Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực chuyên môn của nam vđv bơi lứa tuổi 13 14 giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu tỉnh hà nam - Pdf 30

MỞ ĐẦU
Thể dục thể thao (TDTT) có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của
con người cũng như trong chính sách phát triển kinh tế xã hội. Đồng thời nó góp
một phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong những
năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nền TDTT đã từng bước
phát triển vượt bậc cả về chất cũng như lượng. Có rất nhiều môn thể thao đã
sánh ngang tầm với những quốc gia có tiềm năng và có trình độ cao ở khu vực
Đông Nam Á và trên Thế giới.
Ở Việt Nam Bơi lội được xác định là môn thể thao trọng điểm với nhiều bộ
huy chương nhất trong các kỳ Đại hội TDTT, là một môn thể thao truyền thống
phù hợp với điêu kiện địa lý, tự nhiên ở nước ta, có tác dụng “Tạo cho con
người một kỹ năng cần thiết trong cuộc sống”. Song thành tích của vận động
viên (VĐV) nước ta còn khá khiêm tốn. Ở Seagames 23 năm 2005 tổ chức tại
Philippin, VĐV Nguyễn Hữu Việt đã giành được tấm huy chương vàng đầu tiên
cho Bơi lội Việt Nam sau 30 năm mong đợi. Điều đó đã đánh dấu một bước phát
triển lớn và nền Bơi Lội Việt Nam cần phải nỗ lực hơn nữa.
Hà Nam là một tỉnh được tách ra từ tỉnh Hà Nam Ninh (1996), hiện tại còn
gặp nhiều khó khăn về kinh tế và cơ sở vật chất tập luyện TDTT. Song với sự
quan tâm Đảng và chính quyền tỉnh đã đưa phong trào từng bước đi lên. Trong
tỉnh đã có Trung tâm đào tạo VĐV bơi lội trẻ. Tuy nhiên thành tích bơi lội tại
tỉnh Hà Nam so với các tỉnh khác như: Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Nội, Thành
phố Hồ Chí Minh… còn khiên tốn.
Trong quá trình phát triển khoa học TDTT ở Việt Nam, mặc dù có rất nhiều
đề tài nghiên cứu về vấn đề huấn luyện thể lực cho VĐV nhiều môn thể thao
khác nhau, nhưng chưa có đề tài nào đưa ra những tiêu chuẩn đánh giá trình độ
thể lực cho nam VĐV bơi lội. Do vậy vấn đề huấn luyện thể lực cho nam VĐV
bơi lội cần phải được chú trọng và theo trình tự của quá trình đào tạo một VĐV,
trước hết phải quan tâm ngay từ giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu. Trong huấn
luyện thể lực chung nói chung và thể lực giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu nói
1
riêng, việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ phát triển thể lực cho nam

* Mục tiêu nghiên cứu:
Để giả quyết mục đích nghiên cứu trên đề tài đã giải quyết 2 mục tiêu
nghiên cứu sau:
- Mục tiêu 1: Xác định các test đánh giá thể lực chuyên môn của nam VĐV
bơi lứa tuổi 13-14 giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu tỉnh Hà Nam .
- Mục tiêu 2: Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực chuyên môn của nam
VĐV bơi lứa tuổi 13-14 giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu tỉnh Hà Nam.
3
CHNG 1
TNG QUAN NHNG VN NGHIấN CU
1.1. Những quan điểm về huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao
Trong thể thao thành tích cao, các năng lực về kỹ - chiến thuật, thể lực, sự
hoạt động tâm lý, ý thức, tri thức của VĐV là những yếu tố quyết định dến thành
tích thể thao, trong đó năng lực hoạt động thể lực giữ vai trò nền tảng huấn luyện
thể lực là mặt cơ bản về nâng cao thể thao. Song về bản chất mức độ phát triển
các yếu tố chất thể lực phụ thuộc vào các trạng thái chức năng, cấu tạo của nhiều
cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể. Quá trình tập luyện để phát triển các tố chất
thể lực cũng chính là quá trình hoàn thiện các hệ thống chức năng giữ vai trò chủ
yếu trong mỗi hoạt động cơ bắp nhất định. Theo V.P Philin và Zucalovxki Các
tố chất thể lực phát triển có tính giai đoạn và không đồng đều, tuỳ thuộc vào
từng thời kỳ của lứa tuổi. Vì vậy, HLV không những phải nm vững các quy
luật phát triển tự nhiên, đặc biệt là thời kỳ nhạy cảm (thời kỳ thuận lợi cho việc
phát triển, các tố chất thể lực) của cơ thể mà còn phải hiểu sâu sắc những đặc
điểm phát triển tố cht thể lực theo độ tuổi của từng cá thể VĐV.
Quá trình huấn luyện thể lực chính là việc tạo cho VĐV thích nghi với hoạt
động thần kinh, cơ bắp, nhờ sự hoàn thiện khả năng phối hợp vận động trong quá
trình huấn luyện thể lực, căn cứ vào đối tợng, trình độ, lứa tuổi của VĐV và đặc
thù môn thể thao mà sử dụng các phơng pháp, phơng tiện cho phù hợp. Có vậy,
quá trình huấn luyện thể lực mới nhanh chóng đạt hiệu quả cao.
Ngày nay trong huấn luyện thể thao hiện đại dù bất kỳ giai đoạn nào của

hệ thần kinh và liên quan đến thành phần sợi cơ. Độ lớn của sức bền quan hệ chủ
yếu tới hoạt động trao đổi chất mà mối quan hệ này dựa trên cơ sở sản sinh năng
lợng yếm khí và a khí.
Theo quan điểm của N.G. Ozolin thì: Quá trình huấn luyện thể lực cho
VĐV là việc hớng đến củng cố các hệ thống cơ quan của cơ thể, nâng cao khả
năng chức phận của chung, đồng thời là việc phát triển các tố chất vận động (sức
nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng mềm dẻo, khéo léo). Quá trình chuẩn bị thể
lực cho VĐV bao gồm: chuẩn bị thể lực chung và thể lực chuyên môn.
- Chuẩn bị thể lực chung là nền tảng cho việc nâng cao thể lực chuyên môn.
- Chuẩn bị thể lực chuyên môn cần thiết chia làm 2 phần:
+ Chuẩn bị thể lực chuyên môn cơ sở là hớng đến việc xây dựng các nền tảng
cơ bản phù hợp với những đặc thù chuyên môn của môn thể thao nhất định
+ Chuẩn bị thể lực chuyên môn cơ bản nhằm phát triển mt cách rộng rãi các
tố chất vận động, thoả mãn những yêu cầu của môn thể thao nhất định.
Về nguyên tắc trong chu kỳ huấn luyện lớn đầu tiên phải tiến hành việc
huấn luyện thể lực chung, trên nền tảng đó mới tiến hành việc huấn luyện thể lực
chuyên môn cơ sở. Đây chính là nền tảng để tiến hành việc huấn luyện thể lực
chuyên môn cơ sở, mà nhờ đó tiến hành bớc thứ ba. Phát triển ở mức cao hơn các
tố chất chuyên môn cơ bản và phù hợp với đũi hỏi của môn thể thao.
5
Việc phát triển các tố chất thể lực chung ở bớc một càng chặt chẽ bao nhiêu
thì ở bớc hai và bớc ba mới có điều kiện phát triển mt cách cao hơn, chất lợng
hơn bấy nhiêu. Sự phát triển tố chất thể lực phải phù hợp với đặc thù mỗi môn
thể thao. Song mức độ phát triển thể lực chung và chuyên môn cơ sở (ở bớc một
và bớc hai) là mt quá trình liên tục không gián đoạn và phải đợc duy trì một
cách ổn định. Nó chỉ thay đổi, phát triển ở mức mới do những yêu cầu của nhiệm
vụ huấn luyện trong giai đoạn sau.
Mặt khác, trong một chu kỳ huấn luyện cần thiết phải đảm bảo sự hợp lý
giữa huấn luyện thể lực chung và huấn luyện thể lực chuyên môn cơ sở. Quá
trình huấn luyện thể lực theo ba bớc cho các VĐV đợc áp dụng trong hai chu kỳ

Thể lực chuyên môn cơ sở đợc hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển
thể lực chung, huấn luyện thể lực chung là nền tảng, còn việc lựa chọn các biện
pháp phù hợp mang những nét đặc trng riêng của môn thể thao, là tiền đề hình
thành nên các tố chất thể lực chuyên môn sau này. Việc hình thành thể lực
chuyên môn cơ sở của các môn thể thao không có chu kỳ là tơng đối khó khăn,
thông qua hai cách:
- Thứ nhất: Lặp lại nhiều lần những hoạt động chính, đặc thù của môn thể
thao lựa chọn.
- Thứ hai: Lặp lại nguyên vẹn các bài tập thi đấu của chính môn thể thao đó.
Các tác giả Lê Văn Lẫm, Dơng Nghiệp Chí, Phạm Danh Tốn cho rằng Quá
trình huấn luyện thể lực cho VĐV là hớng đến việc củng cố và nâng cao khả
năng chức phận của hệ thống cơ quan trớc lợng vận động thể lực (bài tập thể
chất) và nh vậy đồng thời đã tác động đến quá trình phát triển của các tố chất
vận động. Đây có thể coi là quan điểm có xu hớng s phạm trong quá trình giáo
dục các tố chất vận động.[17]
Dới góc độ y sinh học, các tác giả Lu Quang Hiệp, Trịnh Hùng Thanh cho
rằng: Nói đến huấn luyện thể lực chung và chuyên môn trong huấn luyện thể
thao là nói tới những biến đổi thích nghi về mặt sinh học (cấu trúc và chức năng)
diễn ra trong cơ thể VĐV dới tác động của tập luyện đợc biểu hiện ở năng lực
hoạt động cao hay thấp".
Dới góc độ tâm lý, các tác giả Phạm Ngọc Viễn, Lê Văn Xem cho rằng:
Quá trình chuẩn bị thể lực chung và chuyên môn cho VĐV là quá trình giải
quyết những khó khăn liên quan đến việc thực hiện các hành động kỹ thuật là sự
phù hợp với yếu tố tâm lý trong hoạt động tập luyện và thi đấu của VĐV.
Nh vậy, chuẩn bị thể lực chung và chuyên môn cho VĐV là sự tác động có
hớng đích của lợng vận động (bài tập thể chất) đến VĐV nhằm hình thành và
phát triển lên một mức độ mới của khả năng vận động biểu hiện ở mức độ hoàn
thiện các năng lực thể chất đồng thời nhằm nâng cao khả năng hoạt động của các
cơ quan chức phận tơng ứng tới các năng lực vận động của VĐV nâng cao các
yếu tố tâm lý trớc hoạt động đặc trng của mỗi môn thể thao.

đợc thể hiện ở các cuộc thi đấu và kiểm tra thành tích. Các tiêu chuẩn cơ bản có
thể sử dụng trong việc đánh giá trình độ tập luyện và dự báo tiềm năng của VĐV
là:
- Tiêu chuẩn về hoạt động của thành tích
- Tiêu chuẩn về nhịp độ phát triển của thành tích
- Tiêu chuẩn về sự ổn định thành tích và khả năng tăng trởng
- Tiêu chuẩn về khả năng chịu đựng của VĐV
8
Bốn tiêu chuẩn trên thể hiện bốn mặt khác nhau của việc đánh giá tổng
hợp năng lực thể thao.
Theo quan điểm của Lê Văn Lẫm thì: Trình độ tập luyện của VĐV là kết
quả tổng hợp của việc giải quyết các nhiệm vụ trong thực tiễn huấn luyện thể
thao. Trình độ tập luyện thể hiện ở mức độ nâng cao chức phận cơ thể năng lực
hoạt động chung và chuyên môn của VĐV ở mức độ hoàn thiện các kỹ năng, kỹ
xảo thể thao phù hợp.
Tác giả Phạm Danh Tốn cho rằng: Trình độ đào tạo là nhằm chỉ tất cả các
mặt đào tạo để làm cho VĐV có thể đạt đợc những thành tích thể thao kế tiếp
nhau. Trình độ đào tạo bao gồm: Trình độ đào tạo về thể lực, kỹ chiến thuật, tâm
lý và cả lý luận nhất định của VĐV.
Trình độ (năng lực) thể thao thể hiện trong tập luyện và thi đấu của VĐV.
Nó là cấu trúc tổng hợp về thể năng, kỹ năng, trí năng Trình độ (năng lực) về
chiến thuật liên quan chặt chẽ tới cả 4 thành phần trên. Sự hình thành những
năng lực trên chủ yếu qua huấn luyện. Nhờ huấn luyện mà VĐV có đợc và nâng
dần trình độ thích ứng mới ngày càng cao hơn trong giai đoạn phát triển hoặc
duy trì hay hạn chế sự suy giảm trong giai đoạn VĐV đã có thâm niên thể thao
tơng đối cao. Ngời ta gi đó là trình độ tập luyện của VĐV. Cũng theo cỏc tác
giả mỗi môn thể thao đều có đặc điểm riêng nên yêu cầu, đặc trng của trình độ
tập luyện cũng có khác nhau.
Theo quan điểm của Nguyễn Danh Thái: Trình độ tập luyện của VĐV là
trình độ điêu luyện về kỹ chiến thuật mức phát triển về tố chất thể lực và sự vững

Theo khái niệm về cấu trúc nhiều thành phần của trình độ tập luyện, thì
thành tích thể thao đợc xác nhận bằng cả một loạt các yếu tố và có thể cho phép
chúng vào một số nhóm. Chính vì vậy, có thể nghiên cứu trình độ tập luyện theo
các khía cạnh khác nhau: S phạm, tõm lý, y học, xã hội.
Thuộc về khía cạnh s phạm của trình độ tập luyện có trình độ kỹ thuật và
chiến thuật của VĐV. Song, ý nghĩa kỹ thuật hay chiến thuật trong các môn thể
thao khác nhau lại không đồng nhất. Ví dụ nh: Cùng với các yếu tố khác, thì yếu
tố kỹ thuật trong môn Quyền Anh và trong các môn búng chiếm vị trí hàng đầu,
trong khi đó ở môn chạy cự ly dài kỹ thuật lại có ý nghĩa nhỏ hơn là khả năng
chức phận của cơ thể.
Về khía cạnh tâm lý của trình độ tập luyện cần kể đến các trạng thái tâm lý,
các phẩm chất ý trí và đạo đức của VĐV. Khó mà đánh giá quá cao vai trò của
trạng thái tâm lý trong thể thao. Khả năng tập trung chú ý khi bắt buộc phải tiếp
tục cuộc thi đấu trong những điều kiện khó khăn thể hiện rõ đối với các VĐV
của hầu hết các môn thể thao. Song trong từng môn thể thao, vai trò của trạng
thái tâm lý của VĐV có khác nhau.
Về khía cạnh y học của trình độ tập luyện ngời ta xem xét đến các chỉ số
hình thái sinh lý của cơ thể và trạng thái sức khoẻ. Rất rõ là, sức khoẻ tốt và khả
năng chức phận cao của cơ thể là cần thiết để đạt đợc những thành tích xuất sắc
trong thể thao.
10
Khía cạnh xã hội của trình độ tập luyện xác nhận vị trí của thể thao và của
VĐV trong xã hội, nó thể hiện ở điều kiện sống của VĐV, động cơ và về những
tính chất khác nhau của tính cách.
Theo quan điểm lý luận đã đợc thừa nhận, ngời ta phân biệt trình độ tập
luyện chuyên môn. Trình độ tập luyện chuyên môn ở VĐV đợc xác nhận bằng
mức độ thích ứng của cơ thể đối với những yêu cầu riêng biệt của môn thể thao
lựa chọn, còn trình độ tập luyện chung đợc xác nhận bằng mức độ thích ứng đối
với một phức hợp các hình thức hoạt động khác nhau. Các chỉ số về trình độ tập
luyện chung của VĐV có thể biểu thị một cách độc lập với hình thức hoạt động

thờng xuyên theo dõi tình trạng và động thái của trình độ tập luyện của VĐV,
kịp thời điều chỉnh quá trình giảng dạy, huấn luyện.
Vấn đề đánh giá trình độ tập luyện của VĐV cần đựơc giải quyết một cách
đồng bộ bằng các phơng pháp nghiên cứu s phạm, y sinh và tâm lý.
- Các phơng pháp s phạm cho phép đánh giá mức độ phát triển của các tố
chất vận động, năng lực phối hợp và trình độ kỹ thuật của thể thao của VĐV trẻ,
đợc sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của các phơng tiện, phơng pháp
huấn luyện để xác nhận động thái của trạng thái sung sức thể thao và dự báo các
thành tích. Nhiệm vụ của kiểm tra s phạm là: Thống kê lợng vận động tập luyện
và thi đấu, xác nhận các mặt khác nhau của trình độ huấn luyện của các VĐV,
xác nhận các khả năng để đạt đợc thành tích thể thao, dự kiến, đánh giá hành vi
của VĐV trong các cuộc thi đấu. Các phơng pháp chủ yếu của kiểm tra s phạm
là quan sát s phạm và các thử nghiệm kiểm tra (lập test) về những mặt khác nhau
của trình độ tập luyện của các VĐV.
- Các phơng pháp tâm lý xác nhận đợc những đặc điểm tâm lý của VĐV có
ảnh hởng đến việc thực hiện những nhiệm vụ của cá nhân hoặc tập thể trong tập
luyện và thi đu thể thao. Ngoài ra còn đánh giá trình độ phối hợp ăn ý giữa các
VĐV trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của đội thể thao.
Trong quá trình huấn luyện thể thao cần đặc biệt chú ý đến các loại hình
kiểm tra trạng thái VĐV, kiểm tra quá trình giảng dạy, huấn luyện, trên phơng
diện quản lý bao gồm 3 giai đoạn: Thu thập thông tin và ra quyết định (lập kế
hoạch).
- Thu thập thông tin đợc thực hiện nhờ kiểm tra tổng hợp qua hoạt động thi
đấu, lợng vận động và trạng thái VĐV.
Theo tác giả Dơng Nghiệp Chí, trạng thái vận động đợc chia làm 3 loại
hình, phụ thuộc vào thời gian giãn cách cần thiết để chuyển từ trạng thái này
sang trạng thái khác. Các loại hình kiểm tra trạng thái VĐV bao gồm:
- Kiểm tra giai đoạn: Với mục đích đánh giá trạng thái giai đoạn của VĐV.
Trạng thái giai đoạn là trạng thái duy trì tơng đối lâu (các tuần hoặc các tháng).
Đặc tính tổng hợp của trạng thái giai đoạn ở VĐV phản ánh khả năng đạt thành

vận dụng phù hợp với đặc điểm của VĐV, coi nh tiêu chuẩn riêng. Trong những
trờng hợp tránh chấn thơng do phải thực hiện nhiều bài tập kiểm tra với cờng độ
tối đa trong năm, có thể chọn một số test đánh giá nhiệm vụ chính của giai đoạn
huấn luyện.
+ Kiểm tra thờng xuyên: Kiểm tra thờng xuyên cần đợc tiến hành vào sáng
sớm sau giấc ngủ, hoặc trớc buổi tập. Căn cứ vào kết quả kiểm tra để điều chỉnh
giáo án buổi tập. Tính thông báo của Test Kiểm tra thờng xuyên đợc xác nhận
nhờ sự biến động hàng ngày của chúng đối với các chỉ số sau: Kết quả của nhóm
test và tính chất của lợng vận động huấn luyện đã đợc thực hiện. Trong trờng hợp
thứ nhất, ngời ta ghi lại hàng ngày kết quả của một số test. Nếu sự biến động của
các test ấy qua một số ngày đều theo một hớng, chúng ta có thể chọn lựa một
13
trong số những test ấy để kiểm tra thờng xuyên. Trong trờng hợp thứ hai, ngời ta
so sánh sự biến động kết quả của test với chỉ số của lợng vận động. Những test
có tính thông báo lớn nhất, nếu kết quả của nó biến đổi lớn nhất sau khi thực
hiện nhiệm vụ huấn luyện.
+ Kiểm tra tức thời: Đặc tính chuyên môn khi lập test đòi hỏi nghiêm ngặt
đối với các test kiểm tra tức thời. Ngay sau khi thực hiện bài tập, quá trình hồi
phục trong cơ thể đợc bắt đầu, cn nhanh chóng xác nhận các chỉ tiêu về trạng
thái tức thời. Do vậy kỹ thuật kiểm tra trạng thái tức thời đợc phát triển theo cơ
bản là ghi chép các số liệu liên quan trong thời gian thực hiện bài tập.
Tính thông báo của test kiểm tra tức thời đợc xác nhận bằng mức độ đáp
ứng nhạy bén với lợng vận động thực hiện. Do vậy những chỉ số hình thái học,
các nhiệm vụ vận động nh bật cao, chạy là không thích hợp. Những chỉ số về
sinh hoá, sinh lý phản ánh các chức năng cơ thể khi thực hiện bài tập phù hợp
hơn.
Độ tin cậy của các test kiểm tra tức thời phụ thuộc trớc tiên vào độ chính
xác cảm thụ về trị số phơng hớng của lợng vận động trong các lần lặp lại. Sự lựa
chọn các test kiểm tra tức thời dựa trên cơ sở nghiên cứu sự phụ thuộc liều l-
ợng, hiệu quả. Liều lợng tác động là trị số nhiệm vụ huấn luyện đợc thực hiện,

ngun ti liu, ti ó xỏc nh v la chn c h thng cỏc test ỏnh giỏ
trỡnh th lc chuyờn mụn cho i tng nghiờn cu.
Tuy tham kho nhiu ngun d liu khỏc nhau, nhng ch yu vn l cỏc
ti liu thuc v th vin trng i hc TDTT Bc Ninh v cỏc t liu cỏ nhõn
thu thp c.
2.1.2. Phơng pháp phỏng vấn
Thông qua phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp, phơng pháp này đợc sử dụng
trong quá trình nghiên cứu nhằm tìm hiểu, thu thập các t liệu và thông tin cần
thiết trong thực tiễn về phơng pháp nghiên cứu, sử dụng các test vào quá trình
kiểm tra đợc chính xác tránh đợc tính chủ quan khi nghiên cứu đề tài.
i tng phng vn ca ti l cỏc HLV,giỏo viờn, chuyờn gia, cỏc nh
qun lý chuyờn mụn bi li trong c nc Nhng vn m ti quan tõm
khi s dng phng phỏp ny l: H thng cỏc test tiờu chun s dng kim
tra v ỏnh giỏ th lc chuyờn mụn cho nam VV bi la tui 13-14.
õy l nhng cn c khoa hc la chn cỏc test dnh giỏ th lc chuyờn
mụn cho nam VV bi la tui 13-14 tnh H Nam. Kt qu phng vn c
trỡnh by ti chng 3 ca ti.
2.1.3. Phơng pháp quan sát s phạm
ti s dng phng phỏp quan sỏt s phm thu thp nhng thụng tin
cn thit t i tng nghiờn cu, phỏt hin cỏc vn nghiờn cu liờn quan n
ti, ỏnh giỏ c thc trng c s dng cỏc test ỏnh giỏ th lc chuyờn
mụn cho nam VV bi cỏc n v m cỏc HLV thng s dng. T ú thng
kờ v la chn test ỏnh giỏ th lc chuyờn mụn cho nam VV la tui 13-14
tnh H Nam.
2.1.4. Phng phỏp kim tra s phm
m bo tớnh khỏch quan, khoa hc khõu kim tra ỏnh giỏ th lc
chuyờn mụn cho nam VV bi la tui 13-14, ti tin hnh xỏc nh tin
cy v tớnh thụng bỏo ca cỏc test ỏnh giỏ th lc chuyờn mụn cho nam VV
16
bơi lứa tuổi 13-14, đồng thời xây dựng tiêu chuẩn đánh giá cho những test đảm

- Cỏch thc hin: Ngi thc hin t th xut phỏt cao, sau khi nghe lnh
xut phỏt thỡ nhanh chúng ri khi vch xut phỏt v chy nhanh v ớch. Kt
qu c tớnh bng giõy.
7. Bi tc 25m (s)
- Mc ớch: Kim tra sc nhanh ca VV
- Cỏch thc hin: Ngi thc hin ng trờn bc t th xut phỏt, khi cú
hiờ lnh ngi thc hin bi c ly 25m vi tc ti a. Kt qu c tớnh
bng giõy.
8. Bi tc 50m (s)
- Mc ớch: Kim tra sc nhanh ca VV
- Cỏch thc hin: Ngi thc hin ng trờn bc t th xut phỏt, khi cú
hiờ lnh ngi thc hin bi c ly 50m vi tc ti a. Kt qu c tớnh
bng giõy.
9. Bi chõn vt 50m kiu bi trn sp (s)
- Mc ớch: Kim tra sc nhanh ca VV
- Dng c: Chõn vt
- Cỏch thc hin: Ngi thc hin ng trờn bc t th xut phỏt, khi cú
hiờ lnh ngi thc hin bi vi tc ti a v ớch. Kt qu c tớnh bng
giõy.
2.1.5. Phơng pháp toán học thống kê
Phơng pháp này đợc sử dụng nhằm phân tích và sử lý các số liệu thu thập đ-
ợc trong quá trình nghiên cứu của đề tài, thông qua các công thức toán học thống
kê. Ngoài ra còn sử dụng phơng pháp phân tích dữ liệu trong Phân tích dữ liệu
khoa học bằng phơng trình Exel và SPSS 9.0.
Cỏc cụng thc c s dng tớnh toỏn nh sau :
- S trung bỡnh cng:
18
x
=
n

=
Với
2
)()(
22
2
+
+
=

BA
BA
nn
xxxx

Trong ú:
A
x
: S trung bỡnh cng ca nhúm 1
B
x
: S trung bỡnh cng ca nhúm 2
- Hệ số tơng quan cặp (r) của Brave-Pison
r
=






- Thang điểm C (thang điểm 10)
C=5+2z với z=

xx
i

Trong đó: x
i
: Là giá trị cần tìm ứng với điểm từ 1-10 của C
x
: Là giá trị trung bình của tập hợp

: Là độ lệch chuẩn
2.2. Tổ chức nghiên cứu
2.2.1. Thời gian nghiên cứu: Đề tài đợc tiến hành nghiên cứu từ tháng
12/2010 đến tháng 05/2011 và đợc chia làm 3 giai đoạn:
19
- Giai đoạn 1: Từ tháng 12/2010 đến tháng 01/2011: Xác định vấn đề
nghiên cứu, thu thập tài liệu có liên quan, lập đề cơng và bảo vệ đề cơng.
- Giai đoạn 2: Từ tháng 02/2011 đến tháng 02/2011: Hoàn thành phần tổng
quan và những cơ sở lý luận của đề tài, giải quyết mc tiờu 1 và 2.
- Giai đoạn 3: Từ tháng 03/2011 đến tháng 06/2011: Xử lý số liệu nghiên
cứu, hoàn thành đề tài, bảo vệ kết quả nghiên cứu.
2.2.2 i tng nghiờn cu
i tng nghiờn cu ca ti l tiờu chun ỏnh giỏ th lc chuyờn mụn
cho nam VV la tui 13-14 tnh H Nam.
* Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực
chuyên môn của nam VĐV bơi lội lứa tuổi 13-14 tnh Hà Nam
* Phm vi nghiờn cu:

14 tuổi.
- Trong giáo dục 13-14 tuổi, sự khác biệt tố chât thể lực giữa nam và nữ
không lớn. Riêng về tố chất sức mạnh, do sức mạnh chân và tay có tương quan
tới trọng lượng cơ tích cực nên nữ có sức mạnh chân tương tự nhưng sức mạnh
thân trên thì thấp hơn nhiều so với nam.
21
Tư tưởng chỉ đạo phương pháp huấn luyện theo nhóm tuổi của các cường
quốc Bơi lội trên thế giới đều rất coi trọng huấn luyện kỹ thuật cơ bản trong giai
đoạn huấn luyện ban đầu. Sức bền là cơ sở, cường độ hạt nhân, sức mạnh là mấu
chốt được biểu hiện bằng kỹ thuật.
Thành tích thể thao là một trong những yếu tố cơ bản của mức độ thích ứng
tập luyện. Thành tích thể thao và sự phát triển của nó trong quá trình huấn luyện
nhiều năm là một chỉ số tổng hợp nhằm đánh giá về thể lực, kỹ thuật, tinh thần,
ý chí và các mặt khác của VĐV Bơi.
Các cự ly bơi để xác định thành tích của VĐV lứa tuổi 13-14 là: Đánh giá
khả năng bơi toàn diện của VĐV với cự ly 400m hỗn hợp.
Vì thành tích ở lứa tuổi nhỏ phụ thuộc nhiều vào thâm niên tập luyện,
những em có thâm niên tập luyện khác nhau sẽ có thành tích khác nhau. Vì vậy,
trong quá trình đánh giá thể lực chuyên môn cần chú ý đến thâm niên tập luyện
của đối tượng nghiên cứu. Ảnh hưởng của tập luyện đến thành tích bơi có sự
phụ thuộc chăt chẽ giữa thành tích và lượng vận động tương ứng. Vì vậy, vấn đề
thống kê các thông số tập luyện chung là cần thiết để thấy rõ mối quan hệ phụ
thuộc của chúng với thành tích của VĐV.
Tóm lại: Qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận của việc lựa chọn các test và
đặc điểm một số yếu tố chuyên môn trong huấn luyện VĐV Bơi lội, chúng tôi đã
xác lập được những cơ sở cho việc lựa chọn các test và xây dựng một hệ thống
các tiêu chuẩn đánh giá thể lực chuyên môn cho nam VĐV Bơi lội lứa tuổi
13-14.
3.1.2. Cơ sở thực tiễn lựa chọn các test đánh giá thể lực chuyên môn của
VĐV Bơi lội lứa tuổi 13-14 tỉnh Hà Nam

11 Bơi chân vịt 50m kiểu bơi bướm (s) 7 77.8 2 22.2
12 Bơi chân vịt 50m kiểu bơi trườn sấp (s) 9 100 0 0
Từ kết quả bảng 3.1 cho thấy có 1 test có số phiếu tán thành dưới 50%, các
test còn lại có số phiếu tán thành từ 70% trở lên. Do vậy đề tài sử dụng 11 test
vào các bước nghiên cứu tiếp theo của đề tài:
Test nhóm chi trên:
- Nằm sấp chống đẩy tối đa (số lần)
- Kéo dây cao su (60s)
Test nhóm chi dưới:
- Bật cóc 30m (s)
23
- Gánh tạ 30kg ngồi xuống đứng lên 1phút (số lần)
Test lưng bụng và thể lực chuyên môn:
- Nằm ngửa gập bụng 60 s (số lần)
- Ke chân thang gióng 60 s ( số lần )
- Chạy 800 m (s)
- Bơi tốc độ 25m (s)
- Bơi tốc độ 50m (s)
- Bơi chân vịt 50m kiểu bơi bướm (s)
- Bơi chân vịt 50m kiểu bơi trườn sấp (s)
Để lựa chọn một cách khoa học, khách quan và chính xác các test đánh giá
thể lực chuyên môn cho nam VĐV bơi lứa tuổi 13-14 từ 11 test đánh giá thể lực
chuyên môn đề tài tiến hành phỏng vấn HLV, giáo viên bơi lội đang giảng dạy
môn bơi lội bằng phiếu phỏng vấn. Số phiếu phát ra 21, số phiếu thu về 18. Kết
quả được trình bày tại bảng 3.2.
24
Bảng 3.2. Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá thể lực chuyên môn cho nam VĐV bơi lội
lứa tuổi 13-14 tỉnh Hà Nam (n=18)
TT Nội dung phỏng vấn
Rất quan trọng Quan trọng Không quan trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status