MỞ ĐẦU
Lặn ra đời từ năm 1917 trong đại chiến thế giới thứ nhất và ngày nay là
môn thể thao rất phát triển ở các nước trên thế giới và hiện nay được tổ chức
hàng năm với các giải châu lục cũng như thế giới. Tuy nhiên đây là môn thể
thao cũng mới chỉ phát triển nên còn nhiều bất cập, rất thiếu các tài liệu
chuyên môn phục vụ cho công tác giảng dạy và huấn luyện. Đội ngũ huấn
luyện viên (HLV) hầu hết đều là các cán bộ được đào tạo cho môn bơi, mặc
dù sự khác biệt giữa bơi và lặn không nhiều nhưng rất cần những nghiên cứu
nghiêm túc về tất cả các vấn đề từ tuyển chọn, giảng dạy và huấn luyện cho
môn lặn. Qua tham khảo các tài liệu và điều tra thực tế chúng tôi nhận thấy
các HLV thực hiện công tác huấn luyện chủ yếu là do kinh nghiệm hoặc tự
mày mò chứ chưa có bài bản chính thống.
Từ phương pháp huấn luyện, bài tập sử dụng, các bài tập của từng địa
phương không thống nhất điều này gây khó khăn không nhỏ cho việc tham
khảo học tập của sinh thực tế việc huấn luyện phát triển SMTĐ cho nam
VĐV lứa tuổi 13 – 14 cự ly 100m VHCV luôn gặp một số trở ngại.
Đối với môn lặn sức mạnh tốc độ rất quan trọng đối với việc nâng cao thành
tích, việc huấn luyện nhằm phát triển sức mạnh tốc độ (SMTĐ) cho VĐV
mặc dù đã được rất nhiều HLV coi trọng nhưng vẫn chưa nghiên cứu đầy đủ
về vấn đề này.
Các bài tập chuyên môn dưới nước là cơ bản và hết sức quan trọng song
tốc độ phát triển còn chưa cao, để phát triển SMTĐ rất cần các bài tập chuyên
môn trên cạn bởi sự ưu việt của nó là nhanh chóng nâng cao thành tích. Tuy
nhiên mặc dù số lượng bài tập rất nhiều nhưng làm thế nào để có thể sử dụng
những bài tập có hiệu quả nhất nhằm nâng cao khả năng phát huy sức mạnh
cần nghiên cứu kỹ vấn đề này.
1
Xuất phát từ những vấn đề đặt ra trong thực tiễn và lý luận đối với công
tác huấn luyện cho VĐV lặn, đặc biệt là các bài tập SMTĐ để nâng cao thành
tích cho VĐV vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho nam VĐV
Cự ly thi đấu của môn lặn gồm : 50m, 100m, 200m, 400m, 800m,1500m.
1.3. Cơ sở lý luận về sức mạnh.
Theo quan điểm sinh lý học thể dục thể thao “ sức mạnh là khả năng
khắc phục trọng tải bên ngoài bằng sự co cơ”.
Số lượng đơn vị vận động( sợi cơ) tham gia vào căng cơ.
Chế độ co cơ của đơn vị vận động đó.
Chiều dài ban đầu của sợi cơ trước lúc co.
Khi số lượng co cơ tối đa, các sợi cơ đều co theo chế độ co cứng và
chiều dài ban đầu của sợi cơ là chiều dài tối ưu thì cơ sẽ co với lực tối đa.Sức
mạnh tối đa tính trên tiết diện ngang của cơ được gọi là sức mạnh tương đối
của cơ.
Trong thực tế, sức mạnh của cơ con người được đo khi co cơ tích cực,
nghĩa là co cơ với sự tham gia của ý thức, vì vậy mà chúng ta xem xét thực tế
chỉ có sức mạnh tích cực tối đa trong giáo dục thể chất thường gọi là sức
mạnh tuyệt đối.
Theo PGS. Nguyễn Toán và TS. Phạm Danh Tốn. Sức mạnh là khả
năng con người sinh ra lực cơ học bằng sự nỗ lực đối kháng bên ngoài hoặc
đề kháng lại sự nỗ lực cơ bắp.
Cơ bắp có thể sinh ra bằng các trường hợp:
3
- Không thay đổi độ dài của cơ (chế độ tĩnh)
- Giảm độ dài của cơ( chế độ khắc phục)
- Tăng độ dài của cơ( chế độ nhượng bộ ).
Chế độ khắc phục và chế độ nhượng bộ hợp thành chế độ động
lực.Trong các chế độ hoạt động như vậy, cơ bắp sinh ra các lực cơ học khác
nhau cho nên có thể coi các chế độ hoạt động cơ là cơ sở phân biệt các sức
mạnh cơ bản.
Sức mạnh có nhiều loại, theo PGS. Nguyễn Toán và TS. Phạm Danh
Tốn thì dựa vào năng lực phát huy của con người phân thành 2 loại:
Sức mạnh đơn thuần : Là khả năng sinh lực trong các động tác tĩnh hoặc
trong các hoạt động cụ thể.
Theo khái niệm chung: Sức mạnh là khả năng con người tạo ra lực cơ học
bằng nỗ lực cơ bắp. Nói cách khác, sức mạnh là khả năng khắc phục đối kháng
bên ngoài hoặc đối kháng lại nó bằng nỗ lực cơ bắp.
Sức mạnh khi phân chia theo cấu trúc vận động gồm có :
Mang tính sức nhanh. Là giá trị tốc độ và độ lớn co cơ.
Mang tính sức mạnh: Là nỗ lực thắng trợ lực lớn.
Mang tính sức bền: Là giá trị lặp lại nhiều lần về độ lớn, độ nhanh của sức
mạnh.
Điều này cho thấy sức mạnh có vai trò then chốt trong quan hệ với các tố
chất khác.Sức mạnh phụ thuộc vào điều kiện biểu hiện. Lực do con người sinh
ra phụ thuộc vào rất nhiều vào khối lượng vật thể chịu tác động và tốc độ di
chuyển của vật thể đó. Theo Hôntrarôp (1952) thì: nếu con người thực hiện một
loạt động tác với nỗ lực cơ bắp tối đa để làm di chuyển những vật thể có khối
lượng khác nhau thì lực sinh ra cũng khác nhau.
Sức bền là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước hay
là năng lực duy trì khả năng hoạt động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể
chịu đựng được.
5
Do thời gian hoạt động đó cuối cùng bị giới hạn của sự xuất hiện mệt mỏi
nên cũng có thể định nghĩa: Sức bền là năng lực cơ thể chống lại mệt mỏi trong
một hoạt động nào đó .Thời gian hoạt động với một cường độ định trước nào đó
chính là chỉ tiêu đánh giá sức bền. Cường độ hoạt động càng cao thì thời gian
hoạt động càng ngắn và ngược lại. Farơpen là người đầu tiên phát hiện ra mối
quan hệ này và ông chia các môn thể thao có chu kỳ theo các vùng cường độ.
Trong thực tế, các tố chất vận động luôn hiện diện trong mối tương tác lẫn nhau,
không có biểu thị riêng tuyệt đối (Fitseh) sức mạnh, sức nhanh, sức bền gắn bó
mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau. Sự biểu hiện của từng tố chất chỉ mang
tính tương đối, còn thực ra chúng biểu hiện gắn bó với tố chất khác. Sự gắn bó
mật thiết và sự tác động qua lại, giữa các tố chất vận động tạo nên các cặp phạm
cho bơi nhanh, lực phát sinh bơi có được sử dụng có hiệu quả trong nước nếu như
chúng đẩy cơ thể tiến về phía trước, vì vậy sức mạnh đặc trưng (chuyên môn) chứ
không phải sức mạnh chung là chìa khóa cho sự thành công trong bơi lặn.
Thứ hai : Sự huy động có chọn lọc các sợi cơ St và FT được sai khiến bởi
cường độ của mỗi lần co cơ, vì vậy với những tốc độ bơi chậm, khi sự phát lực
thấp cơ bắp dựa phần lớn vào các sợi ST. Sự bổ xung ngày càng nhiều sợi FT
khi tốc độ nhanh dần lên.
Thứ ba: Thành phần sợi ST và FT trong cơ bắp của VĐV bơi lặn dường
như không phải là yếu tố quyết định để thi đấu thành công. Khác với môn thể
thao tốc độ và sức bền khác (chạy ,đua xe đạp ) có thể biểu lộ một đặc điểm và
tỷ lệ % sợi ST và FT , nhưng các VĐV lặn tốc độ và sức bền không có sự khác
biệt về mặt này. Vì vậy thành phần sợi cơ của VĐV dường như chỉ mang một ý
nghĩa nhỏ bé đối với sự thành công trong thi đấu .
Từ những vấn đề nêu trên có thể rút ra một số nhận xét:
- Sức mạnh có vai tró hết sức quan trọng đến tốc độ bơi lặn, lực cản của nước
rất lớn và tỷ lệ bơi bình phương với tốc độ bơi. Vì vậy tốc độ bơi càng lớn thì
7
sức mạnh càng tăng và khả năng phát huy sức mạnh của VĐV bơi lặn là yếu tố
quyết định tốc độ bơi .
- Lặn là hoạt động có chu kỳ, để hoàn thành cự ly bơi lặn,VĐV phải lặp lại
nhiều lần các hoạt động dùng sức. Thành tích bơi lặn là kết quả của việc phát
huy sức mạnh của mỗi chu kỳ động tác và khả năng duy trì cường độ đó trên
toàn cự ly. Vì vậy sức mạnh mà VĐV bơi lặn cự ly ngắn cần là sức mạnh bền và
sức mạnh tốc độ là khả năng lặp lại nhiều lần hoạt động sức mạnh hay khả năng
duy trì cường độ hoạt động sức mạnh trên toàn cự ly.
Qua nhiều công trình nghiên cứu, người ta thấy được độ đậm đặc của môi
trường nước gấp mấy trăm lần so với không khí, do lực cản của nước rất lớn vì
vậy để đưa được cơ thể tiến về phía trước với tốc độ cao thì người bơi lặn phải
nỗ lực rất cao trong các hoạt động dùng sức.
Sức mạnh của VĐV bơi lặn tạo ra phụ thuộc vào nhiều yếu tố và yếu tố có
VĐV càng cao. Vì vậy sức mạnh và sức mạnh tốc độ là yếu tố quyết định thành
tích bơi lặn trong cự ly ngắn.
Trong môn lặn việc phát triển cũng như phát huy tốt các tiềm năng sức
mạnh ở trên cạn chuyển hóa xuống môi trường nước, nghĩa là biến dần các năng
lực sức mạnh rèn luyện được ở trên cạn chuyển hóa thành năng lực sức mạnh
vận động ở môi trường nước. Đây là chuyển giao có ý nghĩa lớn là một trong
những cơ sở ảnh hưởng đặc biệt đến thành tích, song không có nghĩa là chỉ quan
tâm tới huấn luyện sức mạnh ở trên cạn mà thành tích lặn được tăng lên, hoặc
coi đây là nhân tố tác động cơ bản quyết định đến hiệu quả lặn mà phải đặc biệt
chú trọng huấn luyện sức mạnh ở dưới nước là chủ yếu. Vì đây là môi trường
ảnh hưởng trực tiếp trong tập luyện và thi đấu có tính quyết định.
Môi trường nước là chất lỏng không có điểm tựa vững chắc và lại có lực
cản vì vậy cơ thể phải thắng được lực cản đó để tiến về phía trước.
9
1.5. Vai trò và đặc điểm sức mạnh của các nhóm cơ thực hiện động tác
chân đối với việc nâng cao khả năng sức mạnh và thành tích cho VĐV.
1.5.1. Vai trò sức mạnh của các nhóm cơ tham gia động tác đập chân.
Trong động tác đập chân có sự tham gia của các nhóm cơ chính như: cơ
mông to, cơ mông nhỏ, cơ tứ đầu đùi, cơ nhị đầu đùi, cơ cẳng chân…. Các cơ
tham gia động tác đập chân, dùng lực với trình tự và mức độ khác nhau nhằm
điều chỉnh cho phương hướng động tác đúng với yêu cầu kỹ thuật và tạo độ
nổi cho cơ thể từ đó giảm bớt lực cản của nước khi bơi lặn.
Tuy nhiên để nhận thức thấu đáo hoàn toàn mối quan hệ mật thiết giữa
tập luyện sức mạnh chi dưới, trước tiên chúng ta phải hiểu những mối quan hệ
giữa sức mạnh và công suất, giữa sức mạnh và sức bền cơ. Sức mạnh có thể
định nghĩa như là tổng số lực mà một người có thể dùng cho một nỗ lực tối
đa. Nói đến công suất là nói đến sự dùng lực. Tốc độ đó là một khía cạnh cần
thiết của sự biểu hiện sức mạnh trong đa số các môn thể thao và lặn không
phải là trường hợp ngoại lệ. Các VĐV lặn phải có một tần số động tác hợp lý
trong từng cự ly thi đấu, đối với các cự ly ngắn thì khả năng dùng lực và tốc
triển hơn các nhóm cơ co, do đó mỗi lứa tuổi lại có một tỷ lệ phân bổ sức
mạnh giữa các nhóm cơ đặc trưng của mình. Về nguyên tắc, sức mạnh của cơ
duỗi phát triển hơn sức mạnh của các nhóm cơ co, các hoạt động nhiều sẽ
phát triển với nhịp độ nhanh hơn.
Sức mạnh cơ bắp phát triển với nhịp độ nhanh trong giai đoạn từ 13 –
14 tuổi đến 16- 17 tuổi. Các năm sau đó sẽ phát triển chậm lại, tuy nhiên do
hiện tượng phát triển sớm của một số nhóm cơ nên có thể cơ thể có thể phát
triển ngay từ 12- 13 tuổi đặc biệt là các nhóm cơ chân.
1.6. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi.
1.6.1.Đặc điểm tâm lý tuổi 13- 14
Về mặt tâm lý, các em đã muốn tự lập. Hứng thú của các em xuất hiện thêm
nhiều nét mới, nó đã được xác định rõ ràng hơn, mang tính bền vững, sâu sắc
11
và phong phú hơn. Hứng thú của các em rất năng động và các em sẵn sàng đi
vào tri thức mà mình thích. Do vậy việc giảng dạy và huấn luyện TDTT là rất
quan trọng, nó sẽ giúp các em hiểu được ý nghĩa, vai trò của TDTT đối với cá
nhân và xã hội, giúp cho các em tích cực tập luyện.
Lứa tuổi này xúc cảm của các em diễn ra tương đối mạnh mẽ nên các em
dễ kém tự chủ.
Các phẩm chất ý chí của lứa tuổi này đã phát triển hơn so với cấp tiểu
học. Lứa tuổi này là tuổi quá độ và nhạy cảm có sự phát triển mạnh mẽ, linh
hoạt của các đặc tính nhân cách song do trên con đường “rẽ”nên các em hoàn
toàn chưa có những nét cá tính bền vững. Các em luôn mong muốn thử sứcc
mình theo các phương hướng khác nhau, nên hành vi của các em phức tạp
hơn và nhiều mâu thuẫn hơn. Do vậy, cần phải thường xuyên quan sát và giáo
dục cho phù hợp lực trên cơ sở tích cực, phát huy tính sáng tạo, biết điều
chỉnh và tổ chức hoạt động cho các em, tạo điều kiện phát triển tốt khả năng
của các em.
1.6.2.Đặc điểm sinh lý lứa tuổi 13- 14.
*. Hệ thần kinh.
hô hấp chưa phát triển, dung lượng phổi còn nhỏ, vì vậy khi hoạt động các em
phải thở nhiều, thở nhanh nên chóng mệt mỏi. Rèn luyện thể chất cho các em
phải toàn diện, phải chú ý phát triển các cơ hô hấp, hướng dẫn các em cách
thở đúng, thở sâu và biết cách thở trong hoạt động. Như vậy mới có thể làm
việc được lâu và có hiệu quả.
13
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp nghiên cứu.
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đề tài sử dụng các phương pháp sau:
2.1.1. Phương pháp đọc phân tích và tổng hợp tài liệu liên quan:
Sử dụng phương pháp này với mục đích đọc các tài liệu tham khảo và phân
tích các tài liệu thu thập, phục vụ cho công tác nghiên cứu của đề tài của đề
tài trong việc phát triển sức mạnh tốc độ cho nam VĐV vòi hơi chân vịt lứa
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đề tài sử dụng các phương pháp sau:
2.1.1. Phương pháp đọc phân tích và tổng hợp tài liệu liên quan:
Sử dụng phương pháp này với mục đích đọc các tài liệu tham khảo và phân
tích các tài liệu thu thập, phục vụ cho công tác nghiên cứu của đề tài của đề
tài trong việc phát triển sức mạnh tốc độ cho nam VĐV vòi hơi chân vịt lứa
tuổi 13- 14 tỉnh Thanh Hóa. Tài liệu tham khảo là những sách giáo khoa và
những sách chuyên khảo: Sinh lý học TDTT, lý luận và phương pháp GDTC,
bơi lội, y học TDTT từ đó rút ra được một số vấn đề cụ thể xác thực để
giải quyết đề tài một cách có căn cứ khoa học.
2.1.2. Phương pháp phỏng vấn.
Thông qua phỏng vấn các nhà nghiên cứu khoa học, các huấn luyện viên,
các chuyên gia, VĐV lặn về các căn cứ lựa chọn bài tập, các test kiểm tra
chuyên môn và lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho nam VĐV vòi
hơi chân vịt lứa tuổi 13- 14 tỉnh Thanh Hóa, những ý kiến của các nhà chuyên
môn đã là cơ sở giúp cho việc đưa ra những nhận xét, lựa chọn bài tập phù
hợp với mục tiêu nghiên cứu.
n
i
xx
1
trong đó (
30≤n
)
2. Phương sai chung.
2nn
)xx()xx(
BA
B
i
A
i
2
c
−+
−+−
=δ
∑∑
3.Tính quan sát.
1B
2
c
A
2
c
BA
nn
Đề tài nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3/2010 đến tháng 5/2011 và
được chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ tháng 3/2010 đến tháng 5/2010.
Xác định hướng nghiên cứu lập đề cương và kế hoạch nghiên cứu và
bảo vệ đề cương nghiên cứu trước hội đồng khoa học nhà trường.
Giải đoạn 2: Từ tháng 6/2010 đến tháng 11/2010
Thu thập thông tin nghiên cứu thông qua: Phỏng vấn, quan sát, điều tra,
tham khảo tài liệu. Tiến hành quan sát điều tra phỏng vấn các đối tượng nhằm
đánh giá thực trạng về tình hình huấn luyện lặn của đội lặn của tỉnh Thanh
Hóa lứa tuổi 13 - 14
Giai đoạn 3: Từ tháng 12/2010 đến tháng 5/2011
Thu thập thông tin thông qua : quan sát , phỏng vấn, tham khảo tài liệu,
thực nghiệm sư phạm giai đoạn 2. Xử lý thông tin nghiên cứu, viết và hoàn
chỉnh luận văn, báo cáo nghiệm thu kết quả.
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu.
Trường Đại Học TDTT Bắc Ninh.
Trung tâm TDTT tỉnh Thanh Hóa.
16
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN.
3.1.Thực trạng vấn đề huấn luyện sức mạnh tốc độ cho nam VĐV
lặn cự 100m vòi hơi chân vịt lứa tuổi 13 - 14 tỉnh Thanh Hóa.
3.1.1 Thực trạng việc sử dụng các bài tập phát triển sức mạnh tốc độ
cho nam VĐV lặn cự 100m vòi hơi chân vịt lứa tuổi 13 - 14 tỉnh Thanh Hóa.
Để nắm được thực trạng việc sử dụng các bài tập phát triển sức mạnh tốc
độ cho nam VĐV lặn cự 100m vòi hơi chân vịt lứa tuổi 13 - 14 tỉnh Thanh Hóa.
Chúng tôi đã tiến hành quan sát thực tế các buổi tập phát triển sức
mạnh tốc độ của VĐV tỉnh Thanh Hóa, đồng thời tiến hành phỏng vấn các
chuyên gia, huấn luyện viên chuyên nghành bơi lội của sở TDTT các thanh
phố như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh,Đà Nẵng, Hải Phòng… Tìm hiểu về các
nội dung cơ bản về các bài tập huấn luyện cho các VĐV lặn cho thấy: các nội
9 Gánh tạ ngang bật nhảy 13 81,25 2 12,5 1 6,25
10
Gánh tạ đứng lên ngồi xuống
12 75 3 18,75 1 6,25
11
Bật cao tại chỗ
13 81,25 1 6,25 2 12,5
12
Nhảy dây
14 87,5 1 6,25 1 6,25
13
Bật cóc
14 87,5 2 12,25 0 0
Kết quả bảng 3.1 cho thấy mức độ sử dụng các bài tập phát triển sức
mạnh cho nam VĐV lặn VHCV lứa tuổi 13 -14 tỉnh Thanh Hóa thường xuyên
được sử dụng là các bài tập có đông người tán thành trên 2/3 đồng ý đó là các
bài tập :
Chạy tốc độ leo dốc.
Gánh tạ ngang đứng lên ngồi xuống.
Chạy tốc độ cao.
Bật cóc.
Như vậy thực trạng việc sử dụng các bài tập còn chưa đa dạng cũng
như chưa mạnh dạn áp dụng các phương pháp tập luyện mới, làm hạn chế
nhất định tới sự phát triển sức mạnh của VĐV. Đây là phương hướng cho đề
tài nghiên cứu để khắc phục, nâng cao hiệu quả và vận dụng các bài tập để
phát triển sức mạnh tốc độ cho nam VĐV lặn cự ly 100m lứa VHCV tuổi 13
- 14 tỉnh Thanh Hóa.
18
3.1.2 Thực trạng khả năng phát huy sức mạnh tốc độ của nam VĐV
lặn VHCV cự ly 100m lứa tuổi 13- 14 tỉnh Thanh Hóa.
TT
Mức độ
Nội dung
Rất quan
trọng
Quan
trong
Không
quan
trọng
19
n % n % n %
1 Test bật xa tại chỗ 3 20 2 13.3 10 66.6
2
Test bật bục cao 30cm trong
30s
13 86.8 2 13.33 0 0.0
3 Test bật cóc 30m Vmax 6 40 5 33.4 4 26.6
4 Test bật cao tại chỗ 3 lần 3 20 4 26.7 8 58.5
5 Test đập chân bướm 25m 6 40 4 26.66 5 33.34
6
Test kiểm tra thành tích 50m
lặn VHCV
15 100 0 0 0 0
7
Test kiểm tra thành tích 100m
lặn VHCV
14 9334 1 6.6 0 0
8 Test chạy tốc độ 30m 7 46.6 3 20 5 33.3
9
TT
Kết quả
Nội dung
x
δ
±
Phân loại trình độ
A % B % C %
1
Test bật bục cao 30cm trong
30s
27.4 ± 1.68 1 10 7 70 2 20
2
Test kiểm tra thành tích 50m
lặn VHCV
52.8 ±1.27 1 10 6 60 3 30
3
Test kiểm tra thành tích
100m lặn VHCV
25.53±0.56 2 20 6 60 2 20
4 Test gánh tạ 25kg bật nhảy
trong 30s
28.1±1.27 1 10 2 20 7 70
21
Kết quả bảng 3.4 cho thấy tỉ lệ VĐV đạt loại A còn thấp mới chỉ đạt
10% trong khi đó loại B và loại C có tỉ lệ khá cao từ 20 – 70 % . Từ các kết
quả trình bày ta có thể rút ra kết luận sau:
Trình độ phát triển sức mạnh tốc độ của nam VĐV lặn VHCV lứa tuổi
13 – 14 tỉnh Thanh Hoá nhìn chung mới đạt ở mức trung bình và khá. Một
trong những nguyên nhân dẫn đến hiện trạng này là việc sử dụng các bài tập
trọng của các nguyên tắc đưa ra. Nội dung cụ thể được trình bày trong bảng
3.5.(n= 20)
Bảng 3.5.Kết quả phỏng vấn
Các yêu cầu
Kết quả phỏng vấn
Rất quan
trọng
Quan trọng
Không quan
trọng
Số
phiếu
Điểm
Số
phiếu
Điểm
Số
phiếu
Điểm
Nguyên tắc tính hệ thống 20 100 0 0 0 0
Nguyên tắc sắp xệp lượng
vận động hợp lý.
18 90 2 10 0 0
Bài tập đơn giản dễ thực hiện 20 100 0 0 0 0
Bài tập phù hợp với trình độ
chuyên môn và lứa tuổi.
17 85 2 10 1 5
Bài tập phù hợp với điều kiện
thực tế của địa phương.
17 85 1 5 2 10
thời.
Khối lượng: Thực hiện 6 tổ mỗi tổ 1p
Yêu cầu: Tập liên tục.
Bài tập 5: Gánh đòn tạ đứng lên ngồi xuống.
Mục đích: Phát triển sức mạnh nhóm cơ đùi, cơ lưng, cơ vai.
24
Cách thực hiện: VĐV gánh tạ trên 2 vai đòn tạ đặt sau gáy, 2 tay giữ đòn tạ
đứng lê ngồi xuống với số lần quy định
Khối lượng: VĐV thực hiện 3 tổ . 10 lần thời gian nghỉ giữa là 3p.
Yêu cầu: Động tác thực hiện liên tục , lưng thẳng.
Bài tập 6. Bài tập chạy cự ly trung bình.
Mục đích: Phát triển sức mạnh bền.
Cách thực hiện: VĐV thực hiện chạy tốc độ tại sân vận động .
Khối lượng: VĐV thực hiện 400m. 4 lần, cường độ 98%, nghỉ giữa 5p.
Yêu cầu: Chạy đúng cường độ và thời gian nghỉ giữa.
Bài tập 7: Bài tập bật cao tại chỗ.
Mục đích:Phát triển chi dưới.
Cách thực hiện: VĐV tư thế ngồi gót chạm mông rồi bật 2 chân đồng thời bật
cao lên căng người theo phương thẳng đứng.
Khối lượng: VĐV thực hiện 6 tổ mỗi tổ 30 lần , quãng nghỉ 1p.
Yêu cầu: Ngồi sâu và bật căng hết người.
Bài tập 8: Bài tập đập chân với dây cao su.
Mục đích: phát triển cơ lưng và cơ chân.
Cách thực hiện: Gập đôi dây cao su buộc lên thang gióng, 2 đầu dây buộc vào
cổ chân, thân người nằm trên ghế hoặc dưới sân tập thực hiện gập chân căng
dây.
Khối lượng: Tập lặp lại 5 tổ mỗi tổ 70 lần, nghỉ giữa 1p.
Yêu cầu: Khống chế lưng bụng tốt.
Bài tập 9: Chống đẩy.
Mục đích: Phát triển cơ chi trên và cơ vai.