu năm
2009 của Việt Nam chưa có cải thiện nhưng Diễn đàn Kinh tế thế giới vẫn đánh giá Việt Nam
đã có nhiều tiến bộ trong việc cải thiện năng lực cạnh tranh kể từ 2001 (năm đầu tiên Việt
Nam được Diễn đàn Kinh tế xếp hạng), thậm chí về trung và dài hạn, Việt Nam có nhiều
điểm mạnh và có tiềm năng tăng trưởng cao “rất giống với Trung Quốc”.
Về tiến bộ và công bằng xã hội: đánh giá mảng giáo dục chúng ta thấy trong những năm
qua sự nghiệp giáo dục phát triển mới về qui mô, đa dạng hóa các loại hình trường lớp từ
mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học. Trong báo cáo giám sát giáo dục toàn cầu năm
2005, Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc UNESCO đánh giá về tiến
bộ thực hiện mục tiêu “giáo dục cho tất cả đến năm 2015” do Liên hợp quốc đề ra, chỉ số
giáo dục cho tất cả của nước ta được xếp vị trí 64/127 nước được xếp hạng, đứng trên một số
nước trong khu vực như Indonesia, Philipin, Ấn Độ.
Kết quả tăng trưởng cũng đem lại những thay đổi quan trọng với lĩnh vực y tế. Hệ thống
y tế tạo điều kiện cho tất cả người dân có nhu cầu đều được thụ hưởng các dịch vụ khám,
chữa bệnh ở các bệnh viện công và bệnh viện ngoài công lập. Số lượng cán bộ ngành y gia
chung của nền kinh tế. Nguyên nhân sâu xa của tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam
là do trong những năm qua, Việt Nam đã chọn mô hình trăng trưởng và cơ chế phân bổ
nguồn lực chưa hợp lí. Việc định hướng ưu tiên phân bổ nguồn lực cho doanh nghiệp, ngành
và dự án dùng nhiều vốn, ưu ái các vùng có khả năng tăng trưởng cao đã tạo ra sự bất cân đối
giữa các vùng miền và làm gia tăng bất bình đẳng giữa khu vực kinh tế nhà nước và khu vực
tư nhân. Thêm vào đó, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã dẫn đến tình trạng mất đất
của nông dân. Ở Đồng bằng sông Mêkông, 1/3 người nghèo nông thôn không có đất, và tỉ lệ
người dân mất đất đã tăng gấp đôi. Hệ quả là nguồn thu nhập chính của họ bị giảm sút mạnh,
khiến khoảng cách nông thôn và thành thị ngày càng gia tăng. Đó là chưa kể quá trình chuyển
đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường cũng tạo ra những cú sốc và tổn
thương đối với tầng lớp lao động và người nghèo ở nước ta. Do vậy, hạn chế trong khả năng
tiếp cận với hệ thống an sinh xã hội cũng làm gia tăng bất bình đẳng. Bất bình đẳng gia tăng
làm cho việc nâng cao chất lượng tăng trưởng gặp nhiều khó khăn.
Tăng trưởng kinh tế nhưng đối mặt với vấn đề cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng. Thực tế cho thấy, một đất nước dù có tài nguyên thiên nhiên dồi dào đến đâu
cũng khó thể trở nên thịnh vượng và phát triển tốt đẹp nếu không có cách ứng xử đúng mực.
Đây cũng là tình trạng của chúng ta khi tài nguyên thiên nhiên được xem là phong phú, với
trên 5.000 mỏ và khoảng 60 loại khoáng sản, nhưng vẫn không làm đất nước giàu lên, đặc
biệt người dân sống ngay trong khu vực chứa đựng tài nguyên vẫn bị cái nghèo đeo bám.
2.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới
Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Trước hết, tăng cường đầu tư cho khoa học công nghệ nhằm nâng cao trình độ khoa học
công nghệ, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn.
Tiếp theo, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả các chính sách khuyến khích
đầu tư trong nước nhằm thu hút vốn đầu tư của khu vực tư nhân.
Đồng thời, tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngoài nước, cụ thể là FDI
và ODA.
Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, coi đây là nhân tố chính quyết định tốc độ
và chất lượng của tăng trưởng kinh tế.
trọng tâm cần làm trước còn việc bảo vệ môi trường thì sẽ thực hiện sau và có thừa tiền để
sửa sai nếu xảy ra ô nhiễm môi trường… Xã hội hoá giáo dục môi trường cần được thực hiện
và triển khai nhanh chóng đối với các chủ thể kinh tế.
Hai là, việc đưa các vấn đề môi trường vào trong quá trình lập kế hoạch phát triển quốc
gia nói chung, trong phát triển kinh tế nói riêng phải được coi là một trong những giải pháp
quan trọng để vượt qua thách thức về môi trường; cần sớm đưa bảo vệ môi trường thành một
ngành kinh tế, thành chính sách kinh tế điều tiết hoạt động phát triển.
Ba là, giảm thiểu giới hạn mâu thuẫn giữa hệ thống kinh tế và hệ thống sinh thái thông
qua việc thích ứng mục tiêu kinh tế và cách thức tác động nó vào nhu cầu sinh thái.
Bốn là, áp dụng biện pháp kinh tế trong quản lí môi trường: đánh thuế các sản phẩm có
thể và gây ô nhiễm môi trường, thu lệ phí với các hoạt động kinh tế gây ô nhiễm môi trường,
cấm hoạt động đối với các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường, kiên quyết xử lí các vi
phạm về môi trường của các tổ chức, cá nhân theo Luật Môi trường ban hành; ưu đãi, đầu tư
cho các hoạt động kinh tế thân thiện, cải thiện với môi trường tự nhiên.
Giải pháp tăng trưởng kinh tế cao đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
- Thực hiện triệt để việc cải cách hành chính và đổi mới phương thức quản lí nhà nước,
giảm thiểu tối đa những cơ chế đòi hỏi có sự xét duyệt cấp phép trực tiếp của cơ quan quản lí
nhà nước, thúc đẩy việc phát triển các tổ chức dịch vụ của hiệp hội ngành nghề thực hiện
chức năng dịch vụ công thay cho các cơ quan nhà nước; đẩy mạnh việc xây dựng “chính phủ
điện tử”, nâng cao tính minh bạch, công khai công việc của các cơ quan chính quyền…
- Tiếp tục chuyển đổi mạnh cơ cấu nền kinh tế, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, tập trung nâng
cao nhanh năng lực cạnh tranh chung của nền kinh tế.
- Nghiên cứu, xây dựng và ban hành kịp thời các cơ chế, chính sách phù hợp với các quy
định của WTO, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp có được các thông tin về thị trường và xúc tiến
thương mại ở nước ngoài; xây dựng các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, đẩy mạnh xuất khẩu,
nâng cao năng lực cạnh tranh trong tiến trình hội nhập….
- Tập trung quan tâm giải quyết các vấn đề kết cấu hạ tầng như cung cấp điện, hệ thống
hạ tầng giao thông và thông tin cho nền kinh tế, khắc phục tình trạng yếu kém của kết cấu hạ
tầng để không ảnh hưởng gây ách tắc đến quá trình phát triển và chiến lược hội nhập. Cần
nhanh chóng xây dựng chiến lược khả thi với lộ trình tích cực để căn bản khắc phục được
6. Shahid Yusuf, Remodelling East Asian Development, Asean Economic Bulletin, No.4,
2002.
QUALITY OF ECONOMIC GROWTH IN VIETNAM FROM A NUMBER
OF GOALS
Nguyen Thi Nhung
Abstract
One of the problems that the nations of the world are interested in leading economic
growth. In Vietnam, in recent years mainly hot growth, growth in width. To develop a
sustainable economy we need to consider the quality of growth: as intensive growth, growth
to protect the environment