Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực cho nam vận động viên bóng ném hà nội lứa tuổi 13 – 15 - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
&&&
NGUYỄN TIẾN DŨNG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ
THỂ LỰC CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN BÓNG NÉM
HÀ NỘI LỨA TUỔI 13 - 15
LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỂ DỤC THỂ THAO
BẮC NINH – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
&&&
NGUYỄN TIẾN DŨNG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ
THỂ LỰC CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN BÓNG NÉM
HÀ NỘI LỨA TUỔI 13 - 15
Ngành : Giáo dục thể chất
Mã Số : 521.40206
LUẬN VĂN CỬ NHÂN THỂ DỤC THỂ THAO
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
T.S: Nguyễn Xuân Trãi
BẮC NINH – 2011
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

13.(n = 6)
32
Bảng 3.4. Độ tin cậy của các chỉ tiêu lựa chọn đánh giá
trình độ thể lực cho nam VĐV Bóng ném Hà Nội lứa tuổi
14.(n = 6)
33
Bảng 3.5. Độ tin cậy của các chỉ tiêu lựa chọn đánh giá
trình độ thể lực cho nam VĐV Bóng ném Hà Nội lứa tuổi
15.(n = 6)
32
Bảng 3.6. Hệ số tương quan của các chỉ tiêu lựa chọn với
thành tích thi đấu của nam VĐV Bóng ném Hà Nội lứa tuổi
13 – 15.
34
Bảng 3.7. Kết quả kiểm tra chỉ tiêu lựa chọn với nam Bóng
ném Hà Nội lứa tuổi 13. (n = 6)
35
Bảng 3.8. Kết quả kiểm tra chỉ tiêu lựa chọn với nam Bóng
ném Hà Nội lứa tuổi 14. (n = 6)
36
Bảng 3.9. Kết quả kiểm tra chỉ tiêu lựa chọn với nam Bóng
ném Hà Nội lứa tuổi 15. (n = 6)
36
Bảng 3.10. Tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp trong đánh giá
trình độ thể lực cho nam VĐV Bóng ném Hà Nội lứa tuổi
13.
37
Bảng 3.11.Tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp trong đánh giá
trình độ thể lực nam VĐV Bóng ném Hà Nội lứa tuổi 14.
38

2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 28
2.1.5 Phương pháp toán học thống kê: 29
2.2 Tổ chức nghiên cứu 30
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 30
3.1 Nghiên cứu lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá trình độ thể lực cho nam vận
động viên bóng ném Hà Nội lứa tuổi 13 – 15 32
3.1.1 Thực trạng việc đánh giá trình độ thể lực cho nam vận động viên Bóng
Ném 32
3.1.2 Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá trình độ thể lực cho nam vận động viên
bóng ném Hà Nội lứa tuổi 13 – 15 34
3.1.3 Các kết quả lựa chọn chỉ tiêu 35
3.2 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực cho nam vận động viên
Bóng ném Hà Nội lứa tuổi 13 – 15 40
3.2.1 Tiêu chuẩn phân loại các chỉ tiêu 41
3.2.2 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá của hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu ứng
dụng 43
3.2.3 Cách thức tiến hành xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện
thể lực cho nam vận động viên Bóng ném Hà Nội lứa tuổi 13 – 15 48
Kết luận 50
Kiến nghị 50
MỞ ĐẦU
Trong thực tiễn, hoạt động thể dục thể thao (TDTT) không đơn thuần chỉ là
hoạt động cơ bắp chỉ nhằm nâng cao sức khoẻ, giảm mệt mỏi, phòng ngừa căng
thẳng từ hoạt động sản xuất. Mà ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của
nền kinh tế- văn hoá- chính trị- xã hội… Thì thể thao đã trở thành một bộ phận
của nền văn hoá xã hội, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hoá tinh thần,
giúp con người phát triển toàn diện, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa các
quốc gia.
Thể thao Việt Nam đã, đang được đảng và nhà nước quan tâm và đầu tư
thích đáng. Đặc biệt là trong công tác giáo dục thể chất và được coi là quốc sách

Ném lứa tuổi 14-16” ;Phùng Minh Hải (2004), “Nghiên cứu ứng dụng một số
bài tập phát triển thể lực chung cho nam VĐV Bóng Ném trẻ Hà Nội lứa tuổi
14-16 trong giai đoạn huấn luyện ban đầu”; Cù Tiến Đạt (2006), “ Nghiên cứu
lựa chọn một số chỉ tiêu thể lực ứng dụng trong tuyển chọn VĐV Bóng Ném trẻ
lứa tuổi 13-15 CLB Hà Nội” và gần đây nhất là đề tài của Hoàng Thị Huyền
(2009), “Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn thể lực cho nam vận động
viên bóng ném trẻ lứa tuổi 13 – 14 thành phố Hà Nội” … nhưng chưa có đề tài
nào nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực cho nam vận động
viên Bóng Ném.
Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu chúng
tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực cho nam vận
động viên bóng ném Hà Nội lứa tuổi 13 – 15”.
* Mục đích nghiên cứu.
Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực nhằm áp dụng cho việc tuyển
chọn vận động viên bóng ném trẻ lứa tuổi 13 – 15 trong giai đoạn huấn luyện
ban đầu.
Từ kết quả nghiên cứu, đề tài sẽ làm tài liệu chuyên tham khảo cho các
chuyên gia trong quá trình tuyển chọn, huấn luyện và đào tạo vận động viên.
*Mục tiêu nghiên cứu
Để thực hiện mục đích đề tài dự kiến sẽ giải quyết hai mục tiêu sau:
- Mục tiêu 1: Nghiên cứu lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá trình độ htể lực
cho nam vận động viên Bóng Ném Hà Nội tuổi 13 – 15.
+ Thực trạng việc đánh giá trình độ thể lực cho nam vận động viên Bóng
Ném.
+ Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá.
- Mục tiêu 2: Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực
cho nam vận động viên Bóng Ném Hà Nội tuổi 13 – 15.
+ Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá.
+ Kiểm nghiệm trong thực tiễn các tiêu chuẩn đánh giá.

hợp. Có như vậy, huấn luyện thể lực mới mong đạt hiệu quả cao.
Ngày nay, trong huấn luyện thể lực hiện đại, theo Ozolin N.G thì dù bất kỳ giai
đoạn nào của quá trình đào tạo VĐV, công tác huấn luyện thể lực chung cùng
thể lực chuyên môn được coi là nền tảng của việc đạt thành tích thể thao cao.
Tuỳ thuộc vào mục đích của từng giai đoạn huấn luyện mà tỷ trọng huấn luyện
thể lực chung và thể lực chuyên môn được xác định cho phù hợp.
Huấn luyện thể lực là một quá trình tác động liên tục, thường xuyên và
theo kế hoạch lên cơ thể VĐV. Quá trình này tác động sâu sắc tới hệ thần kinh,
hệ tim mạch, cơ bắp cũng như đối với các cơ quan nội tạng của con người. Tất
nhiên, muốn có thành tích xuất sắc trong một môn thể thao nào đó, trước tiên
cần phải có tố chất thể lực phát triển phù hợp với yêu cầu chuyên môn, song
không có nghĩa là coi nhẹ các mặt khác như: Kỹ - chiến thuật, tâm lý …
Hiện nay tồn tại rất nhiều quan điểm về huấn luyện thể lực cho các VĐV
trẻ, song có thể nói rằng hệ thống các quan điểm thực hiện Ozolin N.G đề
xướng là có tính khái quát hơn cả. Tác giả cho rằng: “ Quá trình huấn luyện thể
lực cho VĐV là việc hướng đến củng cố các hệ thống cơ quan của cơ thể, nâng
cao khả năng chức phận của chúng, đồng thời là việc phát triển các tố chất vận
động (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khéo léo)”.
Quá trình huấn luyện thể lực cho VĐV bao gồm: huấn luyện thể lực chung
và huấn luyện thể lực chuyên môn.
Huấn luyện thể lực chung: Là quá trình nhằm phát triển một cách toàn diện
các tố chất thể lực cũng như khả năng chức phần khác nhau không đặc trưng
cho một hoạt động riêng biệt nào và nó tạo điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu
quả của quá trình huấn luyện thể lực chuyên môn.
Huấn luyện thể lực chuyên môn: Là quá trình giáo dục nhằm phát triển và
hoàn thiện những năng lực thể chất tương ứng với đặc điểm môn thể thao
chuyên sâu. Nó có nhiệm vụ phát triển tới mức tối đa những năng lực đó của
VĐV. Huấn luyện thể lực chuyên môn hướng đến củng cố và nâng cao khả năng
làm việc của các cơ quan chức phận, các tố chất thể lực phù hợp với đòi hỏi của
môn thể thao lựa chọn.

những đòi hỏi của môn thể thao lựa chọn. Sự phát triển các tố chất thể lực
chuyên môn cơ bản tuỳ chọn chủ yếu vào các bài tập đặc thù của môn thể thao.
Các bài tập đó được thực hiện trong điều kiện giảm nhẹ hoặc tăng thêm độ khó.
Nguyên tắc chung trong lựa chọn các bài tập nhằm giáo dục các tố chất thể
lực chuyên môn cơ bản là các bài tập phải được thực hiện với cường độ tương
đương thi đấu. Quá trình huấn luyện thể lực chuyên môn cơ bản tuỳ thuộc vào
trình độ thể lực của VĐV mà kéo dài thông thường từ một đến nhiều tháng,
nghĩa là nó diễn ra trong giai đoạn hai của thời kỳ chuẩn bị và trong suốt thời kỳ
thi đấu của mỗi chu kỳ huấn luyện.
Giáo dục mỗi tố chất thể lực cần phải tuân thủ những quy luật riêng với
những phương pháp và biện pháp giáo dục riêng.
Dưới góc độ tâm lý, Phạm Ngọc Viễn và các cộng sự cho rằng: Nói đến
huấn luyện thể lực chung và chuyên môn trong huấn luyện thể lực là nói đến
những biến đổi thích nghi về mặt sinh học (cấu trúc và chức năng) diễn ra trong
cơ thể VĐV dưới tác động của tập luyện được biểu hiện ở năng lực vận động
cao hay thấp.
Tổng hợp các ý kiến nêu trên chứng tỏ quá trình chuẩn bị thể lực chuyên
môn của VĐV là sự tác động có hướng đích của lượng vận động, mà biểu hiện
là ở sự hoàn thiện các chức năng thể chất (sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềm
dẻo và khéo léo), là ở việc nâng cao khả năng hoạt động của các cơ quan chức
phận tương ứng.
1.2 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 13- 15.
1.2.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 13-15.
Ở lứa tuổi này các em rất hiếu động nghịch ngợm và quá trình hưng phấn
vẫn chiếm ưu thế hơn so với quá trình ức chế. Do sự thay đổi nhanh chóng về cơ
thể nên tâm lý của các em cũng thay đổi, đặc biệt là trong giai đoạn dậy thì. Vì
vậy huấn luyện cần phải có định hướng uốn nắn kịp thời. Ở lứa tuổi 13-15 các
em đã tự cho mình là người lớn đòi hỏi mọi người xung quanh phải tôn trọng
mình. Tính tự ái, tự cao xuất hiện và các em thích khen hơn là khiển trách phê
bình. Do đó trong quá trình giảng dạy và huấn luyện cần phải đề ra những bài

cách thở sâu, thở đúng, và biết cách thở trong hoạt động. Lưu ý ở lứa tuổi này
các em đang trong giai đoạn phát triển dậy thì (gái sớm hơn trai 1-2 tuổi) do
phát triển đột biến của một số tuyến nội tiết nên một số chức năng của các hệ
thống cơ quan và tâm lý đều có sự khác biệt rõ dần.
-Hệ thần kinh: Não bộ đang thời kỳ hoàn chỉnh, hoạt động của thần kinh
chưa ổn định, hưng phấn chiếm ưu thế, vì vậy khi học tập động tác các em dễ
tập trung tư tưởng, nhưng nếu thời gian kéo dài, nội dung nghèo nàn hình thức
hoạt động đơn điệu, thì thần kinh sẽ chóng mệt mỏi và dễ phân tán sức chú ý.
Do vậy nội dung tập luyện phải phong phú, phương pháp giảng dạy, tổ chức giờ
học phải linh hoạt, không cứng nhắc đơn điệu giảng giải và làm mẫu có trọng
tâm chính xác đúng lúc, đúng chỗ.
Xuất phát từ những cơ sở khoa học của phương pháp giáo dục thể lực và
căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của các em vđv lứa tuổi 13-15 thì bài tập đề ra
thời gian không quá dài, tránh gây căng thẳng cho hệ thần kinh, chú ý tập bài tập
gây được không khí thoải mái, thời gian nghỉ giữa quãng hợp lý, thứ tự các bài
tập lần lượt phải được nghiên cứu, xem xét.
1.3 Cơ sở lý luận về các phương pháp đánh giá trình độ tập luyện của
VĐV.
1.3.1 Trình độ tập luyện của VĐV.
Thành tích thi đấu mà vận động viên đạt được trong bất kỳ môn thể thao
nào cũng được cấu thành bởi hàng loạt những yếu tố có mối quan hệ hữu cơ với
nhau. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố và tính chất ảnh hưởng của
chúng đối với thành tích không giống nhau. Có những yếu tố ảnh hưởng của
chúng trực tiếp đến thành tích, có những yếu tố giữ vai trò tiền đề.
Trình độ tập luyện của vận động viên bóng ném là một phức hợp gồm
nhiều yếu tố thành phần: Y sinh, tâm lý, kỹ - chiến thuật, thể lực ngày càng được
nâng cao do ảnh hưởng trực tiếp của lượng vận động tập luyện và thi đấu cũng
như các biện pháp khác. Trong quá trình huấn luyện nhiều năm, đánh giá trình
độ tập luyện theo độ tuổi và giới tính là một vấn đề vô cùng quan trọng với bất
kỳ môn thể thao nào. Các chỉ tiêu y sinh, tâm lý, sư phạm là cơ sở khoa học để

+ Trình độ ổn định thành tích và khả năng tăng trưởng
+ Trình độ khả năng chịu đựng của VĐV
Bốn tiêu chuẩn trên thể hiện bốn mặt khác nhau của việc đánh giá tổng hợp
năng lực thể thao.
Như vậy, so với Novicop A.D, Matveep L.P và Aulic I.V thì quan niệm nêu
trên của Harre D. về cấu trúc của trình độ tập luyện toàn diện hơn.
Theo quan điểm sư phạm, việc đánh giá trình độ tập luyện của VĐV chủ
yếu dựa trên sự biến đổi về năng lực thể thao.
Theo quan điểm về sinh lý học thể dục thể thao thì trình độ tập luyện được
hiểu là mức độ thích nghi của cơ thể đối với một hoạt động nào đó đạt được
bằng tập luyện. Trình độ tập luyện bao giờ cũng liên quan đến những sự biến đổi
về cấu tạo và chức năng có thể xảy ra trong cơ thể dưới tác động của lượng vận
động tập luyện. Quan điểm này trên một chừng mực nhất định tương đương với
cách tiếp cận của Novicop A.D và Matveep L.P.
Theo Lưu Quang Hiệp, trình độ tập luyện được xác định thông qua các
phương pháp sư phạm, tâm lý và y- sinh học. Trình độ tập luyện là một khái
niệm tổng hợp, đặc trưng cho khả năng của toàn bộ cơ thể. Nguyên lý cơ bản để
xem xét trình độ tập luyện là nguyên tắc tổng hợp, nghĩa là phải xem xét một
cách toàn diện tất cả các mặt của hoạt động cơ thể: Trạng thái sức khoẻ, tâm lý,
trình độ kỹ chiến thuật, trình độ thể lực … Trình độ tập luyện cũng như biểu
hiện cao nhất của nó là trạng thái sung sức thể thao, có thể được xác định thông
qua các chỉ tiêu sinh lý nhất định.
Theo quan điểm của Lê Văn Lẫm [24]: “Trình độ tập luyện của VĐV là kết
quả hoạt động tổng hợp của việc giải quyết các nhiệm vụ trong thực tiễn huấn
luyện thể thao. Trình độ tập luyện thể hiện ở mức độ nâng cao chức phận cơ thể,
năng lực hoạt động chung và chuyên môn của VĐV ở mức hoàn thiện các kỹ
năng, kỹ xảo thể thao phù hợp”.
Tác giả Phạm Danh Tốn [49] cho rằng: Trong lý luận cũng như trong đào
tạo vận động viên người ta thường gặp các khái niệm như trình độ đào tạo hay
trình độ tập luyện. Nói đến trình độ đào tạo là nhằm chỉ tất cả các mặt đào tạo để

- Trình độ tập luyện bao gồm nhiều mặt, nhiều thành phần nhưng dựa trên
cơ sở sinh học, không phải là bất biến mà là một trạng thái luôn luôn biến động
trong quá trình tập luyện. Thành tích thể thao được xem là yếu tố cơ bản của
quá trình tập luyện.
Từ những kết quả phân tích được trình bày trên có thể hiểu: Trình độ tập
luyện của VĐV chính là khả năng thể hiện năng lực thể thao cao trong một môn
thể thao nhất định nào đó mà họ đạt được thông qua lượng vận động tập luyện
và thi đấu.
Theo khái niệm về cấu trúc nhiều thành phần của trình độ tập luyện, có thể
nghiên cứu trình độ tập luyện theo các khía cạnh khác nhau: Sư phạm, tâm lý, y
học, xã hội.
Thuộc về khía cạnh sư phạm của trình độ tập luyện có trình độ kỹ thuật và
chiến thuật của VĐV. Song ý nghĩa kỹ thuật hay chiến thuật trong các môn thể
thao khác nhau lại không đồng nhất. Ví dụ như: Cùng với các yếu tố khác, thì
yếu tố kỹ thuật trong môn quyền anh và trong các môn bóng chiếm vị trí hàng
đấu, trong khi đó ở môn chạy cự ly dài kỹ thuật lại có ý nghĩa ít hơn là khả năng
chức phận của cơ thể.
Về khía cạnh tâm lý của trình độ tập luyện cần kể đến các trạng thái tâm lý,
các phẩm chất ý chí và đạo đức của vđv. Khó đánh giá vai trò của trạng thái tâm
lý trong thể thao. Khả năng tập trung chú ý khi bắt buộc phải tiếp tục cuộc thi
đấu trong điều kiện khó khăn được thể hiện rõ đối với các VĐV của hầu hết các
môn thể thao. Song trong từng môn thể thao, vai trò của trạng thái tâm lý của
VĐV cũng có khác nhau.
Về khía cạnh y học của trình độ tập luyện người ta xem xét tới các chỉ số
hình thái, sinh lý của cơ thể và tình trạng sức khoẻ. Rất rõ là, sức khoẻ tốt và khả
năng chức phận cao của cơ thể là cần thiết để đạt được những thành tích xuất sắc
trong thể thao.
Khía cạnh xã hội của trình độ tập luyện xác định vị trí của thể thao và của
VĐV trong xã hội, nó thể hiện ở điều kiện sống của VĐV, động cơ và về những
tính chất khác nhau của tính cách…

mềm dẻo của cột sống và độ linh hoạt của các khớp chậu- đùi, diễn ra theo
những quy luật nhất định của sự phát triển cá thể .
Cũng theo tác giả thì: “trình độ phát triển các tố chất thể lực là chỉ số có ý
nghĩa dự báo quan trọng trong tất cả các giai đoạn của tuyển chọn”.
1.3.2 Xu hướng phát triển bóng ném hiện đại.
Bóng ném là môn thể thao thi đấu đồng đội đối kháng trực tiếp cùng sân,
với mục tiêu cuối cùng là ném bóng vào cầu môn đối phương bằng tay. Là môn
thể thao luôn có sự cản trở chặt chẽ của đối phương, có sự va chạm nhanh, mạnh
và “ dữ dằn” nên vận động viên Bóng ném cần có sức mạnh nhanh, sự tháo vát
và ứng biến sáng tạo. Tuy là môn thể thao trẻ có lịch sử không dài như nhiều
môn thể thao đồng đội khác như: Bóng rổ, Bóng đá, Bóng nước, Bóng bầu dục
Bóng ném đã được quần chúng nhân dân ham thích và tham gia tập luyện, nhất
là giới trẻ. Hiện nay, Bóng ném là môn thể thao thi đấu có số cầu thủ đăng ký
chính thức khoảng 5 triệu người. Liên đoàn Bóng ném thế giới có số thành viên
là 130 nước và khoảng 200.000 đội.
Những năm 80 của thế kỷ XX, Bóng ném thế giới phát triển nhảy vọt do
nhiều nguyên nhân, trong đó có sự cải tiến luật thi đấu là một nhân tố chính.
Luật mới này đã ngăn chặn được tình trạng chơi thô bạo, ít dần những nguy
hiểm và hỗn loạn, đưa Bóng ném từ lối chơi đơn giản thô bạo sang lối chơi kỹ
thuật, cơ động và linh hoạt, có chiến thuật đa dạng, biến hóa nhưng vẫn có tính
đối kháng quyết liệt và mang dần tính nghệ thuật cũng như kỹ năng, kỹ xảo hơn.
Nhiều kỹ thuật mới ra đời dẫn đến công tác huấn luyện chuyển từ kinh nghiệm
sang giai đoạn khoa học hóa. Trình độ huấn luyện Bóng ném được nâng cao cả
về huấn luyện thể lực, kỹ chiến thuật, tâm lý, trình độ năng lực thi đấu của cá
nhân và toàn đội, nổi bật như CHDC Đức (cũ ), Liên xô (cũ), Hàn Quốc Bóng
ném xuất hiện cục diện hoàn toàn có sức sống mới, thu hút cộng đồng qua đó
giúp Bóng ném được phổ biến rộng và sâu hơn.
Bóng ném hiện đại có những đặc trưng sau:
- Tính đối kháng công thủ của 2 đội thể hiện quyết liệt giữa đột phá- ngăn
cản- đột phá, ném bóng cầu môn- ngăn cản ném bóng cầu môn, truyền và cướp

phản công nhanh làm phòng thủ phải nhanh hơn, nhờ tăng tốc độ nên năng lực
thi đấu của vậ động viên nhanh dẫn tới nhịp biến hoá nhanh.
Từ những đặc điểm trên cho thấy, vận động viên Bóng ném yêu cầu phải
phát triển toàn diện về kỹ thuật, chiến thuật, tâm lý và thể lực cũng như trí lực
để đáp ứng được năng lực thi đấu quyết liệt, căng thẳng và đầy biến hoá. Trong
thi đấu Bóng ném, năng lực nhanh, tính va chạm mạnh, nhiều, xuất phát điểm
nhanh, dừng nhanh, chuyển biến hướng nhanh và liên tục, đột phá đan giao đổi
chỗ, di động tấn công và phòng thủ ở mọi vị trí cần thiết, biến hoá động tác điêu
luyện trong nhanh mạnh như biến tầm, biến điểm, biến tốc, biến lực, biến góc,
biến đường và biến động tác…Đối với hậu vệ, việc chủ yếu là phòng thủ nhưng
chuyển sang phản công nhanh, ném cầu môn giỏi.Tiền đạo không chỉ biết tấn
công giỏi mà lại cần biết ngăn chặn đối phương nhanh, tóm lại là phải giỏi cả
tấn công và phòng thủ, giỏi cả tấn công biên lẫn chính diện, len lách, che chắn
ngăn cản cướp bóng, ném bóng xa và ném bóng gần tốt. Trình độ kỹ thuật cũng
như thể lực phải toàn diện để phá lối chơi gò bó đơn điệu cứng nhắc theo từng vị
trí và khu vực đơn giản.
Do trình độ thể lực cũng như kỹ thuật được nâng cao nhanh nên tạo điều
kiện phát triển cao, vững hơn và sáng tạo lối chơi theo hướng tập thể biến hoá
linh hoạt, ứng biến trong thi đấu một cách thông minh, sáng tạo có hiệu quả.
Hiện nay, do lối tấn công linh hoạt nên việc phòng thủ phải tốt, hiệu quả, ngăn
chặn từ xa mà vẫn kín chặt, phòng thủ vòng trong chuyển được sang phản công
nhanh khi có điền kiện.
Xu hướng Bóng ném hiện đại kết hợp giữa cao và nhanh, kỹ thuật toàn diện
điêu luyện, ứng biến linh hoạt, tính đồng đội cao và kết hợp sở trường, độc chiêu
cá nhân do đó yêu cầu phải chọn và đào tạo được những vận động viên tài năng
trên cơ sở đồng đội tốt. Đặc trưng của Bóng ném trên thế giới hiện nay có thể
tổng hợp lại như sau:
+ Đây là môn thể thao có tính đối kháng quyết liệt, trực tiếp trên cùng sân
do đó đòi hỏi vận động viên phải có sự khéo léo và không ngại va chạm ngoài ra
cần phải có các yếu tố khác như: Ý chí, sự phối hợp chiến thuật đồng đội nhưng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status