Tài liệu Kỹ thuật nuôi cá bống tượng - Pdf 30


KỸ THUẬT NUÔI CÁ BỐNG TƯỢNG
(Oxyeleotris marmoratus Bleeker)
Ts. Dương Nhựt Long
Bộ môn Kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ
I. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI PHÂN LOẠI VÀ PHÂN BỐ
1. Đặc điểm hình thái cấu tạo và phân loại
Lớp Osteichthyes
Lớp phụ Artinopterygii
Bộ Perciformes
Họ Eleotridae
Loài: Oxyeleotris marmoratus Bleeker.
Các vi và tia vi
Tia vi A I,9 (vi hậu môn)
Tia vi ID VI (vi lưng)
Tia vi IID I,9-10 (vi lưng)
Tia vi P 17-19 (vi ngực)
Tia vi V I,5 (vi bụng)
Hình 1: Hình dạng bên ngoài của cá Bống tượng
2. Đặc điểm về hình thái
Cá Bống tượng là loài có kích thước lớn nhất trong các loài thuộc họ cá bống. Thịt cá thơm ngon, ít xương và có giá trị kinh tế
cao. Cá có thân hình khỏe, dẹp bên về phía sau, đầu rộng và dẹp, mõm bằng. Miệng hướng lên trên chẻ rộng và sâu, môi dưới lồi.
Cá có mắt rộng nằm ở lưng bên. Vẩy cá rất nhỏ, vây lưng có hai phần, vây ngực rất phát triển và nằm cao, vây bụng cũng rất phát
triển và nằm ở mặt dưới của thân và trước vây ngực, vây đuôi dài và tròn. Lúc tươi, thân cá có màu nâu đến màu gạch, đỉnh đầu
đen. Mặt bụng nhạt, lưng và hai bên có chấm đen, các vảy có màu nâu nhạt và các chấm đen không đều. (Nguyễn Anh Tuấn,
1994).
3. Phân bố
Cá Bống tượng là loài đặc trưng cho vùng nhiệt đới. Chúng phân bố rộng rãi các nước thuộc Đông Nam Châu Á như Campuchia,
Lào, Thái lan, Indonesia, Malaysia và Việt nam. Ở Việt nam, cá được tìm thấy ở các lưu vực thuộc hệ thống sông Cửu Long, sông
Vàm cỏ và sông Đồng nai (Nguyễn Mạnh Hùng, 1995).
Cá Bống tượng có tập tính sống đáy, hoạt động nhiều về đêm, ban ngày thường vùi mình xuống bùn, đặc biệt khi gặp nguy hiểm

động bắt mồi mà chỉ rình mồi. Ngoài ra khi nuôi trong lồng, ao cá ăn được các thức ăn chế biến.
So với các loài cá khác, cá Bống tượng có độ tăng trưởng chậm, đặc biệt là ở giai đoạn dưới 100g, từ 100g trở lên tốc độ tăng
trưởng của cá khá hơn. Ở giai đoạn từ cá bột đến cá giống, cá phải mất thời gian là 2-3 tháng mới đạt được chiều dài khoảng 3-4
cm. Từ cá giống, để có thể đạt được kích cỡ 100 g/con cho việc nuôi bè, cá cần 4-5 tháng nữa. Trong tự nhiên, những cá con còn
sống sót sau khi nở phải cần khoảng 1 năm để có thể đạt cỡ 100-300 g/con. Để có được cá thương phẩm tờ 400 g/con trở lên, cá
giống có trọng lượng 100 g/con cần thời gian nuôi trong từ 5 - 8 tháng, nuôi trong bè từ 5-6 tháng (Nguyễn Mạnh Hùng, 1995).
Cá bống tượng thành thục sinh dục trên dưới một năm. Mùa vụ sinh sản tự nhiên của cá từ tháng 4-11, tập trung từ 5-8. Khi đến
mùa sinh sản, cá cái tìm cá đực bắt cặp và tiến hành sinh sản. Cá đẻ trứng dính và tập hợp trứng lại tạo thành hình tròn bám vào
giá thể. Ngoài tụ nhiên, cá đẻ trứng dính vào các hang, hốc đá, rể cây và các vật thể khác dưới nước. Sau khi đẻ, cá đực canh tổ
và tham gia ấp cùng cá cái, cá cái bơi quanh ổ trứng và dùng đuôi quạt nước tạo thành dòng chảy lưu thông để cung cấp oxygen
cho trứng phát triển và nở thành cá con.
Sức sinh sản của cá bống tượng khá cao 100.000-200.000 trứng/kg cá cái. Tuy sức sinh sản cao nhưng trong điều kiện tự nhiên có
nhiều địch hại nên cá bị hao hụt nhiều.
III. KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG CÁ BỐNG TƯỢNG
Trong vài năm gần đây, phong trào nuôi cá bống tượng phát triển mạnh nhưng phần lớn con giống đều bắt từ tự nhiên. Một số nơi
đã cho sinh sản và ương nuôi thành công góp phần cung cấp cá giống cho người nuôi. Qui trình nuôi vổ cá bố mẹ được thực hiện
như sau:
1. Chuẩn bị ao nuôi vỗ cá bố mẹ
Ao nuôi cá bố mẹ có diện tích dao động từ 500–1000 m
2
. Ao có dạng hình chữ nhật, chiều dài gấp 3-4 lần chiều ngang, độ sâu của
ao từ 1,2-1,5m. Ao phải có nguồn cấp, thoát nước chủ động. Nguồn nước phải trong sạch, không bị ô nhiễm. Đất không bị nhiễm
phèn, nhiễm mặn. Trước khi thả cá, ao phải được tát cạn, tẩy dọn sạch sẽ, vét hết bùn đáy, lấp và trét hết các hang hốc, lổ cua, lổ
mọi, lổ chuột đào, đắp lại chổ sạt lở, trang bằng đáy. Nếu ao không tát cạn được thì tiến hành thuốc cá bằng rễ dây thuốc cá với
liều lượng 0,5 kg/100 m
2
. Sau đó tiến hành bón vôi với liều lượng 7-10 kg/100m
2
, ở những vùng bị nhiễm phèn lượng vôi có thể
tăng lên gấp đôi. Sau khi bón vôi nên tiến hành phơi đáy ao 2-3 ngày trước khi thả cá.

Mật độ nuôi vỗ. Mật độ nuôi chung cá bố mẹ trong một ao là 0,2-0,3 kg/m
2
, nếu nuôi riêng đực là 0,5 kg/m
2
và cái là 0,2
kg/m
2
.
Chế độ nuôi vỗ. Nuôi vỗ cá bống tượng bằng các loại thức ăn như: cá vụn, tép, ốc, cua... Mỗi ngày cho ăn 2 lần vào buổi
sáng hay buổi chiều. Lượng thức ăn chiếm 3–5 % trọng lượng cơ thể. Thức ăn nên được đặt trong máng hoặc sàng và đặt
nơi cố định trong ao. Hàng ngày nên kiểm tra sàn ăn, nếu thừa thì loại bỏ thức ăn, còn nếu thiếu thì bổ sung thêm thức ăn
(Trần Mạnh Hùng, 1995). Một nghiên cứu khác của Panu Tavatmaneekul (1989) ở Thái lan thì lượng thức ăn nuôi vỗ hàng
ngày chiếm 5–10 % trọng lượng thân. Trong gian đoạn đầu, tỉ lệ các thành phần thức ăn trong hỗn hợp là: cá tạp 95 %, cám
4 % và 1 % vitamin, khoáng.
Bảng 2: Ảnh hưởng của thức ăn nuôi vỗ lên sự thành thục cá bống tượng (Ngô Bá Thành và ctv, 1988)

Lô thí nghiệm Thức ăn nuôi vỗ Số cá thí nghiệm Số lần thành thục Tỉ lệ thành thục
I Giun đất 15 45 300%
II Cá, tép sống 13 35 269%
III Cá, tép chết 12 29 242%
Các thức ăn có nguồn gốc động vật đều cho kết quả thành thục tốt, điều này phù hợp với tính ăn của cá trong tự nhiên. Cá bống
tượng là loài đẻ nhiều lần trong năm, thời gian tái phát dục 3-4 lần/năm.
3. Sinh sản
Vật liệu cho đẻ. Cá bống tượng là loài đẻ trứng dính và có tập tính đẻ ở tầng đáy. Vì vậy khi cho cá đẻ ta cần chuẩn bị tốt các giá
thể. Giá thể thường là mê bồ hay gạch tàu. Nhược điểm của mê bồ là để lâu gây thối nước ảnh hưởng đến trứng cá. Hiện nay giá
thể thường sử dụng phổ biến là gạch tàu. Trước khi đặt giá thể cần phải rửa sạch và đặt nghiêng một góc 45
o
hay song song với
đáy và cách đáy 20-30 cm.
Kích thích sinh sản. Hiện nay, người ta thường cho cá bống tượng sinh sản theo 3 dạng cơ bản sau:

Ngày thứ III cá bắt đầu bơi ngang một đoạn ngắn, tim và mao quản thấy có màu hồng đỏ. Mắt có sắc tố.
Ngày thứ IV chiều dài cá 3-3,2 mm. Cá bắt đầu mở miệng hớp mồi, thấy xuất biện những mấu răng bên trong hàm, một vài
sắc tố xuất hiện trên đuôi cá bột.
Ngày thứ V vi ngực bắt đầu hơi nhú noãn hoàng tiêu hết.
Ngày thứ VI chiều dài cá 3,2-3,6 mm. Cá bơi lưng chừng mặt nước, miệng mở rộng.
Ngày thứ VII. Cá chết nhiều nếu không có thức ăn thích hợp.
Ngày thứ VIII. chiều dài 3,9-4,2 mm. Đốt sống cuối cùng cong ngược lên phía lưng.
Ngày thứ X. chiều dài 5-7mm. Các vi hình thành với đầy đủ các tia vi, sắc tố đen xuất hiện ngang hông với các vi hậu môn.
Cá bơi nhanh nhẹn.
Ngày thứ XX. Cá có chiều dài 10-11 mm. Cá hình thành đầy đủ các cơ quan và có hình dáng như cá trưởng thành. Cá có tập
tính nằm sát đáy, ít di chuyển.
2. Ương nuôi cá bột
Có hai cách ương cá bột bống tượng là ương trong ao đất và uơng trong bể xi măng.
a. Ương trong ao đất
Ao ương:
Ao ương có thể là ao tự nhiên sẳn có, nếu đào mới, ao nên có hình chử nhật, xuôi chiều gió, chiều dài bằng 2-3 lần chiều
rộng.
Diện tích ao dao động 250-1000 m
2
, tốt nhất 400-500 m
2
.
Ao phải sâu để giử mức nước trong thời gian ương 0,6-0,8m và mặt bờ cao hơn mực nước lũ tối đa là 0,4m.
Ao nghiêng về cống thoát để thu hoạch được dễ dàng.
Chuẩn bị ao ương:
Tát cạn ao ương, nếu không cạn thì tiến hành thuốc cá bằng rễ dây thuốc cá với lượng 0,5 kg/100m
2
ao có mực nước sâu
20-30 cm.
Sên vét lớp bùn đáy ao, bùn đáy ao không quá 5 cm.

Sau 10 ngày ương, cá có thể ăn được các loại sinh vật thức ăn có kích thước thấy được bằng mắt thường như giáp xác chân
chèo, giáp xác râu ngành. Trong giai đoạn này, cá được cho ăn thêm Moina và lòng đỏ trứng trộn với đậu nành số lượng giảm đi
một nữa. Khi cá được 15 ngày tuổi thì không cần cung cấp trứng và bột đậu nành. Sau 25 ngày cá đã hình thành đầy đủ sắc tố và
bám vào thành bể bằng vi bụng hay nằm ở đáy bể. Sau 30 ngày tuổi cá có thể ăn ấu trùng muổi, giáp xác nhỏ... Sau 60 ngày cá
đạt 3-4 cm thì tiến hành đem nuôi thịt.
IV. KỸ THUẬT NUÔI CÁ THỊT
1. Nuôi trong ao đất
a. Chuẩn bị ao nuôi.
Ngoài các tiêu chuẩn kỹ thuật như ương, nuôi vỗ, ao nuôi cá bống tượng thịt nên chọn thông qua các tiêu chuẩn sau:
Hệ thống nuôi phải gần nguồn cung cấp nước, nước ra vô thường xuyên, điều kiện thay nước cũng được thực hiện dễ dàng.
Độ đục < 80 mg/l.
Chất lượng nước tốt, không bị nhiễm phèn, nhiễm bẩn từ các nguồn nước sinh hoạt, nước thải từ các khu công nghiệp.
Ao nên chọn những nơi có thành phần cơ giới nặng như đất sét, thịt pha sét.
Đối với ao đã nuôi rồi, nên vét hết lớp bùn đáy ao, trước khi thả nuôi tiếp.
Ao ở nơi thoáng mát, gần nhà để tiện chăm sóc và bảo vệ.
Trước khi nuôi nên diệt cá tạp, bón vôi, bón phân gây màu, có thể nói đây là yêu cầu kỹ thuật rất quan trọng trong công nghệ
nuôi cá bống tượng trong ao đất.
b. Chọn và thả giống
Nguồn giống hiện nay ta có thể mua giống từ hai nguồn là các cơ sở sản xuất giống và từ tự nhiên qua các điểm thu gom. Đặc tính
của hai nguồn giống
Giống tự nhiên Giống nhân tạo
Số lượng hạn chế nên thời gian thả kéo dài Cung cấp đủ giống với số lượng lớn một lần
Cá lớn nhưng kích cỡ không đều, cá dễ bị phân đàn Cá nhỏ nhưng kích cỡ đều, cá nuôi ít phân đàn
Cá dễ bị xay xát do đánh bắt Cá ít bị xay xát
Giá rẻ Giá thành cao
Thả giống. Giống thường được vận chuyển vào lúc trời mát, trước khi thả cá vào hệ thống nuôi, cần phải ngâm bao cá trong nước
khỏang 15 phút để tránh cá bị sốc nhiệt do chênh lệch nhiệt độ giữa bao đựng cá và môi trường nước ao nuôi. Mật độ cá thường
là 5-7 con/m
2
. Trong điều kiện chủ động thức ăn, đặc biệt là thức ăn tươi sống cùng khả năng kiểm soát môi trường ao nuôi, người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status