MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, thể dục thể thao (TDTT) Việt Nam đã thu
được rất nhiều thành quả to lớn. Điều đó được chứng minh cụ thể bằng những
bảng vàng thành tích. Những tấm huy chương mà vận động viên (VĐV) đã
mang về cho đất nước từ những đấu trường khu vực, châu lục cũng như trên thế
giới. TDTT ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội và
tinh thần của con người. Ở Việt Nam Cầu Lông chiếm một vị trí quan trọng
trong hoạt động văn hóa TDTT của quần chúng nhân dân lao động, được Đảng,
Nhà nước và toàn xã hội quan tâm phát triển.
Hệ thống thi đấu Cầu Lông ở nước ta được tổ chức từ cơ sở đến giải vô
địch toàn quốc theo chu kỳ hàng năm. Cầu Lông cũng được đưa vào thi đấu
chính thức tại Đại hội TDTT toàn quốc, Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc. Trước
tình hình và nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn mới của ngành TDTT nói chung và
môn Cầu Lông nói riêng, việc nâng cao thành tích thề thao môn Cầu Lông được
đặt ra như một tất yếu khách quan và hệ thống thi đấu quốc gia cũng phải dần
được kiện toàn để trong những năm tới Cầu Lông Việt Nam sẽ có vị trí xứng
đáng trong khu vực.
Cầu Lông là môn thể thao được du nhập vào nước ta muộn hơn so với
một số môn thể thao khác, song nó nhanh chóng phát triển và được mọi tầng lớp
nhân dân yêu thích.Tập luyện và thi đấu Cầu Lông giúp nâng cao sức khỏe, thành
tích thể thao mà còn nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
Trong thi đấu Cầu Lông đòi hỏi các VĐV cần phải kết hợp nhuần nhuyễn
giữa các yếu lĩnh kỹ thuật, chiến thuật, tâm lý, với việc phát triển các tố chất thể
lực, đặc biệt là tố chất sức mạnh tốc độ. Muốn tấn công đối phương dành điểm,
các VĐV phải thực hiện được những đường cầu khéo và mạnh. Do đó, sức
mạnh trong môn Cầu Lông giữ vai trò quan trọng. Nó được thể hiện trong kỹ
thuật đập cầu, phông cầu, bạt cầu, sức bật của chân. Đây là những nhân tố chủ
yếu tấn công đối phương trong quá trình thi đấu.
Tỉnh Bắc Kạn là nơi huấn luyện, đào tạo nhiều môn thể thao thành tích
cao trong đó có môn Cầu Lông. Vì vậy, việc nghiên cứu lựa chọn các bài tập,
1
Để giải quyết mục tiêu trên, đề tài dự kiến nghiên cứu những nội dung sau :
Thực trạng kết quả một số giải thi đấu của nam VĐV Cầu Lông lứa tuổi
14 - 15 tỉnh Bắc Kạn.
Thực trạng kế hoạch huấn luyện cho nam VĐV Cầu Lông lứa tuổi 14 - 15
tỉnh Bắc Kạn.
Thực trạng sử dụng các bài tập huấn luyện sức mạnh tốc độ cho nam
VĐV Cầu Lông lứa tuổi 14 - 15 tỉnh Bắc Kan.
Lựa chọn các test đánh giá sức mạnh tốc độ cho nam VĐV lứa tuổi 14 -15
tỉnh Bắc Kạn.
Thực trạng sức mạnh tốc độ của nam VĐV Cầu Lông lứa tuổi 14 - 15 tỉnh
Bắc Kạn.
Mục tiêu 2 : Lựa chọn, đánh giá hiệu quả bài tập phát triển sức mạnh tốc
độ cho nam VĐV lứa tuổi 14 - 15 tỉnh Bắc Kạn
Để giải quyết mục tiêu này, đề tài tiến hành nghiên cứu các nội dung:
Cơ sở lý luận chọn bài tập (các yêu cầu lựa chọn, nguyên tắc lựa chọn)
Cơ sở thực tiễn chọn bài tập:
+ Phỏng vấn các chuyên gia, các HLV, giáo viên
+ Xây dựng kế hoạch thực nghiệm
+ Tổ chức thực nghiệm và đánh giá kết quả các bài tập đã lựa chọn trên đối
tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Các bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho nam VĐV Cầu Lông lứa tuổi
14 - 15 tỉnh Bắc Kạn.
Phạm vi nghiên cứu:
- Khách thể của đối tượng nghiên cứu: Nam VĐV Cầu lông lứa tuổi 14 - 15
tỉnh Bắc Kạn.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Ý nghĩa của công tác huấn luyện thể lực cho VĐV Cầu Lông
Trong huấn luyện thể thao nói chung và Cầu Lông nói riêng, huấn luyện
thể lực có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt là cơ sở chính để thực hiện kỹ, chiến
thuật và nâng cao hiệu quả thi đấu cho VĐV. Là môn thể thao thi đấu đối kháng
gián tiếp cá nhân, thời gian một trận đấu Cầu Lông tùy thuộc vào trình độ giữa
các VĐV, song thời gian trung bình cho 1 hiệp đấu là từ 15 đến 20 phút. Do đó,
một trận đấu có thể từ 30 đến 60 phút. Điều này đòi hỏi ở VĐV Cầu Lông phải
có một trình độ thể lực vững vàng để thi đấu trong những tình huống khó khăn
căng thẳng nhất.
Trong thi đấu Cầu Lông các VĐV thường sử dụng chủ yếu kỹ thuật
bằng năng lực tốc độ và sức mạnh như các bước di chuyển, đập cầu cao sâu
Một trận đấu Cầu Lông thông thường có từ 80 – 85% các kỹ thuật đòi hỏi sức
mạnh tốc độ. Với lối đánh thực dụng hiệu quả trong Cầu Lông hiện đại đòi hỏi
những yêu cầu cao về các tố chất thể lực đã hình thành xu hướng tập luyện với
thời gian dài, cường độ lượng vận động lớn và đây là xu hướng thứ nhất trong
huấn luyện thể lực cho VĐV Cầu Lông.
Thi đấu Cầu Lông hiện đại thường được thể hiện với tốc độ cao và cường
độ lớn, đặc biệt ở các giải lớn. Mỗi trận đấu càng ở vòng trong càng mang tính
chất căng thẳng, quyết liệt, do đó đòi hỏi mỗi VĐV có sự chuẩn bị tốt về thể lực.
Trong suốt thời gian trận đấu hoặc ngay trong mỗi tình huống cụ thể đòi hỏi các
VĐV phải di chuyển hợp lý trên sân, bật nhảy tấn công liên tục, thực hiện động
tác rồi lại di chuyển để tiếp tục kỹ thuật khác. Bởi vậy, một yêu cầu trong huấn
luyện thể lực cho VĐV là phải giúp họ có khả năng thích ứng về thể lực chuyên
môn cao.
1.2. Khái niệm và các quan điểm về sức mạnh tốc độ
Theo quan điểm lý luận thì sức mạnh tốc độ là khả năng khắc phục lực
cản với tốc độ co cơ nhanh của VĐV, Sức mạnh tốc độ có thể xác định thành
tích trong các môn thể thao hoạt động không chu kỳ như: các động tác (đấm, đá)
5
của các môn thể thao đối kháng hoặc trong các môn bóng như: bóng đá, bóng
ném
và ức chế ở trung khu vận động vỏ não cho nên nâng cao được tính linh hoạt của
quá trình thần kinh.
- Hệ hô hấp : là lượng oxy/phút lớn bởi vì cường độ tối đa nhưng do thời
gian hoạt động tối đa ngắn nên sự thiếu oxy không nhiều, tần số hô hấp tăng lên
không đáng kể.
- Hệ vận động : do quá trình hưng phấn của VĐV cao nên đòi hỏi chức
năng hoạt động ở cơ quan vận động rất cao, thời trị cơ bắp ngắn, thời trị cơ co
giãn và cơ đối kháng giống nhau.
- Huyết áp : khi tập các bài tập sức mạnh tốc độ thì huyết áp của các VĐV
cũng tăng lên nhưng tốc độ tăng không cao lắm. Huyết áp tối đa 150-160
mmHg.
1.3.2 Cơ sở lý luận của sức mạnh tốc độ
Cũng giống như huấn luyện các loại sức mạnh khác ( sức mạnh, bền ) sự
phát triển của sức mạnh tốc độ đòi hỏi không những nâng cao sức mạnh tối đa.
Thông thường để phát huy tốc độ cao nhất con người phải khắc phục lực cản
bên ngoài khá lớn, Trong trường hợp đó để phát huy tốc độ thì phụ thuộc vào cơ
bắp.
Sự phát triển sức mạnh tốc độ không ngừng nâng cao tốc độ co cơ mà còn
nâng cao sức mạnh tối đa của VĐV. Tốc độ vận động cao thì phải phù hợp với
huấn luyện sức mạnh tối đa và sức mạnh nhanh với nhau đó là phương pháp
huấn luyện rất quan trọng. Việc huấn luyện này phải đảm bảo một cách tốt nhất
về năng lực sức mạnh tối đa thành năng lực sức mạnh tốc độ.Vì vậy mà huấn
luyện sức mạnh tốc độ yêu cầu phải chính xác về tất cả kỹ thuật động tác đó là
điều quan trọng nhất cho việc sử dụng sức mạnh tốc độ có hiệu quả hợp lý.
Do tác dụng của huấn luyện sức mạnh tốc độ phụ thuộc chủ yếu vào hưng
phấn tối ưu của hệ thần kinh trung ương. Bởi vậy người ta tiến hành nó trong
điều kiện cơ thể mệt mỏi.
7
Nếu phát triển năng lực sức mạnh tốc độ cho các động tác có chu kỳ có
thể theo nguyên tắc hướng tới tần số động tác về phương pháp tổ chức huấn
em rất quý trọng, các em sợ mang tiếng là “ yếu đuối “, cho mình vẫn là “ trẻ
con “ Vì vậy, khi HLV xem thường kết quả tập luyện của các em hoặc không
đánh giá, động viên kịp thời thì các em sẽ nhanh chóng chán nản tập luyện.
Như vậy ở lứa tuổi này là tuổi quá độ và cũng là giai đoạn rất nhạy cảm,
các em luôn muốn thử sức mình theo các phương hướng khác nhau. Do vậy,việc
nắm bắt được những đặc điểm tâm lý ở lứa tuổi này là điều rất quan trọng đối
với các giáo viên và HLV. Do đó, HLV phải thường xuyên quan sát và giáo dục
cho phù hợp, dựa trên cơ sở tính tích cực, phát huy tính sáng tạo, tạo điều kiện
phát triển khả năng tốt nhất của các em, giáo dục các em trở thành con người có
năng lực và nhân cách tốt.
1.4.2 Đặc điểm sinh lý
Ở lứa tuổi này có bước nhảy vọt, cơ thể có những biến đổi đa dạng về cấu
tạo, chức năng sinh lý dưới tác dụng của nhiều yếu tố như môi trường sống và di
truyền. Trong quá trình tập luyện TDTT cũng sẽ ảnh hưởng tới cơ thể người tập,
do đó những hoạt động tập luyện không phù hợp với đặc điểm về lứa tuổi, giới
tính và trình độ tập luyện của đối tượng. Do đó, việc nghiên cứu và tìm hiểu các
đặc điểm sinh lý của đối tượng là một việc làm hết sức quan trọng nó đóng góp
tích cực vào việc tập luyện, thi đấu của VĐV và nâng cao thành tích của VĐV.
- Hệ thần kinh : não bộ đang thời kỳ hoàn chỉnh, hoạt động của thần kinh
chưa ổn định, hưng phấn chiếm ưu thế. Vì vậy, khi tập luyện các VĐV dễ tập trung
tư tưởng nhưng nếu thời gian kéo dài, nội dung nghèo nàn, hình thức hoạt động
đơn điệu thì thần kinh sẽ chóng mệt mỏi và dễ phân tán sự chú ý.
- Hệ tuần hoàn : tim phát triển chậm hơn so với sự phát triển mạch máu,
sức co bóp còn yếu, khả năng điều hòa hoạt động của tim chưa ổn định nên khi
hoạt động quá nhiều, quá căng thẳng sẽ chóng mệt mỏi. Vì vậy trong tập luyện
cần đảm bảo nguyên tắc vừa sức và nguyên tắc tăng dần yêu cầu trong tập luyện
tránh hoạt động quá sức và quá đột ngột.
- Hệ hô hấp: Phổi của VĐV chưa hoàn thiện, phế nang còn nhỏ, các cơ hô
hấp chưa phát triển, dung lượng phổi còn bé. Vì vậy, khi hoạt động các VĐV
9
tuổi 14 - 15 tỉnh Bắc Kạn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã tham khảo, phân tích và tổng hợp
những nguồn tài liệu khác nhau, chủ yếu là các nguồn tài liệu thuộc trường Đại
Học TDTT Bắc Ninh như :
- Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất
- lý luận và phương pháp TDTT
- Sinh lý học TDTD
- Tâm lý học TDTT
- Phương pháp toán học thống kê
- Giáo trình Cầu Lông
- Huấn luyện thể lực cho VĐV Cầu Lông
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm.
Là phương pháp được đề tài sử dụng trong quá trình điều tra thực trạng
việc sử dụng các bài tập huấn luyện sức mạnh tốc độ. Mặt khác, thông qua hình
11
thức dùng phiếu phỏng vấn chúng tôi tiến hành lựa chọn bài tập ứng dụng trong
huấn luyện sức mạnh chuyên môn cũng như hệ thống các test đánh giá sức mạnh
trước và sau thực nghiệm của đối tượng nghiên cứu.
Nội dung phỏng vấn tập trung vào các vấn đề sau :
- Tìm hiểu về kế hoạch huấn luyện cho VĐV Cầu Lông nói chung và
lứa tuổi 14 - 15 nói riêng của tỉnh Bắc Kạn.
- Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác huấn luyện.
- Các bài tập sử dụng cho công tác huấn luyện đặc biệt là bài tập nhằm
phát triển sức mạnh tốc độ cho VĐV.
- Công tác kiểm tra đánh giá trình độ của VĐV trong đó đặc biệt chú
trọng đến những nội dung tiêu chuẩn kiểm tra về sức mạnh tốc độ.
Đề tài tiến hành phỏng vấn 20 giảng viên, HLV, các chuyên gia môn Cầu
Lông. Kết quả sử dụng phương pháp nghiên cứu này được chúng tôi trình bày ở
phần kết quả nghiên cứu của đề tài.
2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm
x
i
∑
=
- Phương sai :
1
)(
1
2
2
−
−
=
∑
=
n
xx
n
i
i
x
σ
Với n < 30
- Độ lệch chuẩn :
2
xx
σσ
=
- So sánh 2 số trung bình :
B
yyxx
r
1 1
22
1
)()(
))((
δ
∑
−
−
−
−=
n
i
ii
BA
nn
r
1
2
2
)(
)1(
6
1
13
viết phần tổng quan .
* Giai đoạn 2 : Từ tháng 07/2010 đến tháng 10/2010
- Lập phiếu phỏng vấn, tiến hành phỏng vấn các đối tượng nghiên cứu
giải quyết nhiệm vụ một. Lựa chọn bài tập, Tổ chức nghiên cứu và lấy số liệu.
* Giai đoạn 3 : Từ tháng 11/2010 đến tháng 06/2011
- Xử lý số liệu nghiên cứu, viết và hoàn thiện đề tài, báo cáo đề tài trước
Hội đồng khoa học.
14
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đánh giá thực trạng công tác huấn luyện sức mạnh tốc độ cho
nam VĐV Cầu lông lứa tuổi 14 - 15 tỉnh Bắc Kạn.
3.1.1. Thực trạng kết quả thi đấu một số giải của nam VĐV Cầu lông
lứa tuổi 14 - 15 tỉnh Bắc Kạn.
Tỉnh Bắc Kạn là nơi huấn luyện, đào tạo nhiều môn thể thao thành tích
cao trong đó có môn Cầu lông được đông đảo quần chúng tham tập luyện.
Khi tiếp xúc với đội tuyển Cầu lông, nhóm nam lứa tuổi 14 - 15 tỉnh Bắc
Kạn (các em đã có 3 - 4 năm tập luyện chuyên sâu, nghĩa là đã trải qua một giai
đoạn huấn luyện chung tương đối đầy đủ để bây giờ có thể thực hiện các nhiệm
vụ chuyên môn ban đầu). Vấn đề huấn luyện thể lực chuyên môn cho các VĐV
lứa tuổi 14 - 15 được ban huấn luyện tỉnh rất quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp
tới việc thực hiện các kỹ, chiến thuật. Tuy nhiên, qua quan sát các VĐV thi đấu
tại một số giải trong nước như: Hội khoẻ Phù Đổng toàn quốc, giải Cầu lông trẻ
toàn quốc… và qua theo dõi băng hình ghi lại một số trận thi đấu mà Ban huấn
luyện cung cấp cùng với sự quan sát một số buổi tập thi đấu của các em chúng
tôi nhận thấy:
Khả năng thi đấu còn nhiều hạn chế. Trong đó đặc biệt thể hiện ở những
kỹ thuật cần sử dụng nhiều đến yếu tố sức mạnh tốc độ như : Di chuyển, đập
cầu, phông cầu… Chính vì lý do trên mà thành tích thi đấu của VĐV Cầu Lông
tỉnh Bắc Kạn qua những năm gần đây rất khiêm tốn, điều này được thể hiện cụ
Lứa tuổi 14 - 15 tỉnh Bắc Kạn còn hạn chế là do việc chuẩn bị tố chất thể lực
chuyên môn chưa tốt, đặc biệt là sức mạnh tốc độ.
3.1.2. Thực trạng kế hoạch huấn luyện cho nam VĐV Cầu lông lứa
tuổi 14 - 15 tỉnh Bắc Kạn.
16
Để đánh giá thực trạng về sức mạnh tốc độ cho nam VĐV Cầu lông lứa
tuổi 14 - 15 tỉnh Bắc Kạn, đề tài đã tiến hành tìm hiểu, quan sát kế hoạch huấn
luyện, nội dung, cách thức tập luyện và nhận thấy:
Bắc Kạn là nơi có phong trào tập luyện Cầu lông khá phát triển. Với một
bề dày truyền thống thì môn Cầu lông được phổ biến khá rộng rãi ở Bắc Kạn và
đã nhanh chóng được quần chúng nhân dân đón nhận và tập luyện. Chính vì vậy
số lượng VĐV của tỉnh tham gia tập luyện rất đông. Sở thể dục thể thao tỉnh Bắc
Kạn đã thành lập nhiều lớp năng khiếu Cầu lông với nhiều trình độ và lứa tuổi
khác nhau. Tuy phong trào phát triển mạnh như vậy nhưng thành tích trong mấy
năm gần đây của môn thể thao này trong các giải thi đấu toàn quốc của các
VĐV Cầu lông tỉnh Bắc Kạn còn nhiều hạn chế.
Trong công tác giảng dạy và huấn luyện môn Cầu lông thì các HLV cần
trang bị và hoàn thiện kỹ chiến thuật cho các VĐV là nhiệm vụ hàng đầu của
quá trình huấn luyện. Huấn luyện thể lực được hoàn thiện sẽ là tiền đề cho việc
thực hiện các động tác được tốt và có hiệu quả hơn. Có như vậy trong quá trình
thi đấu VĐV mới có thể phát huy được sức mạnh trong các tình huống, phát huy
được khả năng dứt điểm để dành được thắng lợi. Mặt khác việc trang bị thể lực
toàn diện cho VĐV là nhiệm vụ thường xuyên và liên tục của giáo viên, HLV
trong suốt quá trình huấn luyện. Điều này không chỉ đòi hỏi ở mỗi cán bộ TDTT
về khả năng tư duy linh hoạt mà ngay cả những năng lực chuyên môn, khả năng
thực hiện kỹ thuật động tác và trình độ của người thầy, người HLV.
Để tìm hiểu thực trạng kế hoạch huấn luyện vận động viên Cầu lông lứa
tuổi 14 - 15 tỉnh Bắc Kạn đề tài đã đi vào nghiên cứu một số vấn đề sau.
3.1.2.1. Thời gian huấn luyện
- Thời gian dành cho các nội dung huấn luyện.
quả được trình bầy ở bảng 3.3.
Bảng 3.3. Tỷ lệ thời gian huấn luyện thể lực của nam VĐV Cầu lông
lứa tuổi 14 - 15 Tỉnh Bắc Kạn.
18
TT Nội dung Số giờ Tỷ lệ %
1 Sức nhanh 38 21,22
2 Sức mạnh tốc độ 35 19,55
3 Sức bền 41 22,90
4 Mềm dẻo 22 12,29
5 Khả năng phối hợp vận động 43 24,02
Tổng 179
Qua bảng 3.3 cho thấy: Tỷ lệ thời gian huấn luyện thể lực cho các nam
VĐV Cầu lông lứa tuổi 14 - 15 tỉnh Bắc Kạn chưa hợp lý, thời gian giành cho
huấn luyện sức mạnh tốc độ còn thấp (19,55%) và chưa có quy định cụ thể thời
gian cho công tác giảng dạy huấn luyện từng loại sức mạnh (sức mạnh tương
đối, sức mạnh tuyệt đối, sức mạnh tốc độ và sức mạnh bền). Như vậy thời gian
dành cho huấn luyện sức mạnh tốc độ là rất ít.
Tóm lại, qua phỏng vấn và khảo sát thực tiễn công tác giảng dạy, huấn
luyện môn Cầu lông cho nam VĐV Cầu lông lứa tuổi 14 - 15 tỉnh Bắc Kạn cho
thấy các HLV tuy đã xác định được vai trò của huấn luyện sức mạnh tốc độ là
rất quan trọng nhưng trong thực tế giảng dạy và huấn luyện sức mạnh tốc độ đã
không dành thời gian thích đáng cho sự phát triển năng lực này mà chỉ tập trung
vào giảng dạy và huấn luyện kỹ thuật cơ bản.
19
3.1.3. Thực trạng sử dụng các bài tập huấn luyện sức mạnh tốc độ cho
nam VĐV Cầu lông lứa tuổi 14 - 15 tỉnh Bắc Kạn.
Để đánh giá thực trạng một cách chính xác việc sử dụng các bài tập phát
triển sức mạnh tốc độ cho nam VĐV Cầu lông lứa tuổi 14 - 15 tỉnh Bắc Kạn đề
tài tiến hành quan sát và theo dõi quá trình huấn luyện cùng với việc thực hiện
các bài tập của VĐV thông qua tập luyện và thi đấu. Kết quả được trình bày ở
tài liệu tham khảo. Chúng tôi thấy các test kiểm tra tuân thủ theo hai nguyên tắc:
- Nguyên tắc 1: Các test lựa chọn phải đánh giá toàn diện về mặt tố chất,
kỹ thuật phù hợp với lứa tuổi VĐV.
- Nguyên tắc 2: Việc lựa chọn test phải đảm bảo tính tin cậy và mang tính
thông báo cần thiết của đối tượng nghiên cứu.
Căn cứ vào 2 nguyên tắc trên đề tài đã tổng hợp tham khảo các test kiểm
tra, đánh giá được sử dụng trong quá trình đào tạo, tuyển chọn VĐV ở tỉnh Bắc
Kạn. Đề tài tìm hiểu bằng hình thức phỏng vấn bằng phiếu hỏi các HLV, giáo
viên (Tại Trung tâm TDTT Bắc Kạn, Trường ĐH TDTT Bắc Ninh). Số phiếu
phát đi là 20 phiếu, số phiếu thu về là 20 phiếu.
21
Bảng 3.5.Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá việc tập luyện sức
mạnh tốc độ của nam VĐV Cầu lông lứa tuổi 14 - 15 tỉnh Bắc Kạn.
Stt
Kết quả phỏng vấn
Nội dung các test
Rất
quan trọng
Quan
trọng
Bình
thường
Tổng
điểm
1. Chạy 100m (s) 10 4 6 44
2 Nhảy dây 30s (lần) 17 2 1 56
3 Gập Bụng 30s (lần) 12 5 3 49
4 Nằm sấp chống đẩy 20 s (lần) 19 1 0 58
5 Bật bục cao 45cm 30s (lần) 9 4 7 42
6 Tại chỗ bật nhảy đập cầu 30s (lần) 16 3 1 55
1 Nhảy dây 30s (lần) 0.893 <0.05
2 Nằm sấp chống đẩy20s ( lần ) 0.835 <0.05
3 Di chuyển lên xuống 15s (lần) 0.843 <0.05
4 Tại chỗ bật nhảy đập cầu 30s (lần) 0.859 <0.05
Qua bảng cho thấy hệ số tương quan giữa các test đề tài lựa chọn với
thành tích thi đấu có mối tương quan r > 0.8, p < 0.05. Như vậy 4 test này có
tính thông báo cao để đánh giá sức mạnh tốc độ cho nam VĐV Cầu lông lứa tuổi
14 - 15 tỉnh Bắc Kạn.
Vì vậy: Các test này được đề tài sử dụng nhằm đánh giá năng lực sức
mạnh tốc độ của đối tượng nghiên cứu.
3.1.5. Thực trạng sức mạnh tốc độ của nam VĐV Cầu lông lứa tuổi 14
- 15 tỉnh Bắc Kạn.
Để đánh giá một cách chính xác trình độ thể lực sức mạnh tốc độ của
VĐV Cầu lông lứa tuổi 14 - 15 tỉnh Bắc Kạn, đề tài tiến hành kiểm tra thông
qua 4 test đã được lựa chọn. Kết quả được trình bày ở bảng 3.7.
23
Bảng 3.7. Kết quả kiểm tra sức mạnh tốc độ của nam VĐV lứa tuổi 14 -
15 tỉnh Bắc Kạn.
STT Test
Kết quả
Lần 1 Lần 2 Lần 3
x
± δ
x
± δ
x
± δ
1
Nhảy dây 30s (lần)
61,50 2,62 61,07 2,05 61.98 2,90
hợp lý. Theo nguyên lý lực tác dụng thì lực là nguyên nhân gây nên gia tốc vật
thể.
Theo công thức: F = m.a.
Trong đó: m: Khối lượng.
a: Gia tốc.
F: Lực tác dụng.
Trong trường hợp không đối lực tác dụng càng lớn thì gia tốc càng lớn và
ngược lại.
Lực tác dụng lớn hay nhỏ còn có quan hệ chặt chẽ với chức năng sinh lý
của cơ thể và cấu trúc của động tác kỹ thuật.
Trọng lượng của quả cầu và trọng lượng vợt mà VĐV sử dụng là cố định.
Vì vậy, lực đánh cầu (sức mạnh tốc độ) lớn hay nhỏ phụ thuộc chủ yếu vào tốc
độ vung vợt khi đánh cầu.
Như vậy, huấn luyện sức mạnh tốc độ nên làm cho sức mạnh và độ linh
hoạt của các bộ phận cơ thể được phát triển một cách đồng bộ và đồng đều.
3.2.1.2. Nguyên tắc lựa chọn.
Qua một số đặc điểm về sức mạnh tốc độ và thực trạng việc sử dụng bài
tập nhằm phát triển sức mạnh tốc độ mà đề tài đặt ra 6 nguyên tắc trong quá
trình lựa chọn bài tập nhằm mục đích phù hợp với yêu cầu động tác chuyên
môn.
Nguyên tắc 1: Các bài tập được lựa chọn phải có tính định hướng phát
triển sức mạnh tốc độ rõ rệt nhằm tác động trực tiếp vào các nhóm cơ chủ yếu
tham gia vào kỹ - chiến thuật môn Cầu lông.
Nguyên tắc 2: Việc lựa chọn bài tập phải đảm bảo tính khả thi tức là
các bài tập phải thực hiện được trên đối tượng và điều kiện tập luyện của cơ
sở.
25